Kinh nghiệm tổ chức hoạt động theo cặp, nhóm có hiệu quả môn Tiếng Anh THCS

Mục tiêu của môn tiếng Anh là nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những kiến thức kỹ năng cơ bản về tiếng Anh và những phẩm chất trí tuệ cần thiết để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động. Vì vậy SGK tiếng Anh THCS mới từ lớp 6 đến lớp 9 đều đ¬ược biên soạn theo cùng một quan điểm xây dựng chương trình, đó là quan điểm chủ điểm ( thematic approach) và đề cao các phương pháp học tập tích cực chủ động của học sinh.

Có thể nói một trong những biểu hiện tích cực, đặc trưng của học sinh trong việc học tập bộ môn ngoại ngữ là học sinh có nhu cầu tiếp thu kiến thức, kĩ năng vận dụng để giao tiếp, biết cách làm việc theo cặp, nhóm hợp tác với bạn khi cần thiết trong quá trình luyện tập nói, viết biết chủ động trình bày những ý định của mình thông qua giao tiếp nói hoặc viết.

Việc tổ chức luyện tập thành cặp không khó mà lại rất cần thiết để đạt được mục tiêu cuối cùng của các chương trình dạy ngoại ngữ là trang bị cho người học khả năng giao tiếp, trao đổi dễ dàng và trôi chảy bằng ngôn ngữ. lợi thế của loại hình bài tập này là việc tạo cho học sinh những cơ hội để luyện nói và giao tiếp gần giống ngoài đời thực.

 

doc30 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 29/07/2015 | Lượt xem: 2123 | Lượt tải: 94Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Kinh nghiệm tổ chức hoạt động theo cặp, nhóm có hiệu quả môn Tiếng Anh THCS", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cực, tiêu cực của một vấn đề nào đó.
Example:
English 9 Unit 5 Lesson 5 Write page 44
Work in groups to write the benefits of the internet.
Luyện hội thoại đóng vai trong các đoạn hội thoại có nhiều hơn hai người tham gia.
Example:
English 6 Unit 14 C1 page 147
Chơi các trò chơI theo đội: Slap the board, lucky number, nought and crosses
III/ Phương pháp tổ chức học sinh hoạt động theo cặp, nhóm có hiệu quả.
Đối với giáo viên- người tổ chức đóng vai trò điều khiển hoạt động cần:
 Chỉ dẫn bài tập hay nêu ra nhiệm vụ cần phảI thật rõ ràng.
Example 1:
Teacher: Work in pairs to practise asking and answering about the time in 2 minute:
S1: What time do you.?
S2: I at .o’clock.
Teacher: point the students in the raws and number the: one- two- one – two Number one hand upok number two hand up Number one asks, number two answers.
Teacher points one student and asks: What is your number? What do you have to do first? And then?
Then change the positions Number two asks, number one answers.
Example 2: Unit 4 lesson 5 Write English 9
Write a letter of inquiry to request for information or action.
Teacher asks students to work in groups of 4- 8 to write. Teacher asks each group to write outline then write a full letter.
Teacher controls 4 groups in the class and go around to help them.
Discuss to write a letter. The secratery writes.
 Trước khi làm việc theo cặp, nhóm giáo viên cần có sự chuẩn bị tốt, có mẫu hoặc ví dụ cho trước, cung cấp đủ ngữ liệu cho bài tập.
The teacher models with one good/ strong student, the whole class listen.
Unit 5 A3 English 6
T: What do you do after school?
S: I read book.
T: Can you ask me?
S: What do you do after school?
T: I play soccer.
Teacher may give some more prompts: watch TV, listen to music, play chess
What do you do after school ?
I ............................................
1.3. Trong quá trình học sinh thực hiện giáo viên cần phải có sự theo dõi, bao quát chung, không ngắt lời khi học sinh đang luyện tập, đi quanh lớp lắng nghe và giúp đỡ hỗ trợ kịp thời khi cần thiết. Giáo viên ghi lại những lỗi sai điển hình để chỉ ra cho học sinh và giúp học sinh sửa sau đó.
1.4. Giáo viên cần quy định thời gian cụ thể cho từng hoạt động.
Example:
Teacher: work in pair practise asking and answering about distance in 2 minutes.
(After teacher gives the requirements and duties to the Ss and does the model on the board)
Teacher: Now, time begins, work in pairs please (after 2 minutes).
Teacher: Now, time is up. Stop asking and answering.
1.5. Giáo viên nên linh động phân cặp, nhóm hợp lý có thể chọn học sinh cùng trình độ để làm việc với nhau tuỳ theo từng ý đồ và tính chất của từng bài tập, mẫu câu. Việc phân nhóm này nên quy định cho học sinh theo thói quen. 
Ví dụ trong việc phân cặp một học sinh có thể hoạt động ở hai đến ba cặp khác nhau và việc quy định này phải được thực hiện ngay từ những buổi đầu và mỗi cặp có quy ước về số hoặc tên riêng của cặp mình.
Example 1:
Phân cặp đối với một số bài tập đơn giản ta thường phân cặp theo hai học sinh ngồi gần nhau (close pairs)
Example 2: Học sinh A là học sinh khá, học sinh D là học sinh khá. Học sinh B là học sinh trung bình, học sinh E là học sinh trung bình. Học sinh C là học sinh yếu, học sinh F là học sinh yếu.
Ta có thể kết hợp các cặp như sau: Mỗi học sinh có thể có ít nhất từ 2 - 3 cặp cho mình để hoạt động. Giáo viên nên quy định những học sinh A, D mang số 1 ; học sinh B, E mang số 2 ; học sinh C, F mang số 3.
Ví dụ này dùng trong các bài tập đơn giản như thay thế hoặc word cues.
1.6. Sau khi học sinh thực hành bài tập theo cặp, nhóm cần có sự kiểm tra, nhận xét, góp ý kiến kịp thời từ bạn mình ở nhóm khác. Chữa lỗi hoặc cung cấp mẫu đúng.
1.7. Khuyến khích học sinh mạnh dạn làm việc theo cặp, nhóm.
2. Học sinh - người thực hiện hoạt động để chủ động lĩnh hội kiến thức qua hình thức hoạt động này cần phải xây dựng thói quen tuân theo một số những quy định cần thiết.
2.1. Cần phải nghe những yêu cầu của bài tập.
- Yêu cầu này thể hiện trong sách giáo khoa là một phần mà phần lớn là hướng dẫn và yêu cầu của giáo viên, người điều khiển hoạt động.
Ví dụ: Có thể yêu cầu về hoạt động, thời gian hoạt động, nhiệm vụ của từng nhóm, cá nhân trong nhóm.
2.2. Cần làm việc tự giác không gây quá ồn ào.
2.3. Cần phải bắt đầu và ngừng ngay hoạt động khi giáo viên yêu cầu.
Không cố hoàn thành phần đang làm dở.
3. Phương pháp tổ chức hoạt động theo cặp, nhóm.
3.1. Hoạt động theo cặp (pair work).
3.1a. Cặp giữa thầy và một trò (teacher and a student).
- Giáo viên có thể gọi những học sinh khá thực hành với mình làm mẫu. Sau đó gọi học sinh yếu hơn làm lại. Những học sinh yếu giáo viên có thể đưa ra những câu hỏi dễ, để kích thích và lôi cuốn toàn bộ học sinh vào hoạt động ai cũng phải suy nghĩ và trả lời.
Example:
T: How do you go to school ?
S1: I go to school by bike.
T: What about you S2 ? How do you go to school ?
S2: I walk to school.
T: What about ...................?
S3: ................................
3.1b. Cặp mở (open pair) giữa hai học sinh không ngồi gần kề nhau.
- Có thể gọi hai học sinh đóng vai nhân vật trong bài hội thoại (1 học sinh bên trái, 1 học sinh bên phải ....)
- Có thể gọi một học sinh đặt câu hỏi và cho phép em đó chỉ định người trả lời.
3.1c. Cặp đóng (close pair ) giữa hai học sinh ngồi kề nhau.
- Với hình thức này giáo viên phải đánh số học sinh theo hàng dọc hoặc theo hàng ngang, quy nhiệm vụ của từng học sinh trong cặp – hỏi trả lời và ngược lại hoặc vai A - vai B và ngược lại đổi vai.
- Sau khi giáo viên chủ động điều khiển, giáo viên nên gọi một vài cặp nói trước lớp những gì họ đã hoàn thành.
Ví dụ: Các bước thực hiện - điều khiển một hoạt động theo cặp:
Example: The steps of controlling a pair work.
Exercise: Likes and dislikes.
Pair work: Ask what your friend likes and doesn’t like.
Ask about: food, sport, music, school subjects.
* 1st step.
- Teacher introduces the exercise and show what questions and answers that students can give.
Teacher: Now, you are going to talk about things you like and things you don’t like. Look at exercise.
What question can you ask? What about food?
Ss: What food do you like?
T: Good, what answer could you give?
Ss: I like chocolate.
 I like eating fruit.
 I like rice ( and so on )
- Teacher writes the basic question the board
“ What (food) do you like?
 *2nd sted.
- Ask a few students round the class to show the kind of conversation stuents might have.
Teacher: What kind of music do you like?
Students 1?
Students 1: I like pop music.
Teacher: pop music – which singer do you like best? If you like, ask 2 Students to have similar conversation while the others listen.
*3nd step:
- Divide the class into pairs.
Teacher: Now, you are going to work in pair in 3 minutes.
+ Ask and answer the question, number 1 answers 1 asks number 2 answers then change number 2 asks, number 1 answers. If there is a group of three one asks all questions then change round turn.
*4th step:
- Students work in pairs. Teacher goes more quickly round the class, checking that everyone is taking but do not try to correct mistakes. It will be better for the teacher to silently take ansew note mistakes.
*5th step:
- When most pairs finished, stop the activities call one by one pair.
*6th step:
- Teacher remarks the activity.
- Ví dụ: Các bước tổ chức một hoạt động nhóm:
Example:
English 7: UNIT 5 – Work and play
A: Read then answer the question
 Work in groups of 4 discuss to predict T/F statements True/ False statements.
Ba’s favorite subject is Electronics.
He is not good at fixing things.
In his free time, he learns to play the guitar.
He is not goods at drawing.
He can help his parent at home.
*1st step:
- T introduces the requirements and asks students what they have to do.
 Teacher: Now, you are going to guess which are true, which are false abuot Ba. Look at the satements? Who do the statements say?
Read about? S1 the 1st sentence?
S1:..
Teacher: good, S2 the next, please?
S2:..
*2nd step:
- T asks some students again what have to do.
- Teacher: Do you have to guess or to find out in the text?
S3: guess.
*3rd step:
- Divide the class into groups.
- Teacher: Now you are going to work in groups of 5 in 2 minutes( name groups of their by pointing) on the left row: 1st line is 2nd one is A2, 3rd is A3, 
4th is A4, and on the right, similar group B1, B2 ,B3, B4.
 Teacher gives the header of each group a sheet of the statements.
Ready? Now discuss in your group and leader or secretary tick down.
*4th step: Sts work in groups, T. goes round to check .
*5th step: When most groups finish, stop discussing ( Teacher asks about 2 or 3 groups to read out their predictions).
Teacher: Now group A1, your secretary please read out your predictions.
S1:.
Teacher: Group B2, your.
S2:.
Do the same with group to compare these to your and whose are correct read the text and find out the keys.
*6h step: T. gives feed back.
IV- ưu điểm và hạn chế của hoạt động cặp, nhóm
1.ưu điểm:
1.1 Ngôn ngữ được thực hành nhiều: Thực hành nhóm, cặp tạo cho học sinh cơ hội nói Tiếng anh nhiều hơn và số lượng học sinh nói cùng một lúc nhiều.
1.2 Học sinh tập trung nhiều hơn vào nhiệm vụ của họ.
1.3 Học sinh nhận thấy yên tâm hơn so với làm việc cá nhân đặc biệt với những học sinh nhút nhát.
1.4 Khuyến khích học sinh có thể giúp đỡ nhau, và chia sẻ ý tưởng và hiểu biết. Trong hoạt động đọc, học sinh có thể giúp nhau tìm hiểu nghĩa của bài khóa. Trong hoạt động thảo luận, học sinh có thể cùng nhau đưa ra nhiều ý tưởng mới. học sinh còn có thể chữa lỗi cho nhau.
1.5 Học sinh cùng nhau hoàn thành công việc và sử dụng ngôn ngữ sáng tạo hơn.
2. Hạn chế và cách khắc phục.
2.1 Tiếng ồn, thời gian: Thông thường làm việc theo cặp, nhóm gây ra tiếng ồn nhưng chính học sinh lại không quan tâm đến vấn đề này. Tiếng ồn này là tiếng ồn có ích nó khuyến khích học sinh thực hành nói Tiếng Anh, thực hiện nhiệm vụ. Thực hành nhóm, cặp có thể mất thời gian hơn. Do vậy giáo viên cần nhanh nhẹn trong các thao tác để tiết kiệm tối đa thời gian cho một tiết dạy. Giáo viên là người đóng vai trò hướng dẫn học sinh trong hoạt động học cho nên cần tránh hình thức chiếu lệ.
2.2 học sinh mắc lỗi trong quá trình thực hiện nhóm, cặp bởi vì giáo viên không thể kiểm soát tất cả lời nói được sử dụng. Để hạn chế những lỗi này giáo viên cần:
+ Có sự chuẩn bị chu đáo, sử dụng đồ dùng thiết bị ( picure cue, word cue, posters) Nên tận dụng tối đa đồ dùng ở từng cặp, nhóm. Để thêm sinh động, dễ nhập vai có thể yêu cầu học sinh chuẩn bị tranh, đồ dùng đơn giản, gần gũi cho từng tiết thực hành 
+ Kiểm tra một vài cặp/ nhóm và chữa lỗi nếu cần thiết. Giáo viên hiểu rằng các em là đối tượng trung tâm, cho các em thực hành theo cặp, nhóm để các em giao tiếp với nhau giúp các em thực hành dễ dàng và sửa lỗi cho nhau kịp thời.
2.3 Giáo viên quản lớp khó hơn thông thường. Giáo viên cần:
+ Đưa lời chỉ dẫn rõ ràng: when to start, what to do, and when to stop.
+ Nêu nhiệm vụ trọng tâm rõ ràng.
+ Lên một lộ trình làm việc để học sinh biết cách làm việc theo nhóm/ cặp và họ biết chính xác họ phải làm gì.
2.4 Một số nhóm/ cặp có học sinh yếu, không tự giác có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ hoặc làm việc riêng. Giáo viên cần kiểm soát, giúp đỡ, khích lệ họ làm nhiệm vụ. Năng động sáng tạo trong việc phân nhóm học sinh thành nhóm cặp dảm bảo trong một nhóm học sinh có cả học sinh yếu, có học sinh trung bình, có học sinh khá và giỏi.
V- Những kết quả đạt được sau khi áp dụng đề tài:
Việc vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này bản thân tôi đã đạt được một số kết quả hết sức khả quan. Trước hết những kinh nghiệm này rất phù hợp với chương trình, SGK mới. Học sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kỹ năng. Không khí học tập sôi nổi nhẹ nhàng. Học sinh có cơ hội để khẳng định mình, không còn lúng túng, lo ngại khi bước vào giờ học. Số học sinh giao tiếp đối thoại được tăng lên, đặc biệt số học sinh yếu kém cũng có phần nào hiểu và sử dụng được một số câu lệnh của giáo viên ,bập bẹ trao đổi với bạn một số câu thông dụng hàng ngày nhưng đó cũng là dấu hiệu đáng mừng đối với các em. 
Đây cũng chính là những nguyên nhân đi đến những kết quả tương đối khả quan của đợt khảo sát học kì I vừa qua, cụ thể là:
Lớp
TSHS
Giỏi
Khá
T.Bình ä
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
7A
35
5
11.6
20
30.2
10
81,4
0
0
0
0
9B
30
2
16.7
8
22.2
18
86,1
2
13.9
0
0
 Thông qua việc thực hành theo cặp, nhóm học sinh ở các lớp tôi thử nghiệm đã mạnh dạn hơn, hoạt bát hơn trong các tiết học ở trên lớp. Mỗi lần tôi đưa một lượng thông tin và yêu cầu hoạt động theo cặp, nhóm là các em nắm bắt và thực hiện khá thành công. Trong khi thực hành, các em tự uốn nắn cho nhau cách phát âm, cách dùng cấu trúc câu, ngữ điệu ...Khi tổ chức cho học sinh thực hành theo cặp, nhóm, giáo viên có điều kiện để nắm bắt lượng kiến thức mà học sinh tiếp thu được từ đó có biện pháp để phát huy mặt mạnh cũng như để khắc phục những mặt tiêu cực trong quá trình luyện tập của học sinh, đáp ứng được mối quan hệ biện chứng trong quá trình dạy học.
Vi- những vấn đề bỏ ngỏ.
 	ở chuyên đề này, với kinh nghiệm giảng dạy còn ít, thời gian nghiên cứu còn hạn chế, phần lớn tập chung vào chương trình mới và phương pháp mới. Hơn nữa tôi gặp khó khăn trong việc tìm tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn nên tôi đề cập vấn đề chưa được sâu và đa dạng về ví dụ.
Qua việc áp dụng chuyên, tôi thấy mình còn có những hạn chế mà chưa khắc phục được. Tôi luôn suy nghĩ là làm thế nào để nâng cao chất lượng học tập cho các em. Thực hiện hoạt động nhóm, cặp cần ở giáo viên không những phải biết sử dụng thành thạo các phương pháp, thủ thuật mà còn yêu cầu cách tổ chức linh hoạt, khéo léo.
ViI- những vấn đề kiến nghị:
	Xuất phát từ cơ sở lý luận, thực tiển, mục đích dạy học cũng như những thành công và hạn chế trong khi thực hiện đề tài, để góp phần cho việc dạy tiếng Anh nói chung, hoạt động nhóm / cặp nói riêng đạt chất lựơng ngày càng cải thiện bản thân tôi có những kiến nghị sau: 
1.Đối với giáo viên:
- giáo viên cần phải có sự đầu tư, phân tích tìm tòi mỗi bài dạy để tìm ra cái hay, cái mới trong phương pháp giảng dạy, giúp học sinh nắm được nhiệm vụ của hoạt động ngay từ ban đầu.
- Giáo viên phải nắm chắc các thủ thuật, phương pháp tổ chức nhóm, cặp.
 - Giáo viên phải luôn tạo môi trường ngoại ngữ trong giờ học và phải sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ chính đễ giao tiếp. Tùy theo khối lớp và đối tượng học sinh, giáo viên có thể sử dụng những câu tiếng Anh ngắn gọn, đơn giản, dể hiểu, dể nhớ, dể thuộc. 
- Giáo viên phải luôn biết khích lệ học sinh sử dụng kiến thức đã học để sử dụng trong giao tiếp. 
- Giáo viên không nên quá chú ý đến lỗi của học sinh trong khi nói. Hãy để các em nghe và nói tự nhiên. Đừng bao giờ buộc học sinh phải dừng nói trong khi học sinh đó đang cố gắng diễn tả ý nghĩa của mình bằng tiếng Anh, làm như vậy sẽ khiến các em cảm thấy sợ mắc lỗi khi nghe và nói. 
- Giáo viên nên lồng ghép các hoạt động nghe và nói tiếng Anh với hình thức " vừa chơi - vừa học".
- Giáo viên cần phải chọn, sử dụng và phối hợp linh hoạt các phương pháp, kỹ thuật trong tiến trình của giờ dạy. ngoài các bài tập sách giáo khoa, giáo viên cần đưa ra các bài tập phù hợp, có tính năng giao tiếp thực tế cao. 
- Nên tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học- Ngữ cảnh cần phải được giới thiệu rõ ràng.
2. Đối với học sinh:
- Để giờ học đạt kết quả cao, các em nên xem bài học sắp tới. Tăng cường đông viên, giúp đỡ nhau trong học tập. Thường xuyên nghe băng đài để học cách phát âm, nói đúng ngữ điệu Tiếng Anh. 
- Tự giác thực hành các tình huống của giáo viên yêu cầu. Phát huy đồng bộ bốn kĩ năng nghe- nói- đọc- viết. Tích cực thực hành nói Tiếng Anh từ những câu đơn giản đến phức tạp. không nên nôn nóng hay nản chí vì sợ sai.
- Đưa hết khả năng để tiếp cận kiến thức, tạo thành cho mình một thói quen thực hành nhóm, cặp để các tiết sau khi giáo viên chỉ ra hiệu bằng tay và nói câu lệnh (work in pair/ work in group ) thì các em tự quay người, lắp ghép linh hoạt và thực hiện một cách có kỷ xảo và ai vào việc nấy.
- Xây dựng phong cách ngoại ngữ cho mình. Tạo ra không khí ngoại ngữ trong lớp học để thấy được môn học ngoại ngữ có đặc thù riêng. 
- Thực hành theo từng mẫu câu để rồi sau đó vận dụng làm bài tập ở sách bài tập , nâng cao, viết câu, viết đoạn.
3. Đối với lãnh đạo cấp trên:
- Cần chỉ đạo các chuyên viên và giáo viên cốt cán bộ môn lập kế hoạch bồi dưỡng giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên có cơ hội giao lưu học hỏi và rút kinh nghiệm qua các hội thảo chuyên đề.
- Là môi trường ngoại ngữ cho nên các kỹ năng phải được luyện tập theo đăc trưng của phương pháp dạy học, vì vậy cần phải có phòng bộ môn để tránh gây tiếng ồn cho những lớp học bên cạnh cũng như không bị tác động của tiếng ồn từ ngoài vào. ( có thể cho kết hợp với các phòng bộ môn khác).
- Giới thiệu các tài liệu có liên quan để giáo viên tham khảo, học hỏi, vận dụng.
C - Kết luận
 	Việc tổ chức học sinh làm bài tập theo cặp hoặc nhóm tạo được nhiều cơ hội luyện tập và sử dụng ngoại ngữ một cách sáng tạo trong những tình huống gần với đời sống thật của học sinh. Hơn thế nữa, sự thay đổi trong các hoạt động học tập và kiểu giao tiếp giúp duy trì được sự tập trung chú ý của các em. Qua các hoạt động này học sinh cũng ý thức hơn được rằng việc hoàn thiện bản thân họ có quyền tự chủ và chịu trách nhiệm đôid với sự tiến bộ của chính mình.
 	Việc tổ chức luyện tập ngoại ngữ theo cặp/ nhóm còn giúp cho học sinh bạo dạn hơn trong việc sử dụng ngoại ngữ. Học sinh yếu kém thường lo sợ sẽ mắc lỗi trước mặt thầy cô của học, nhưng nếu chỉ có các bạn cùng lớp thì sự e dè đó sẽ ít hơn nhiều, học sinh sẽ vượt qua được những nhược điểm về tính cách của bản thân để học tốt hơn. Ngoài ra học cũng có cơ hội để giúp đỡ , học hỏi nhau nhiều hơn.
 	Các kết quả thu lượm được tù việc quan sát, lắng nghe và chấm bài viết sẽ hết sức quý giá vì chúng giúp hiểu sâu hơn về quá trình học của học sinh. Giáo viên sẽ nắm được các điểm yếu , điểm mạnh của học sinh, những vấn đề cần bổ sung cho các bài sau, những chỗ cần điều chỉnh trong giáo trình, giáo án của mình. Giáo viên cũng học được cách khoan dung với những lỗi không quan trọng, không làm ảnh hưởng đến nghĩa của lời nói và khuyến khích học sinh mạnh dạn hơn khi sử dụng ngoại ngữ.
 	Trong chuyên đề này tôi mới chỉ đưa ra một số kinh nghiệm bước đầu. Tôi rất mong được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp để chuyên đề này được hoàn thiện hơn.
 Tôi xin chân thành cảm ơn!
 Nghiêm Thị Nhung
tài liệu tham khảo
1. SGV, SGK mới lớp 6,7,8,9 của Bộ GD-ĐT.
2. English language Teachimg Methodology của Bộ GD-ĐT 2003.
3. The ELTTP Methodology course.
4. Teach English – Atraining couse for teachers- Adrian Doff.
5. A couse in TEFL- NXB ĐHSP HN.
6. Sách “ Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học bậc THCS môn tiếng Anh..... của Bộ GD-ĐT ”
7. Tài liệu tập huấn đổi mới phương pháp môn tiếng Anh lớp 6,7,8,9.
8. Bồi dưỡng phương pháp dạy Tiếng Anh- NXB GD.
Mục lục
A- Đặt vấn đề
4
I.
Cơ sở lí luận
4
II.
Cơ sở thực tiễn
4
III.
Phạm vi nghiên cứu
5
IV.
Mục đích nghiên cứu
5
V.
Phương pháp nghiên cứu
6
B- Nội dung
7
I.
Tìm hiểu về hoạt động theo cặp, nhóm
7
1.
Hoạt động theo cặp
7
2.
Các hình thức luyện tập theo cặp
9
3.
Hoạt động theo nhóm
11
II.
Xác định thời điểm các loại bài tập nên cho học sinh làm việc theo cặp, nhóm.
16
1. 
Làm việc theo cặp
16
2.
Làm việc theo nhóm
18
III.
Phương pháp tổ cho hoạt động theo cặp, nhóm có hiệu quả
20
1.
Đối với giáo viên- người tổ chức
20
2.
Đối với học sinh
22
3.
Phương pháp tổ chức hoạt động theo cặp, nhóm
22
IV.
Ưu điểm, hạn chế và cách khắc phục của hoạt động cặp, nhóm
26
V.
Những kết quả đạt được sau khi áp dụng đề tài
28
VI.
Những vấn đề bỏ ngỏ
29
VII.
Những vấn đề kiến nghị
29
C- Kết luận
31

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem.doc