Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số vùng khó khăn Lớp5

CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI :

- Tiếng Việt ngôn ngữ chính thức trong nhà trường (Điều 5, chương 1, Luật Giáo dục)

- Giáo dục Tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt (Điều 4 chương I Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học)

Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông trong giao tiếp. Dạy tiếng Việt nhằm bảo tồn, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn nền văn hóa cao đẹp của đất nước và con người Việt Nam. Thứ trưởng Bộ GD& ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã khẳng định: “Tiếng Việt là khâu quan trọng nhất trong quyết định giáo dục học sinh dân tộc thiểu số. Do vậy, nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cấp Tiểu học là một nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số.”

 Văn miêu tả giúp học sinh phát triển khả năng ngôn ngữ nhiều nhất. Chính ngôn ngữ mới là công cụ vàng, vạn năng giúp thành công trong các hoạt động và giao tiếp và đời sống. Dạy tốt văn miêu tả giúp các em phát triển tư duy, năng lực liên tưởng, sáng tạo. Các em bộc lộ được những cảm nhận về cái hay, cái đẹp, bồi dưỡng cho các em về đạo đức và thẩm mĩ, tình yêu với sự vật, quê hương, đất nước. Do đó, chúng ta cần phải nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho các em ở Tiểu học và làm tiền đề cho các em học tốt môn văn ở cấp học trên.

 

doc23 trang | Chia sẻ: thuydung3ka2 | Ngày: 04/03/2022 | Lượt xem: 52 | Lượt tải: 2Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số vùng khó khăn Lớp5", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 từ mình đang dùng, bày cách liên tưởng, tìm hình ảnh so sánh, nhân hóa để viết câu văn cho hay hơn. Chẳng hạn: 
*Từ thường dùng khi làm bài văn tả người:
- Tả thân hình, dáng người: Cao, lùn, gầy gò, ốm yếu, nho nhỏ, nhỏ thó, tầm thước, xương xương, mảnh khảnh, dong dỏng, thon thả, đẫy đà, yểu điệu, béo phệ, mập mạp, lực lưỡng, vạm vỡ, trẻ trung, quắc thước,cân đối, gầy guộc, mảnh mai, cường tráng, tiều tuỵ, lụ khụ, uể oải, bụ bẫm
- Tả khuôn mặt, diện mạo: Bầu bĩnh, trẻ măng, hồng hào, đen sạm, rám nắng, xanh xao, tái mét, xanh tái như chàm, không còn chút máu, vuông vắn, vuông chữ điền, trái xoan, hốc hác, vô tư, đần độn, thông minh sáng sủa, khôi ngô, khả ái, xấu xí, rỗ như tổ ong, tươi tỉnh, niềm nở, hớn hở, ủ rũ, cau có, bơ phờ, hung tợn, ngờ nghệch khờ khạo, lầm lì, là lạ, đạo mạo, thơ ngây, nhăn nheo, thờ thẫn, đăm chiêu, thiểu não, hiền hậu, dễ thương,
- Tả làn da: Nhăn nheo, xanh như tàu lá, bạch tạng, trắng nõn, trắng trẻo, nõn nà, mịn màng, chai cứng, nứt nẻ, rám nắng, sần sùi, tái mét, xanh xao, xanh lét, hồng hào, đỏ thắm, mốc thếch, đen sạm, da bánh mật, ngăm ngăm, ngăm đen, đen đủi, trắng như trứng gà bóc
- Tả mắt: Đen huyền, đen láy, trong sáng, u buồn, lung linh, ươn ướt, sắc sảo, đượm buồn, thâm quầng, trắng đục, đỏ ngầu, sáng, lồi, tròn vo, xếch, một mí, mất ốc bươu, trao tráo, ti hí, mắt bồ câu,
- Tả cái nhìn của đôi mắt: Đăm đắm, mơ mộng, đắm đuối, dáo dác, trìu mến, mơ màng, chòng chọc, chăm chú, ngơ ngác, hằn học,
- Diễn tả tính cách: Nóng nảy, bạo dạn, vị tha, hời hợt,lười nhác, lì lợm, trầm tính, đứng đắn, thật thà, ôn hoà, hiền hậu, vui vẻ, nhút nhát, nghiêm nghị, dè dặt, siêng năng, thận trọng, lỗ mãng, bao dung, nhân hậu, khoác lác, ba hoa, nham hiểm, xảo quyệt, tham lam, ích kỉ, ưa giễu cợt, cau có, gắt gỏng, hấp tấp, khắt khe, láu táu, ít nói, nhã nhặn,... 
- Diễn tả thái độ: Vui sướng, hớn hở, hân hoan, hả hê, thoả thích, sảng khoái, khoái chí, vui nhộn, vui đáo để, vui mừng, đắc chí,
b. Dùng từ đặt câu:
	Giáo viên lưu ý học sinh khi tả: Tùy vào từng đối tượng mình tả, quan sát kĩ và lựa chọn từ phù hợp để miêu tả, không thể tả mái tóc, nước da của em bé như người lớn được. Tả con mèo thì mắt phải tròn, tiếng kêu “meo,meo”, ngủ lim dim, đi nhẹ nhàng,...Tả đêm trăng thì “ sáng vằng vặc”; tả tiếng suối chảy thì “róc rách”
- Trong quá trình dạy học, trong các tiết trả bài hoặc hướng dấn viết văn, tôi thường yêu cầu học sinh đặt câu với những từ vừa tìm được và đưa ra các trường hợp sử dụng từ chưa đúng để cả lớp phân tích nhận xét, sửa sai.Khi phát hiện học sinh viết sai, tôi thường đưa ra cho cả lớp nhận xét, sửa sai và rút kinh nghiệm theo các bước:
 	 + Câu văn của bạn viết, có chỗ nào chưa phù hợp, các em cần phải sửa? (Bạn sử dụng từ “bay” để miêu tả hoạt động của chó là không phù hợp)
 + Chúng ta cần thay từ “bay” bằng từ nào? (thay từ “bay” bằng từ “chồm”)
Học sinh sửa và viết đọc lại câu văn.
- Trong khi viết, học sinh thường viết những câu chưa đủ hai thành phần chính, dùng dấu chấm, phẩy chưa đúng hay những câu văn khô khan, thiếu hình ảnh cảm xúc, tôi lại hướng dẫn học sinh cách viết để câu văn hoàn chỉnh và hay hơn.
Ví dụ: Trong bài văn tả bạn H Duyên, có em viêt: “Cái trán cao, tóc dài ngang vai bạn buộc cao, rất gọn gàng.”
	Tôi chép câu văn lên bảng và hỏi:
+ Câu văn bạn viết đã giàu tính gợi tả chưa hay còn mang tính liệt kê?
+ Dựa vào đặc điểm của bạn H Duyên là một bạn thông minh, nhanh nhẹn, tóc ngang vai hay buộc cao, vầng trán cao. Vậy ta cần thay đổi câu văn này như thế nào, để miêu tả bạn H Duyên toát lên được những đặc điểm đó?
	Sau khi gợi ý cho học sinh nêu, tôi giúp học sinh chỉnh sửa và hoàn chỉnh câu văn có hình ảnh cảm xúc hơn, làm nổi bật đặc điểm của bạn H Duyên: “Mái tóc dài chấm ngang vai, luôn được bạn buộc cao như tóc đuôi gà, để lộ vầng trán cao, toát lên vẻ thông minh, nhanh nhẹn vốn có của bạn.”
* Cách dùng từ miêu tả, liên tưởng, so sánh:
 - Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách dùng từ miêu tả để giúp các em viết được câu văn sinh động hơn. Ví dụ: Khi tả hoa "nở", từ “nở” chỉ mang tính chất thông báo, mà cần phải sử dụng từ miêu tả như: bung nở, hé nở, xòe nở, bung cánh, hé cánh, xòe cánh,... Từ "xanh" chỉ miêu tả nhưng không gợi tả, cần hướng dẫn học sinh dùng từ gợi tả cho màu xanh: xanh biếc, xanh lam, xanh ngọc, xanh mướt,...Nếu giáo viên chú ý dạy tích hợp Tập làm văn vào trong Tập đọc, Luyện từ và câu thì sẽ giảm bớt được nhiều thời gian trong cung đoạn này. Ví dụ: Màu “vàng” được dùng từ gợi tả rất cụ thể trong bài: “Quang cảnh làng mạc ngày mùa”- Tiếng Việt 5, tập 1, trang 10. 
- Để câu văn sinh động hơn, giáo viên không chỉ hướng dẫn học sinh cách dùng từ miêu tả mà còn phải hướng dẫn học sinh cách dùng các biện pháp nhân hóa, so sánh mà các em đã được học, đưa vào bài để miêu tả sự vật được sinh động hơn. Rất khó đối với các em là cách liên tưởng để tìm hình ảnh so sánh sự vật.
Ví dụ: Tìm từ so sánh với mặt trời thì cần hướng dẫn học sinh:
+ Mặt trời có hình gì? Giống cái gì? (hình tròn giống như quả cầu)
+ Mặt trời có màu gì? Giống hình ảnh nào? (đỏ rực, giống như lửa)
Dẫn dắt học sinh đặt câu: "Mặt trời thì đỏ rực như quả cầu lửa", 
Tương tự để có câu: "Mảnh trăng cong cong như lưỡi liềm" 
- Đối với những học sinh khá, giỏi, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách sáng tạo câu văn bằng cách liên tưởng, so sánh sự vật nâng cao hơn. Ví dụ: Khi miêu tả “Hồ nước lặng yên” thì cho học sinh so sánh với trạng thái "lặng yên" của con người. Giáo viên có thể hỏi: Khi nào con người lặng yên? và học sinh có thể tìm ra được các từ " khi ngủ, khi nhớ, khi buồn, khi mơ mộng, ..." Như vậy, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh viết được rất nhiều câu: Hồ nước lặng im như chìm vào giấc ngủ./Hồ nước lặng im như đang mơ mộng với những đám mây trắng./Hồ nước lặng im như đang buồn bã điều gì./ Hồ nước lặng im như đang nhớ những vì sao lấp lánh buổi đêm....
 - Giáo viên cần tổng quát được cách dùng từ ở từng dạng văn miêu tả, để định hướng tốt cho các em khi viết văn: 
 + Tả cảnh thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, đặc điểm, có thể so sánh, nhân hoá làm cho cảnh vật được miêu tả thêm sinh động; cần bộc lộ cảm xúc trước sự vật được miêu tả trong cảnh.
 + Tả người thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dáng, màu sắc, âm thanh; từ ngữ chỉ hoạt động, đặc điểm, trạng thái của người; có thể sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh để miêu tả cho sinh động và bộc lộ mối quan hệ tình cảm với người được tả.
2.5. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý và xây dựng đoạn văn phần thân bài:
Đây là một hoạt động hết sức quan trong làm văn miêu tả. Thế nhưng một số giáo viên thường bỏ qua giai đoạn này vì bước đầu thì đây cũng là một hoạt động khó đối với học sinh nói chung và đặc biệt là đối với học sinh dân tộc thiểu số vùng khó khăn lại càng khó hơn. Song nếu giáo viên hướng dẫn cụ thể thì các em sẽ làm được, việc này lặp đi lặp lại nhiều sẽ tạo thành thói quen có lợi trong viết văn cho học sinh. Nếu một bài văn mà các em biết cách lập dàn ý trước khi làm bài thì các em đã có định hướng tốt cho bài văn của mình. Bài văn có đầy đủ ý, bố cục chặt chẽ và lâu dần các em sẽ khái quát được cách làm một bài văn khi xác định xong đề bài.
	Khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý một bài văn tôi thường theo các bước sau:
	- Xác định đề bài
	- Nhắc lại cấu tạo bài văn theo đề bài đã cho
	- Tiến hành hướng dẫn lập dàn ý.
Ví dụ: 
Đề bài: Hãy tả ngôi trường thân yêu gắn bó với em trong nhiều năm qua.
Với đối tượng học sinh như đã nêu, tôi dẫn dắt học sinh thực hiện lập dàn ý từ hệ thống câu hỏi khá tỉ mỉ sau: 
+ Đề bài yêu cầu chúng ta làm gì? (Tả ngôi trường của em)
+ Đề bài thuộc dạng văn miêu tả nào? (tả cảnh)
+ Hãy nêu cấu tạo của bài văn tả cảnh? (Hs nêu)
+ Em quan sát vào thời gian nào? (buổi sáng khi học sinh chưa đến trường, buổi chiều khi học sinh đã ra về hay trong giờ học,...) 
+ Em quan sát bằng những giác quan nào? ( mắt nhìn, tai nghe các âm thanh như tiếng giảng bài của cô, tiếng trống,...tiếng cảnh vật xung quanh như tiếng ve kêu, chim hót,..)
+ Phần mở bài em cần giới thiệu như thế nào? (Hs nêu)
+ Phần thân bài em tả những cảnh nào của trường? ( HS nêu)
	+ Phần kết bài, em nêu cảm nghĩ của mình đối với ngôi trường như thế nào?
	*Lưu ý: Các em có thể tả cảnh trường vào một thời điểm nhất định hoặc theo thứ tự thời gian trong ngày như sáng đến chiều hay theo mùa. Khi quan sát, các em nên quan sát từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, nắm được điểm chung và riêng của cảnh, chú ý vào những điểm nổi bật nhất của cảnh. Sự liên quan của cảnh vật đó với cảnh vật xung quanh như con người, chim chóc, thiên nhiên,...
- Tổ chức nhận xét, bổ sung hoàn thiện dàn ý: Để giúp học sinh có một dàn ý hoàn chỉnh, giáo viên cho học sinh đọc dàn ý của mình cho cả lớp nhận xét, bổ sung, giáo viên giúp đỡ để các em hoàn chỉnh dàn ý.
 Dàn ý bài văn tả ngôi trường Tiểu học Tình Thương:
*Mở bài
+ Trường em mang tên Trường Tiểu học Tình Thương
+ Ngôi trường chưa khang trang nhưng cảnh vật thật là hiền hòa.
*Thân bài
+ Nhìn từ xa ngôi trường nhỏ bé, yên tĩnh .
+ Biển trường xanh đậm, nổi rõ hàng chữ trường Tiểu học Tình Thương màu trắng.
+ Tường được sơn màu vàng
+ Sân trường được lát gạch hình chữ T, giữa có lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới.
+ Bao quanh sân gạch là những bồn hoa được chúng em chăm sóc cẩn thận.
+ Có 3 dãy phòng học và một dãy phòng chức năng.
+ Lớp học rộng rãi, thoáng mát, bàn 2 chỗ ngồi, trang trí rất đẹp, có đầy đủ quạt điện, đèn điện, sáng nào chúng em cũng vệ sinh sạch sẽ.
+Từ cổng nhìn thẳng vào là dãy phòng chức năng, phòng đầu tiên bên phải là thư viện,...
*Kết bài:
+ Em rất yêu quý và tự hào về trường em
+ Dù sau này đi xa em vẫn luôn nhớ mãi hình ảnh mái trường thân yêu của em.
	Tiếp theo, tôi cho học sinh chọn và viết hoàn chỉnh một đoạn văn phần thân bài, tổ chức nhận xét, sửa chữa hoàn chỉnh.
2.6. Xây dựng mở bài và kết bài:
a. Xây dựng mở bài:
Mở bài là phần có vai trò hết sức quan trọng trong mỗi bài văn. Nó thu hút người đọc, người nghe chú ý,tập trung vào bài ngay đầu bài. Có hai cách mở bài: mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp. Mở bài trực tiếp thì mọi đối tượng học sinh đều có thể thực hiện được. Riêng mở bài gián tiếp ( không bắt buộc) nhưng giáo viên khuyến khích học sinh sử dụng khi làm bài, giúp các em có được bài văn hay hơn, hấp dẫn người nghe hơn.
 	Để giúp học sinh có cách mở bài và kết bài phong phú, đa dạng. Trước hết người giáo viên phải giúp học sinh hiểu Thế nào là mở bài trực tiếp, gián tiếp?
 	+ Mở bài trực tiếp: Là giới thiệu trực tiếp sự vật mình định tả
+ Mở bài gián tiếp: Nói chuyện khác để dẫn vào chuyện (có thể bằng cách đưa ra một mẩu chuyện, một so sánh, một liên tưởng, một câu văn thơ, một âm thanh,... để đi đến điều mình cần giới thiệu).
Ví dụ: Mở bài gián tiếp
	 Có nhiều cách mở bài để thu hút người đọc, người nghe, chẳng hạn các cách mở bài sau:
 “ Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn thương con.”
Ôi! Tình mẹ yêu con chỉ  có thể so sánh với biển nước mênh mông. Mẹ! Người em yêu nhất trên đời. (mở bài bằng câu thơ)
b. Hướng dẫn học sinh xây dựng kết bài: Cũng như mở bài, kết bài cũng có hai cách đó là kết bài mở rộng và không mở rộng. 
Để giúp học sinh có cách mở bài và kết bài phong phú, đa dạng. Trước hết người giáo viên phải giúp học sinh hiểu: Thế nào là kết bài mở rộng và không mở rộng?
+ Kế bài mở rộng: Sau khi cho biết kết cục, có lời bình luận thêm
+ Kế bài không mở rộng: Cho biết kết cục, không bình luận gì thêm.
Ví dụ: Kết bài của một bài văn tả cây phượng
-Kết bài mở rộng:
Mỗi lần nhìn ngắm cây phượng, lòng em lại dâng trào một cảm xúc lâng lâng khó tả vì được tự do thưởng thức sự ưu đãi vẻ đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên dâng tặng cho con người. Chúng ta hãy quý trọng thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên để được chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt vời ấy.
-Kết bài không mở rộng:
Ngồi ngắm cây phượng, em càng yêu cây phượng hơn và phượng mãi là loài hoa yêu quý của tuổi học trò.
2.7. Hướng dẫn học sinh hoàn chỉnh bài văn.
Sau các tiết lập dàn ý, xây dựng mở bài, kết bài, xây dựng đoạn văn thường có tiết viết hoàn chỉnh bài văn. Trước khi yêu cầu viết một bài văn hoàn chỉnh, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tổng hợp, liên kết các tiết trước để giúp các em có một bài văn hoàn chỉnh.
Ví dụ: 
+ Bài văn gồm có mấy phần? Đó là những phần nào?
+ Mở bài có mấy cách? Nêu từng cách mở bài?
+ Thân bài được trình bày như thế nào? (Có thể trình bày thành nhiều đoạn, mỗi đoạn diễn tả một nội dung chính. Ví dụ: Tả con vật thì có đoạn tả hình dáng, đoạn tả thói quen sinh hoạt,...)
+ Kết bài có mấy cách? Nêu từng cách kết bài?
* Lưu ý học sinh: Sau mỗi phần hay mỗi đoạn cần phải xuống dòng (một số em thường hay viết liền mạch). Đầu đoạn phải lùi vào một ô và viết hoa.
Trong khi học sinh làm bài, giáo viên hướng dẫn học sinh bám sát dàn ý đã lập để viết. Giáo viên theo dõi giúp đỡ học sinh, đặc biệt là những học sinh yếu.
2.8. Nhận xét bài viết của học sinh:
Mỗi bài văn học sinh viết được, kết hợp với cách đánh giá của giáo viên đúng cách sẽ giúp các em trưởng thành trong nhận thức, trong cách suy nghĩ. Do đó, tôi thường nhận xét bài rất tỉ mỉ sau mỗi bài học sinh viết, sửa sai trực tiếp về lỗi chính tả, gạch chân dưới những câu, từ học sinh đặt chưa đúng và nhận xét cụ thể để giúp các em chữa bài trong tiết trả bài. Những góp ý nhẹ nhàng, chi tiết hay những lời khen của giáo viên như một định hướng giúp học sinh hoàn thiện bài viết hơn.
2.9. Tiết trả bài
Trong tiết trả bài, giáo viên cần nhận xét rõ ưu, khuyết điểm chung. Luôn đưa ra những ưu điểm cụ thể sau dó mới nhận xét những sai sót, tồn tại của học sinh về lỗi chính tả, bố cục, cách dùng từ, đặt câu, cách diễn đạt. Sau đó, cho học sinh sửa bài theo nhóm hoặc cá nhân, gọi một vài học sinh nêu lỗi vấp phải và cách sửa của mình hay của nhóm, lớp góp ý, giáo viên chốt lại câu văn như thế nào là hay, là đúng. Cuối cùng giáo viên đọc những đoạn văn hay, bài văn hay cho cả lớp nghe, cho học sinh viết lại một đoạn văn của bài.
Điều kiện để thực hiện các giải pháp, biện pháp
Để thực hiện các giải pháp, biện pháp nêu trên đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt trong cách dạy học, có khả năng dạy môn Tiếng Việt lớp 5, nhiệt tình, tâm huyết với học sinh. Trang thiết bị dạy học học đầy đủ. Học sinh đi học chuyên cần, có ý thức trong việc học tập, ham đọc sách báo.
Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Giữa các giải pháp, biện pháp nêu trên luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Do đó, khi thực hiện các giải pháp, giáo viên cần vận dụng các biện pháp đã đưa ra một cách linh hoạt để giải quyết vấn đề. Giúp các em tiếp thu bài một cách nhanh nhất và có thể vận dụng giải quyết được những vấn đề hạn chế của các em.
Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 
Với đề tài này mang tính giá trị khoa học và thực tiễn cao, đã được khảo nghiệm trên thực tế dạy học ở trường Tiểu học Tình Thương trong năm học 2015- 2016 . Sau học kì 1, tôi thấy trong viết văn miêu tả các em đã làm chủ được vốn từ, các em linh hoạt hơn trong viết văn cũng như trong giao tiếp. Bài văn của mỗi em đều có sắc thái riêng, mang tính sáng tạo và thực tiễn cao. Tôi mạnh dạn đưa ra nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả cho học sinh dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn ở lớp 5, tạo một cách nhìn nhận mới trong dạy học tập làm văn.
IV. KẾT QUẢ:
Sau một thời gian nghiêm túc thức hiện theo quy trình kinh nghiệm dạy học trên, bước đầu tôi nhận thấy chất lượng làm văn miêu tả của học sinh tiến bộ rõ rệt. Đa số học sinh xác định đúng đề, làm bài đảm bảo về cấu trúc, trong đó có một số bài giàu hình ảnh, cảm xúc, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc như các bài văn của các em: H Duyên, h Ruyn Niê, H Như, H Diệp, . Các em tự tin hơn trong giao tiếp. Qua kiểm tra chất lượng, kết quả cụ thể như sau:
Lớp
Năm học
Thời điểm
TS
HS
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
%
 SL
%
5a1
2015- 2016
Cuối HK1
16
16
100,0
0
0
Với đề tài này chúng ta có thể áp dụng được với tất cả các đối tượng học sinh là dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua thực tiễn dạy học ở đối tượng là HS dân tộc tại chỗ, tôi nhận thấy: để giúp các em HS dân tộc viết đúng, viết hay thì giáo viên cần chú ý một số yêu cầu sau: 
 - Gv cần phải nhiệt tình, tâm huyết với học sinh: “ Tất cả vì học sinh thân yêu”. Cố gắng rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh .
 - Thiết kế bài dạy chi tiết, phù hợp với từng đối tượng học sinh lớp mình.Trước khi dạy một đề văn mới, cố gắng hết mức có thể hướng dẫn học sinh quan sát tìm ý bằng trực quan trên lớp, trong sân trường hoặc hướng dẫn học sinh cách quan sát kĩ ở nhà.
 - Làm tốt công tác giáo dục tự học, tự rèn cho các em.
 - Kiên trì uốn nắn, sửa lỗi cho các em, có niềm tin vào sự tiến bộ của học sinh.
 - Phải khai thác triệt để đồ dùng dạy học và tranh vẽ trong sách giáo khoa và sưu tầm những vật thật bằng video (nếu có bằng máy tính), tranh ảnh để cung cấp vốn từ cho học sinh. 
 - Thường xuyên kiểm tra, đánh giá, khen để khích lệ các em.
 - Thái độ ân cần, vui vẻ của giáo viên cũng rất cần thiết. Bởi lẽ các em còn nhỏ, đặc biệt học sinh dân tộc thiểu số tại chỗ, lòng tự ái rất cao, nếu giáo viên nói nặng lời, học sinh sẵn sàng xách cặp ra về hoặc ngồi không, không chịu học bài nữa. Vì thế, giáo viên không nên nặng lời to tiếng hay cáu gắt với các em, ngược lại cần phải động viên khích lệ và khen thật nhiều dù chỉ là sự tiến bộ nhỏ, mới giúp các em hứng thú trong học tập và tiếp thu bài tốt.
 - Đọc sách báo thường xuyên để có thêm vốn ngôn ngữ trong cuộc sống, bồi dưỡng khả năng cảm thụ văn và cảm xúa khi viết văn để đưa vào giảng giải giúp học sinh dễ hiểu bài.
 - Phải tạo được thói quen tự giác học tập, chuẩn bị bài ở nhà, đọc bài và tự tìm hiểu nội dung, quan sát thế giới xung quanh. 
 - Tăng cường mượn sách, báo cho học sinh đọc thêm sách, báo, truyện,...hoặc nhắc nhở các em lên thư viện đọc sách để giúp các em hiểu biết thêm về cuộc sống quanh em, từ đó tự tin để bộc lộ của mình, nâng cao khả năng nói, viết .
 2. Kiến nghị
- Giáo viên các lớp dưới, cần chú ý rèn các kĩ năng viết văn cho học sinh.
- Cần tăng thêm thời lượng dạy Tiếng việt, giảm bớt thời lượng dạy tiếng Ê- đê cũng như các môn công cụ khác.
 Trên đây là một vài kinh nghiệm về “Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh dân tộc tiểu số vùng khó khăn lớp 5” tôi đã thực hiện. Tôi sẽ tiếp tục áp dụng đề tài, rà soát lại, bổ sung thêm để hoàn thiện hơn, từ đó nâng cao chất lượng đồng bộ cho các em, chuẩn bị tốt cho các em hành trang để học tốt kiến thức ở lớp trên. Chắc chắn đề tài vẫn còn nhiều hạn chế, kính mong được sự góp ý chân thành từ Ban giám khảo, các cấp quản lí và đồng nghiệp để đề tài này áp dụng có hiệu quả cao hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!./.
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
 ( Kí tên và đóng dấu)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
Tên tài liệu
Tác giả
1
Hướng dẫn dạy học các môn học cho các vùng, miền
(Ban hành kèm theo công văn số 7580/GDTH)
Bộ giáo dục và đào tạo
2
Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. 
Nguyễn Quý Thành, 
trường Đại học Quy 
Nhơn, năm 2010.
3
Sách giáo viên Tiếng Việt 4, lớp 5 - Tập 1, Tập 2 
Nhà xuất bản GD, năm 
2008
4
Tăng cường tiếng Việt cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn
Dự án giáo dục Tiểu học 
PEDC

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_ren_ki_nang_viet_van_mieu_ta_cho_hoc_s.doc
Sáng Kiến Liên Quan