Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp gây hứng thú cho học sinh Lớp 5 khi học môn Lịch sử

Cơ sở lí luận

Trong các phân môn ở Tiểu học, phân môn Lịch sử là một môn khó dạy. Đối với học sinh tiểu học chưa yêu cầu các em học lịch sử theo các triều đại và các niên kỉ, hiểu về đặc điểm điều kiện tự nhiên đất nước con người Việt Nam một cách có hệ thống như ở trường Trung học. Tuy nhiên để học sinh ghi nhớ được nội dung bài thì những tri thức về lịch sử được trình bày thông qua tranh vẽ, ảnh chụp, lược đồ, bản đồ, các đoạn phim, sa bàn mô tả lại trận đánh, . phải điển hình. Để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử , giáo viên cần nắm vững mục tiêu của môn học, phối hợp và sử dụng hợp lí các phương pháp dạy học.

 Mục tiêu của môn Lịch sử lớp 5

 - Có một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự kiện lịch sử tiêu biểu, tương đối có hệ thống theo dòng thời gian lịch sử Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XIX đến nay.

 - Bước đầu hình thành một số kĩ năng:

 + Quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập tư liệu từ SGK và trong thực tế.

 + Nhận biết đúng các sự vật, hiện tượng, sự kiện tiêu biểu.

 + Trình bầy được kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, sơ đồ

 + Vận dụng các kiến thức đã học vào đời sống thực tiễn.

 - Có thái độ:

 + Ham học hỏi, tìm hiểu để biết về lịch sử dân tộc.

 + Yêu quê hương, đất nước, con người.

 + Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa của quê hương.

 

docx11 trang | Chia sẻ: thuydung3ka2 | Ngày: 03/03/2022 | Lượt xem: 1242 | Lượt tải: 3Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp gây hứng thú cho học sinh Lớp 5 khi học môn Lịch sử", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận: Các văn bản chỉ đạo, SGK, phân phối chương trình. 
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra cơ bản kết hợp với đàm thoại, phỏng vấn, rút kinh nghiệm trong thực tế dạy học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Được dùng để thử nghiệm các biện pháp gây hứng thú cho học sinh lớp 5 khi học môn Lịch sử.
PHẦN II – NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
Trong các phân môn ở Tiểu học, phân môn Lịch sử là một môn khó dạy. Đối với học sinh tiểu học chưa yêu cầu các em học lịch sử theo các triều đại và các niên kỉ, hiểu về đặc điểm điều kiện tự nhiên đất nước con người Việt Nam một cách có hệ thống như ở trường Trung học. Tuy nhiên để học sinh ghi nhớ được nội dung bài thì những tri thức về lịch sử được trình bày thông qua tranh vẽ, ảnh chụp, lược đồ, bản đồ, các đoạn phim, sa bàn mô tả lại trận đánh, ... phải điển hình. Để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử , giáo viên cần nắm vững mục tiêu của môn học, phối hợp và sử dụng hợp lí các phương pháp dạy học.
 Mục tiêu của môn Lịch sử lớp 5
	- Có một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự kiện lịch sử tiêu biểu, tương đối có hệ thống theo dòng thời gian lịch sử Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XIX đến nay.
	- Bước đầu hình thành một số kĩ năng:
	+ Quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập tư liệu từ SGK và trong thực tế.
	+ Nhận biết đúng các sự vật, hiện tượng, sự kiện tiêu biểu.
	+ Trình bầy được kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, sơ đồ
	+ Vận dụng các kiến thức đã học vào đời sống thực tiễn.
	- Có thái độ:
	+ Ham học hỏi, tìm hiểu để biết về lịch sử dân tộc.
	+ Yêu quê hương, đất nước, con người.
	+ Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa của quê hương.
	2. Cơ sở thực tiễn
	2.1. Thực trạng dạy học môn Lịch sử
	- Chương trình môn học Lịch sử hiện nay được xây dựng theo nguyên tắc "đồng tâm kết hợp với đường thẳng" từ tiểu học đến THPT. Vì vậy kiến thức được lặp đi lặp lại trong sách giáo khoa làm cho người dạy và người học nhàm chán.Cần xây dựng chương trình giáo dục lịch sử nhẹ nhàng thông qua các câu chuyện lịch sử, các nhân vật lịch sử, các cuộc dã ngoại tham quan.
	- Chương trình không trình bày một cách toàn diện, ví dụ như các đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội... của từng giai đoạn lịch sử, mà chỉ trình bày những sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu. Mối liên kết, khái quát một giai đoạn lịch sử không rõ ràng, gây khó hiểu và không truyền được sự hứng thú học Sử cho học sinh.
2.2. Số liệu thống kê đầu năm học
	Ngay từ đầu năm học, tôi đã khảo sát hứng thú học tập của học sinh khối, 5 đối với môn Lịch sử và kết quả thu được như sau:
Khối
Sĩ số
HS hứng thú, yêu thích môn LS
HS học vì yêu cầu bắt buộc của GV
HS không thích học môn LS
SL
%
SL
%
SL
%
5
146
23
15.8
55
37.7
68
46.5
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH LỚP 5 KHI HỌC MÔN LỊCH SỬ
Từ thực trạng trên kết hợp với khảo sát hứng thú của học sinh khi học phân môn lịch sử và quá trình dự giờ, trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, tôi đã đưa ra các biện pháp sau:
1. Biện pháp 1. Nắm chắc nội dung chương trình giảng dạy của từng giai đoạn lịch sử.
Với bất cứ một môn học nào, muốn dạy tốt, người giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung, yêu cầu cơ bản mà học sinh cần nắm được sau mỗi bài dạy, qua đó giúp giáo viên nắm được phần “xương sống” cơ bản nhất của chương trình Lịch sử để có kế hoạch và phương pháp truyền tải tới học sinh có hiệu quả. Ngay từ đầu năm, tôi đã nghiên cứu mảng kiến thức của chương trình Lịch sử lớp 5 để thấy được mốc thời gian lịch sử từng giai đoạn và các sự kiện diễn ra, thời gian trước với thời gian sau nối tiếp như thế nào, bài trước bài sau có liên quan như thế nào? Từ đó định hướng mạch kiến thức, soạn bài, chuẩn bị phương tiện đồ dùng, sưu tẩm tranh ảnh bổ sung sao cho hợp lý nhất.
Lịch sử lớp 5 chia làm 4 giai đoạn:
- Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ (1858-1945 gồm 10 bài + 1 bài ôn tập).
- Bảo về chính quyền non trẻ, trường kỳ kháng chiến chống thực dân pháp (1945 -1954 gồm 6 bài + 1 bài ôn tập)
 - Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước (1954-1975 gồm 8 bài) 
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước (Từ 1975 đến nay gồm 2 bài + 1 bài ôn tập).
	2. Biện pháp 2. Nắm chắc cách dạy phân môn lịch sử đối với từng dạng bài cụ thể.
2.1. Loại bài cung cấp kiến thức mới:
Loại bài này là phần kiến thức chủ yếu trong chương trình, trình bày các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu trong từng thời kì lịch sử, đã được các tác giải lựa chọn một cách chặt chẽ, khá toàn diện về các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bài cung cấp kiến thức mới đề cập đến các nội dung:
- Tình hình kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội
- Họat động của một số nhân vật lịch sử điển hình
- Các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, tiến công
- Các thành tựu về văn hóa, nghệ thuật, khoa học, giáo dục.
2.1.1. Dạy các bài có nội dung về nhân vật lịch sử:
 Trong chương trình Lịch sử 5,dạng bài này có ở bài: 1, 2; 5; 6.
Nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với sự kiện lịch sử. Giáo viên phải biết khai thác tốt các sự kiện để làm nổi bật những hoạt động và công lao to lớn của nhân vật. Khi dạy những bài này, giáo viên cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:
- Các sự kiện đưa ra phải chính xác, có lựa chọn theo từng mô típ khác nhau. Đánh giá nhân vật cần tuân thủ sự thật lịch sử, phải đặt họ vào thời đại họ sống xem họ làm được gì, chưa làm được gì?
- Dạy học các nhân vật lịch sử phải đặt trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, với các nhân vật khác và với sự kiện lịch sử. Bởi lịch sử là lịch sử quần chúng nhân dân, một khi cá nhân đựơc nhân dân ủng hộ thì chắc chắn dành thắng lợi và ngược lại.Có thể hành động của nhân vật lịch sửsẽ làm thay đổi cục diện lúc bấy giờ.
- Mỗi một bài đều có hình ảnh (Tranh vẽ hoặc chân dung) nhân vật lịch sử để giúp học sinh biết diện mạo cũng như hình thức bên ngoài của nhân vật. 
- Khi trình bày về nhân vật, phải cho học sinh biết nhân vật lịch sử đó là người như thế nào? (Sinh ra khi nào?Ở đâu?làm gì? Có đặc điểm, tính cách gì
nổi bật...). Phải khơi gợi để học sinh tự tìm hiểu về nhân vật trước tiết dạy. Phải mô tả và tường thuật (hay kể lại) những hoạt động của họ để làm cơ sở cho việc đánh giá khách quan, công lao của các nhân vật đó đối với lịch sử.
- Kết hợp giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật lịch sử.
Thông thường đối với dạng bài này giáo viên nên sử dụng các phương pháp như kể chuyện, sắm vai ... Giáo viên có thể vừa là người dẫn chuyện, trực tiếp kể chuyện có thể là người dẫn dắt, gợi ý giúp học sinh nắm vững cốt truyện. Ngoài ra có thể cho học sinh sắm vai.
Ví dụ: Khi dạy bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước”, giáo viên có thể dùng nhiều phương pháp như: 
 - Phương pháp kể chuyện: Tìm hiểu về quê hương và thời niên thiếu của Nguyễn Tất Thành: “ Nguyễn Tất Thành sinh ngày 19/05/1890 tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Bố tên là Nguyễn Sinh Sắc và mẹ là Hoàng Thị Loan. Thuở nhỏ Nguyễn Tất Thành còn có tên gọi là Nguyễn Sinh Cung.Lớn lên trong bối cảnh nước mất, phải sống trong cảnh tủi nhục. Nguyễn tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh đất nước và nổi thống khổ của nhân dân ...”
- Phương pháp sắm vai: Ở cuộc gặp gỡ giữa Nguyến Tất Thành và anh Lê:
“ Anh Thành: - Anh Lê, anh có yêu nước không ?
Anh Lê: - (Ngạc nhiên) Tất nhiên là có chứ. 
Anh Thành : - Anh có thể giữ bí mật được không?
Anh Lê : - Có !
Anh Thành: - Tôi muốn ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, nhất là những lúc ốm đau.Anh muốn đi với tôi không?...
2.1.2. Dạy bài có nội dung về các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, tiến công, 
Đây là loại bài chiếm tỉ lệ khá cao trong chương trình lịch sử lớp 5, nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Do đó, giáo viên phải tái hiện sự kiện sinh động cụ thể, sử dụng câu hỏi về sự phát sinh của sự kiện. Nguyên nhân sâu xa hay trực tiếp, hoàn cảnh lịch sử của sự kiện. Mặt khác, đối với loại bài này phần quan trọng nhất là trình bày diễn biến của sự kiện lịch sử. Vì vậy phải cho học sinh nắm vững mốc thời gian bắt đầu diễn ra sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử, các đường tiến công, diễn biến trận đánh bằng cách nêu vấn đề, câu hỏi. Sau đó hướng dẫn học sinh tìm hiểu kết quả sự kiện đó và rút ra ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm, mối quan hệ nhân quả của sự kiện, thắng lợi hay thất bại đều có ảnh hưởng nhất định đối với lịch sử.
GV cần phải hướng dẫn HS trình bày được diễn biến trên lược đồ, xác định, mô tả được vị trí, khu vực, địa bàn nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa.
Ví dụ: Khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” giáo viên cần kết hợp trực quan với tường thuật để tái hiện 3 đợt tấn công của quân ta vào Điện Biên Phủ (Sử dụng lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ - giáo viên vừa
tường thuật vừa chỉ trên lược đồ) chẳng hạn:
“Ngày 13/03/1954, quân ta nổ súng mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong suốt 5 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, quân ta lần lượt tiêu diệt các vị trí phòng ngự quan trọng của địch ở phía Bắc như: Đồi Him Lam, Đồi Độc Lập, Bản Kéo. Trong đợt tiến công này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng, trong đó hình ảnh anh Phan Đình Giót ở trận đánh đồi Him Lam đã lấy thân mình lấp lổ Châu Mai cho đồng đội xông lên tiêu dịch địch là một tấm gương như thế ...”
2.1.3. Dạy các bài có nội dung về thành tựu văn hóa, khoa học - kĩ thuật.
Trong chương trình lớp 5 có 5 bài. Khi dạy, GV cần lưu ý:
- Phải mô tả được những đặc điểm nổi bật của công trình kiến trúc: quá trình xây dựng, quy mô, cấu trúc, kiểu dáng, nét điêu khắc, chạm trổ.
- Mô tả cách tổ chức giáo dục, thi cử, nội dung giáo dục của một thời kì
- Nêu được các thành tựu cơ bản về văn học, khoa học trong thời kì đó.
- Giáo dục ý thức, trách nhiệm bảo vệ các công trình nghệ thuật kiến trúc, văn hóa, khoa học cho HS. 
Trong mỗi bài GV cần khai thác triệt để tranh ảnh SGK và sưu tầm được.
2.1.4. Dạy các bài có nội dung về tình hình kinh tế- chính trị, văn hoá- xã hội.
- Trong chương trình lớp 5 là các bài: 4; 12; 13;16; 19; 21; 27 và 28
- Dạng bài này nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta sau mỗi thời kỳ (giai đoạn nhất định). 
- Để dạy tốt dạng bài này giáo viên cần:
+ Phải mô tả được: Tình hình nước ta (cuối thời kỳ hay sau thời kỳ nào đó) như thế nào? (tình cảnh đất nước, chính quyền, cuộc sống của nhân dân).
+ Trong tình cảnh đó chính quyền ( nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì?
+ Kết quả của việc làm đó.
- Sử dụng phương tiện trực quan: tranh ảnh, kênh hình kết hợp với mô tả sinh động nhằm tái tạo hình ảnh sinh động về sự kiện, hiện tượng, rèn luyện kỹ năng mô tả, nhận xét, đánh giá, so sánh, và liên hệ để học sinh hiểu rõ hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” giáo viên cần giúp học sinh nắm được: 
- Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám như thế nào? (Khó khăn chồng chất: Các đế quốc, các thế lực phản động chống phá cách mạng; lũ lụt, hạn hán, nông nghiệp đình đốn dẫn tới nạn đói, nạn dốt...)
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gì để giải quyết nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm? (Lập “ Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “ Ngày đồng tâm”, kêu gọi tăng gia sản xuất với khẩu hiệu: “ Không một tấc đất bỏ hoang!”, “ Tấc đất tấc vàng”, phát động “ Tuần lễ vàng”, phát động phong trào xoá nạn mù chữ; chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo...)
- Kết quả của những biện pháp đó là gì? (đẩy lùi giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm)
3. Biện pháp 3. Rèn kĩ năng sử dụng bản đồ - lược đồ cho học sinh.
Bản đồ - lược đồ phải được sử dụng thường xuyên trong mọi khâu của quá trình dạy học giúp học sinh vừa tìm tòi, lĩnh hội kiến thức vừa phát triển kĩ năng sử dụng bản đồ - lược đồ. Để giúp học sinh có khả năng làm việc độc lập với bản đồ - lược đồ, giáo viên cần chú trọng việc hình thành và phát triển ở học sinh một số kĩ năng như: xác định phương hướng, tìm và chỉ vị trí, mô tả một đối tượng lịch sử dựa vào bản đồ - lược đồ qua các loại bài tập như: Tô màu theo kí hiệu; vẽ mũi tên chỉ đường tiến quân; dựa vào lược đồ thuật lại trận đánh; điền vào chỗ chấm; điền đúng – sai; khoanh vào đáp án đúng... Để HS có thể xác định được phương hướng trên bản đồ, giáo viên yêu cầu học sinh thuộc và nhớ các quy định về phương hướng. Với những bản đồ - lược đồ tỉ lệ lớn, ta thường quy ước: Phía trên bản đồ là hướng Bắc, phía dưới là hướng Nam, bên phải là hướng Đông, bên trái là hướng Tây.Mặt khác, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách chỉ vị trí một đối tượng trên bản đồ như thế nào là đúng. Ví dụ: khi chỉ vị trí một dòng sông thì học sinh phải tìm vị trí của dòng sông đó, phải chỉ xuôi theo dòng nước chảy từ thượng nguồn đến hạ nguồn, cửa sông.
4. Biện pháp 4. Sử dụng trò chơi học tập trong phân môn lịch sử.
Mỗi trò chơi nói chung đều nhằm mục đích củng cố kiến thức, kĩ năng cụ thể, hoặc cung cấp những tri thức tổng hợp.
4.1. Cấu trúc một trò chơi:
- Mục đích của trò chơi.
- Luật chơi: Chỉ rõ các quy định đối với người chơi, quy định thắng thua.
- Đồ dùng, đồ chơi: Mô tả đồ dùng, đồ chơi được sử dụng trong khi chơi.
- Số người tham gia chơi.
	4.2. Cách tổ chức trò chơi:
	- Các trò chơi được tổ chức theo nhóm hoặc cả lớp.
- Việc chuẩn bị các trò chơi đơn giản, dễ làm, dễ tìm : bìa giấy cũ được dán, mẩu dây thép, sợi dây, bông hoa giấy, thẻ chữ...hoặc qua mạng Internet, giáo viên xây dựng trên máy tính có thể sử dụng được nhiều lần, nhiều năm.
	- Giáo viên phải hướng dẫn cụ thể cách chơi rồi sau đó các nhóm tự đánh giá, giám sát lẫn nhau. Ngoài ra, giáo viên phải có nhận xét, khích lệ học sinh.
	4.3.Cách tiến hành trò chơi như sau:
- Nêu tên trò chơi.
- Hướng dẫn cách chơi, vừa mô tả vừa thực hành.
- Phân nhóm chơi.
- Chơi thử (một số trường hợp có thể bỏ qua).
- Nhấn mạnh luật chơi nhất là những lỗi lầm gặp ở phần chơi thử.
- Chơi thật, xử "phạt" những người vi phạm luật chơi.
4.4. Một số trò chơi được sử dụng trong phân môn lịch sử:
4.4.1. Trò chơi “Ô chữ kì diệu”
4.4.1.1 Mục đích: Cung cấp, củng cốlại những thông tin về thời gian, địa điểm, các sự kiện lịch sử, các địa danh lịch sử.
4.4.1.2. Yêu cầu:Nội dung, số lượng các ô chữ cần ngắn gọn, vừa đủ với thời lượng cho phép và phong phú về hình thức nêu câu hỏi để tránh sự lặp lại, đơn điệu gây nhàm chán cho học sinh.
4.4.1.3. Cách thức tiến hành: 
Bước 1: - Xây dựng hệ thống ô chữ (thực hiện trên bài giảng Powerpoint).
- Xác định những kiến thức cần hệ thống.
- Xác lập ô chữ hàng dọc à xác lập các ô chữ hàng ngangà tạo các nút liên kết với phần gợi mở và đáp án.
Bước 2: Tổ chức cho học sinh thực hiện trò chơi.
Bước 3: Tổng kết, đánh giá và trao thưởng cho các đội chơi.
4.4.2. Trò chơi “Những mảnh ghép bí ẩn”
4.4.2.1. Mục đích: Nhằm mục đích tạo cho các em sự đam mê khám phá, kích thích tính tò mò, sự ham hiểu biết và khả năng thể hiện bản thân. 
4.4.2.2. Yêu cầu: GV cần lựa chọn bức ảnh mang thông điệp lịch sử chính; hệ thống câu hỏi rõ ràng, tường minh nhằm mục đích xâu chuỗi các sự kiện, nhân vật, địa danh lịch sử cần củng cố, phù hợp với thời gian cho phép.4.4.2.3. Chuẩn bị:
- Soạn nội dung bằng powerpoint.
- Chuẩn bị một số thẻ điểm (sử dụng thẻ trắc nghiệm).
4.4.2.4. Cách thực hiện: 
- Thành lập đội chơi (mỗi dãy là một đội), giáo viên lần lượt gọi các cá nhân ở mỗi đội, cá nhân nào trả lời đúng đội đó được 1 thẻ điểm.
- Thông qua nội dung, cách thức thực hiện. 
- HS lần lượt chọn các mảnh ghép à tìm hình ảnh hoặc thông tin ẩn sau mỗi mảnh ghép để khám phá nội dung bức tranh lớn đề cập tới (cá nhân).
4.4.3. Trò chơi “Rung chuông vàng”
Trò chơi Rung chuông vàng cũng là trò chơi HS rất thích. Trò chơi này vừa củng cố được một khối lượng lớn kiến thức vừa huy động một khối lượng lớn người tham gia chơi. Mặt khác nó rất dễ thiết kế, giáo viên không phải mất nhiều thời gian vào việc chuẩn bị trò chơi.
III. KẾT QUẢ
Qua một quá trình áp dụng các biện pháp trên, tôi nhận thấy: Ngoài việc tự chiếm lĩnh các kiến thức, các em còn có sự say mê, ham thích, tích cực trong việc sưu tầm các thông tin, tư liệu, hình ảnh về các sự kiện, nhân vật lịch sử để cùng nhau trao đổi trong các tiết học, giúp học sinh từ người bị động tiếp nhận kiến thức thành người chủ động đi tìm kiến thức, biết chắp nối sự kiện, khái quát vấn đề. Học sinh cảm nhận được những hi sinh, mất mát to lớn của những người đi trước, những chuyển biến về nhiều lĩnh vực xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóatrong các giai đoạn lịch sử khác nhau để từ đó ý thức được việc giữ gìn những thành quả của cha ông trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. 
Giữa học kì 2, sau khi áp dụng các biện pháp trên, tôi đã khảo sát lại hứng thú học tập của họcsinh đối với môn Lịch sử và kết quả thu được thật đáng mừng:
Khối
Sĩ số
HS hứng thú, yêu thích môn LS
HS học vì yêu cầu bắt buộc của GV
HS không thích học môn LS
SL
%
SL
%
SL
%
5
146
122
83.6
24
16.4
0
0
Kết quả kiểm tra môn Lịch sử học kì 1 năm học 2018 – 2019 cũng khá tốt:
Khối
Sĩ số
10
9
8
7
6
5
<5
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
5
146
82
56.2
28
19.2
15
10.3
11
7.5
5
3.4
5
3.4
0
0
Qua kết quả khảo sát trên cho thấy số lượng học sinh hoàn thành tốt đã tăng lên nhiều, không còn học sinh chưa hoàn thành môn học. Điều đó càng khẳng định việc áp dụng các biện pháp trên vào giảng dạy là đúng đắn trong việc nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử nói riêng và quá trình giảng dạy ở Tiểu học nói chung.
PHẦNIII- KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Muốn học sinh được khám phá môn học Lịch sử một cách hứng thú và hiệu quả thì mỗi giáo viên là một "thực tiễn giáo dục" phong phú mà ở đó, học môn Lịch sử là một quá trình khám phá, giải mã, suy ngẫm về quá khứ thông qua các nguồn sử liệu, từ đó hình thành nên nhân cách, phẩm chất, năng lực người học. Còn học sinh trở thành "nhà sử học nhỏ" thay vì là một "cỗ máy" ghi nhớ các sự kiện, đánh giá. Cần làm cho giờ học Lịch sử thành sân chơi tri thức đầy sáng tạo.Để đạt được như vậy, bản thân mỗi giáo viên không ngừng nâng cao tay nghề về chuyên môn nghiệp vụ. Khi dạy các tiết học Lịch sử cần có tranh ảnh liên quan đến kiến thức Lịch sử đây là cách để tuyên truyền lịch sử hiệu quả nhất. Cần phải hướng dẫn kỹ cho học sinh sưu tầm tư liệu, sau đó kiểm tra sự chuẩn bị của các em và quan tâm các nhóm, các học sinh chưa hoàn thành, tuyên dương, động viên những nhóm học sinh làm tốt nhiệm vụ mà giáo viên giao để khuyến khích các em, tạo cho các em niềm say mê, yêu thích môn học. Kết hợp và lựa chọn sáng tạo với các phương pháp dạy học tích cực khác (dạy học nêu vấn đề, ứng dụng công nghệ thông tin, mô hình trường học VNEN... ) mà ngành giáo dục đã và đang triển khai. Muốn làm được điều đó, giáo viên phải thực hiện: Nắm vững chương trình, đặc trưng phương pháp bộ môn. Sưu tầm tư liệu, tranh ảnh, phim để minh hoạ, có như vậy mới tạo hiệu quả cao trong những tiết lịch sử. Một yếu tố rất quan trọng để thu hút, gây húng thú học tập cho học sinh là ngôn ngữ, giọng điệu, sự nhiệt tình của giáo viên trong giảng dạy tạo không khí hào hứng tức là “truyền lửa” cho học sinh.Cần tập cho học sinh cách ghi bài và hệ thống kiến thức đã học một cách cô đọng, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, thói quen nhìn nhận sự kiện dưới nhiều góc độ khác nhau, đặt giả thuyết khi lý giải hiện tượng. Giáo viênphải thường xuyên cập nhật thông tin, tự tìm hiểu và áp dụng các phương pháp mới vào dạy học.
II. KHUYẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Sở và Bộ cần tạo điều kiện trang bị cho nhà trường các bộ tranh ảnh, các đoạn phim hoạt hình, tư liệu về nhân vật, chiến dịch, cuộc kháng chiến.
Cung cấp thêm sách tham khảo, tư liệu lịch sử cho giáo viên.
Bổ sung các trang thiết bị hiện đại để khai thác hiệu qua các đoạn phim, tư liệu lịch sử trên mạng. Tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng chương trình tin học, bồi dưỡng kiến thức về lịch sử cho đội ngũ giáo viên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_gay_hung_thu_cho_hoc.docx
Sáng Kiến Liên Quan