Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình trong SGK Lịch sử 8

Trên thực tế đa số giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy nhưng còn chưa quan tâm khai thác kênh hình SGK hoặc dùng kênh hình như là hình ảnh minh họa mà quên đi chính đó là tư liệu không thể thiếu được trong việc dạy học lịch sử. Vì vậy việc khai thác nội dung kênh hình trong SGK là vấn đề quan trọng trong việc thực hiện vấn đề tái tạo lịch sử, biểu tượng lịch sử.

Phương pháp học tập khai thác nội dung kênh hình trong SGK là một phần phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Làm thế nào để học sinh tìm hiểu kiến thức qua kênh hình, từ đó giúp các em nắm chắc, nhớ lâu được kiến thức.

Với phương pháp này, học sinh tự giác chủ động lĩnh hội kiến thức, tăng thêm sự hứng thú trong học tập

 

doc26 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 25/12/2015 | Lượt xem: 2240 | Lượt tải: 75Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình trong SGK Lịch sử 8", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g nước bọn nổi loạn khắp nơi, nền độc lập bị đe dọa” 
 -Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS và hoàn chỉnh nội dung lược đồ cần cung cấp cho HS là: nước Pháp gặp khó khăn về ngoại xâm và nội loạn trong nước ngoài ra còn có thêm một số khó khăn trong nước nạn đầu cơ tích trữ hoành hành, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân đói khổ.
 Với cách sử dụng nêu trên giáo viên đã khắc phục những nhược điểm của cách dạy cũ như là (GV dựa vào lược đồ để trình bày diễn biến lịch sử, học sinh chỉ ngồi nghe), bây giờ thông qua quan sát bản đồ, đọc ký hiệu được biểu diễn trên bản đồ học sinh đã tự phát hiện được nội dung lịch sử. Như vậy từ vị trí thầy là người chủ động, trò thụ động trong giờ học đã chuyển sang thầy là người hướng dẫn tổ chức thực hiện còn trò là người chủ động tự mình tìm kiếm, khai thác kiến thức trong hoạt động học tập và trình bày trước tập thể lớp. Việc sử dụng bản đồ lịch sử đã góp phần phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng đọc bản đồ, củng cố thêm kiến thức địa lícho học sinh
b.Sử dụng tranh, ảnh lịch sử :	
	Do hiện thực lịch sử là hiện thực quá khứ nên học sinh không được tiếp xúc với các sự kiện, hiện tượng, nhân vật, quá trình lịch sử. Mặt khác, do lịch sử là quá khứ, gần hoặc xa, thậm chí rất xa và nội dung của những thời đại xa xưa ấy lại có nhiều điều khác, thậm chí rất khác với thời đại hiện nay nên con người hiện nay không dễ gì hình dung và cắt nghĩa được những gì đã từng xảy ra trước kia. Vì những lý do nêu trên, tranh hay ảnh lịch sử luôn luôn được xem là những tư liệu lịch sử quý. Khai thác tranh, ảnh lịch sử là một trong những cách tiếp cận lịch sử tốt nhất, có khả năng đưa lại hiệu quả giáo dục cao nhưng lại không phải là một công việc đơn giản, dễ thực hiện. Ở đây, ngoài vấn đề nhận thức nội dung lịch sử qua tư liệu tranh hay ảnh lịch sử còn có vấn đề rèn luyện óc quan sát và khả năng vận dụng phương pháp mô tả. Nhiều thầy, cô giáo có kinh nghiệm cho rằng, việc rèn luyện cho học sinh các kỹ năng vừa nêu thường đạt hiệu quả cao khi các em được tiếp cận với các tư liệu tranh, ảnh dưới sự hướng dẫn có phương pháp, có kế hoạch của giáo viên. Cụ thể như sau:
b.1.Tranh nhân vật lịch sử: 
	Sử dụng chân dung các nhân vật lịch sử có ý nghĩa rất lớn trong học tập lịch sử, cần chú ý đến mục đích giáo dục, giáo dưỡng và phát triển tư duy. Để giúp HS học cách tiếp cận lịch sử qua tranh nhân vật lịch sử chúng ta có thể hướng dẫn các em đi theo những bước và tìm hiểu theo hướng sau: 
Trước tiên, GV phải xác định nội dung cần khai thác từ tranh nhân vật lịch sử:
 *Ở mức độ 1: tiếp cận đầu tiên tranh các nhân vật lịch sử, học sinh cần tìm hiểu: Ngày tháng năm sinh và mất, đặc điểm về nhận dạng.
 *Ở mức độ 2: Đi sâu hơn, học sinh cần tìm hiểu: thái độ lập trường, quan điểm chính trị, tư tưởng của nhân vật lịch sử đang được tìm hiểu được thể hiện qua những chi tiết nào? 
 Có rất nhiều nhân vật lịch sử được đưa vào chương trình giảng dạy nên trong quá trình giảng dạy giáo viên phải tùy theo nhân vật lịch sử để xác định mức độ khai thác kiến thức với từng tranh nhân vật lịch sử cho phù hợp với yêu cầu của bài học chứ không nhất thiết phải thực hiện hết các yêu cầu đã nêu trên. Riêng đối với các anh hùng dân tộc, lãnh tụ cách mạng phải lưu ý làm nổi bật tính cách của nhân vật ấy thông qua việc miêu tả hình thức bề ngoài, hay nêu khái quát ngắn gọn tiểu sử của nhân vật ấy làm cho học sinh hứng thú, kích thích óc tò mò, phát triển năng lực nhận thức.
 Sau đó giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh hoạt động theo các bước sau:
 -Bước 1:Cho HS quan sát tranh, ảnh để xác định một cách khái quát nội dung tranh ảnh cần khai thác.
 -Bước 2: GV đưa ra câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức, hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung tranh ảnh.
 -Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh sau khi đã quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung bài học.
 -Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của học sinh, hoàn thiện nội dung khai thác tranh, ảnh cho HS
 Ví dụ: Hình 44.Tôn Trung Sơn (1866 – 1925) trang 61(Bài 10: Trung Quốc cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX
H44.Tôn Trung Sơn(1866-1925)
Bước 1: GV yêu cầu học sinh nêu những thông tin về nhân vật Tôn Trung Sơn qua Hình 44. (HS sẽ trình bày năm sinh và mất, đặc điểm về nhận dạng của Tôn Trung Sơn là: sinh năm 1866 mất năm 1925, tóc ngắn, bận âu phục)
 Bước 2: GV nêu tình huống vấn đề để học sinh khai thác nội dung của tranh nhân vật: Đặc điểm nhận dạng đã thể hiện lập trường, quan điểm chính trị, tư tưởng của ông có điểm gì khác với những người cùng thời? (Đặc điểm nhận dạng: tóc, trang phục...).
 Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh.
 Bước 4: Giáo viên nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiệu nội dung khai thác tranh ảnh cho HS:(Đặc điểm nhận dạng: tóc ngắn, bận âu phục khác với những người cùng thời là tóc đuôi sam, áo dàithể hiện tư tưởng canh tân, theo tây học của giai cấp tư sản trong lòng xã hội phong kiến Trung Quốc).
 Dựa vào tài liệu tham khảo ở sách giáo viên, giáo viên kể cho học sinh một số nét về tiểu sử của ông: Tôn Trung Sơn (1866 – 1925), vốn tên là Văn, tự Dật Tiên, xuất thân trong một gia đình nông dân tỉnh Quảng Đông. Thuở hàn vi, ông vốn đồng cảm với những người dân nghèo khổ, lớn lên được người anh là một nhà tư bản cho đi du học ở Mĩ, Anh. Năm 1882, ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa ở Hồng Kông. Từ 1902 đến 1905, ông đã từng đi nhiều nước trên thế giới: qua Hà Nội (Việt Nam), Nhật Bản, Mĩ,Châu ÂuNăm 1905, tại Tô-ki-ô (Nhật Bản), ông thành lập Trung Quốc Đồng minh hội và chịu ảnh hưởng của các nước tư bản nên chủ trương tiến hành cách mạng tư sản.
 Như vậy ngoài việc dùng ảnh nhân vật để giới thiệu hình dạng nhân vật lịch sử giáo viên còn có thể khai thác quan điểm, lập trường giai cấp của nhân vật đó từ đồ dùng dạy học này và đã tạo học sinh một ấn tượng sâu sắc về nhân vật lịch sử vừa học.
 b.2.Tranh biếm họa: Trong quá trình khai thác tranh biếm họa, hãy chỉ ra nét vẽ có tính biếm họa và ý nghĩa châm biếm ( nhẹ nhàng hay sâu cay) hoặc ở mức độ đả kích của bức tranh, qua đó nêu nhận xét về thái độ của tác giả đối với sự kiện, hiện tượng hay thời kì lịch sử đó. Để giúp HS học cách tiếp cận lịch sử qua tranh lịch sử chúng ta có thể hướng dẫn các em đi theo những bước tìm hiểu như sau:
 Bước 1: Hướng dẫn học sinh quan sát tranh ảnh để xác định một cách khái quát nội dung tranh ảnh cần khai thác.
 Bước 2: GV đặt vấn đề để học sinh phát hiện nội dung được thể hiện của tranh biếm họa: Chi tiết biếm họa? mục đích biếm họa?
 Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh sau khi đã quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung bài học.
 Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiện nội dung khai thác tranh, ảnh cho HS
 Ví dụ Hình 42: Các nước đế quốc xâu xé “cái bánh ngọt” Trung Quốc, trang 59. (Bài 10: Trung Quốc cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX).
Hoạt động dạy học được thực hiện như sau:
-Bước 1:
Cho học sinh quan sát H 42, xác định một cách khái quát nội dung tranh ảnh. (Trung Quốc được xem như một cái bánh ngọt, các nước đế quốc đang xâu xé cái bánh ngọt TQ)
 -Bước 2: Đặt vấn đề: Vì sao lại ví Trung Quốc như một cái bánh ngọt khổng lồ mà không phải là một khúc xương chẳng hạn?
 -Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh ảnh sau khi quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung trong bài học.(Bánh ngọt có đặc điểm ngon và dễ ăn. Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, đông dân và nhiều tài nguyên (ngon), chế độ phong kiến Trung Quốc lại đang suy yếu (dễ ăn).
 -Bước 4: GV kết luận: Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, đông dân và nhiều tài nguyên, chế độ phong kiến Trung Quốc lại đang suy yếu nên đây chính là nguyên nhân các nước đế quốc tranh nhau xâm chiếm Trung Quốc và bổ sung thêm nội dung bức tranh: những người trong H42 từ trái sang phải là Hoàng đế Đức, Tổng thống Pháp, Nga hoàng, Nhật hoàng, Tổng thống Mĩ, Thủ tướng Anh.
 Với cách tổ chức hoạt động dạy học: từ chi tiết biếm họa của bức tranh để rút ra được kiến thức (từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng) đã giúp học sinh chủ động tìm ra, hiểu, khắc sâu kiến thức qua một hình ảnh ấn tượng khó quên: 
Cái bánh ngọt lớn = Trung Quốc rộng lớn
Cái bánh ngọt ngon = Trung Quốc nhiều tài nguyên, dân đông 
Cái bánh ngọt mềm, dễ ăn = Trung Quốc có chế độ PK suy yếu
àđây là nguyên nhân các đế quốc xâu xé đất nước Trung Quốc.
 b.3 Tranh lịch sử: Tranh ảnh được đưa vào trong giảng dạy Lịch Sử ở trường phổ thông có ý nghĩa hết sức to lớn, không chỉ là nguồn kiến thức, có tác dụng giáo dục tư tưởng tính cách mà còn phát triển tư duy cho học sinh. Bản thân tranh ảnh không thể gây được sự quan sát tích cực của học sinh nếu như nó không được quan sát trong những tình huống có vấn đề, trong những nhu cầu cần thiết phải trả lời một vấn đề cụ thể. Qua tranh ảnh lịch sử, học sinh sẽ tiếp cận lịch sử theo các bước sau:	 
 Bước 1: GV xác định nguồn gốc, thời điểm của bức tranh, cách thể hiện nội dung của tác giả trên tranh ảnh.	
 Bước 2: Cho HS rút ra nội dung kiến thức được thể hiện qua tranh lịch sử.
 Bước 3: GV nêu yêu cầu cụ thể cho HS xử lí thông tin tiếp nhận từ tranh ảnh lịch sử
 Bước4: GV nhận xét, bổ sung hoàn thiện ý kiến trả lời của HS 
 Ví dụ: Hình 99. Nông dân Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc (Bài 29: Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những chuyển biến về kinh tế, xã hội ở Việt Nam)
Buớc 1: GV xác định đây hình ảnh người nông dân Việt Nam cày ruộng dưới thời Pháp thuộc. (người nông dân dưới thời Pháp thuộc lưng trần, nón cời, gầy yếu, hai người đang kéo cày thay cho trâu). 
 Bước 2: GV đưa ra câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức, hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung tranh, ảnh: Cuộc sống người nông dân dưới thời Pháp thuộc so với trước như thế nào? 
 Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh sau khi đã quan sát, kết hợp gợi ý của GV và tìm hiểu nội dung bài học. 
 Bước 4: GV nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiện nội dung khai thác tranh ảnh cho học sinh.(Người nông dân dưới thời Pháp thuộc phải kéo cày thay trâu, lưng trần, nón cời, gầy ốmchứng tỏ người nông dân bị bần cùng hóa hơn so với thời phong kiến)
 Với cách sử dụng tranh ảnh như vậy, GV vừa khai thác nội dung lịch sử thể hiện qua tranh ảnh, vừa phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh mà còn có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, cảm xúc, thẩm mĩ rất lớn. Ngắm nhìn bức tranh Nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc học sinh sẽ có những tình cảm mạnh mẽ về nỗi cực khổ của người dân mất nước (kéo cày thay trâu), lòng căm thù bọn xâm lược cai trị, ý thức đấu tranh giành độc lập
 c. Sơ đồ:
 Đây là một tài liệu học tập diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện lịch sử bằng mũi tên trên hệ trục tọa độ có thời gian và sự kiện. Yêu cầu đặt ra cho học sinh là quan sát, rút ra ý nghĩa của đường biểu diễn trên một đồ thị, qua đó hình dung và hiểu được hiện thực lịch sử.
 Hoạt động tổ chức dạy học khi sử dụng đồ thị phản ánh nội dung lịch sử như sau:
 -Đồ thị phản ánh thông tìn gì vào giai đoạn lịch sử nào, ở đâu?
 -Nhận xét: Từ khởi đầu đến kết thúc, hiện tượng lịch sử được phản ánh qua đường biểu diễn phát triển theo chiều tăng lên hay giảm đi? Hoặc giữ mức thăng bằng, không tăng, không giảm? Từng giai đoạn? Nhịp điệu biến đổi?
 -So sánh các đường biểu diễn (nếu trên đồ thị có nhiều đường biểu diễn) để tìm hiểu đặc điểm mỗi đường, mối liên hệ giữa các đường
 -Rút ra nguyên nhân hoặc hậu quả của các hiện tượng lịch sử đó.
 Ví dụ: Hình 62. Sơ đồ so sánh sự phát triển của sản xuất thép giữa Anh và Liên Xô trong những năm 1929 – 1931.(Bài 17: Châu Âu giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939)-Trang 87)
-Bước 1: Giáo viên giới thiệu hình 62 trang 90 - Sơ đồ so sánh sự phát triển của sản xuất thép giữa Anh và Liên Xô trong những năm 1929 – 1931
-Bước 2: Qua sơ đồ trên, em có nhận xét gì về tình hình sản xuất thép ở Liên Xô và Anh trong những năm 1929 – 1931? nêu nguyên nhân?
-Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung sau khi đã quan sát, kết hợp gợi ý của GV về việc lien hệ với khái niệm khủng hoảng kinh tế đã học và tìm hiểu nội dung bài học.
-Bước 4: GV nhận xét bổ sung ý kiến trả lời của HS, hoàn thiện nội dung khai thác tranh cho HS.( Sản xuất của Liên Xô tăng dần từ 1929 đến 1931 do phục vụ cho công nhân, sản xuất của Anh tăng dần đến nửa đầu 1930 và đến 1931 giảm rất nhanh do chủ tư bản chạy theo lợi nhuận dẫn đến khủng hoảng kinh tế thừa) 
 Bằng cách sử dụng kiến thức liên môn: kĩ năng sử dụng biểu đồ, đồ thị ở môn Địa, giáo viên đã hướng dẫn học sinh khai thác hết các nội dung kiến thức thể hiện trên đồ thị để nghiên cứu lịch sử và hiểu được bản chất của hiện tượng lịch sử. 
 - Lược đồ là công cụ để giáo viên khai thác và truyền đạt kiến thức, là phương tiện để dẫn dắt học sinh tìm ra những nội dung chủ yếu của bài, có thể nói hầu như mọi kiến thức cơ bản của bài đều có trên lược đồ. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần chú ý đặt câu hỏi nêu vấn đề trên cơ sở quan sát lược đồ làm như vậy chẳng những giúp học sinh nắm nội dung bài một cách dễ dàng sinh động, mà còn tăng cường rèn luyện kỷ năng chỉ đọc bản đồ và bồi dưỡng khả năng tư duy. 
Qua quá trình thực hiện tôi có những nhận xét sau:
*Khi chưa thực hiện các biện pháp như đã nêu ở trên
- Học sinh chỉ xem các kênh hình trong SGK là nhằm để giải trí mà thôi.
- Lười biếng học bài, không chuẩn bị bài
- Việc tiếp thu kiến thức mới có mức độ, các em có cảm giác giờ học lịch sử rất khô khan.
* Khi thực hiện những biện pháp trên tôi nhận thấy có những ưu điểm:
- Tiết học sinh động, sôi nổi. Học sinh tích cực phát biểu ý kiến xây dựng bài. Đa số chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
-Qua việc thực hiện khai thác nội dung kênh hình trong SGK. Học sinh nắm vững kiến thức về lịch sử, phát triển tư duy và kĩ năng nhận xét, phân tích tốt tự kiểm tra đánh giá về nhận thức của mình.
- Trong học tập gây hứng thú, tìm tòi học hỏi phấn khởi, không xem nhẹ môn lịch sử, yêu thích bộ môn hăng hái tham gia phát biểu ý kiến xoay quanh câu hỏi của giáo viên để khai thác nội dung các kênh hình trong bài học.
Kết quả cụ thể:
 Tôi nhận thấy sau khi thực hiện khai thác nội dung kênh hình trong SGK đã góp phần chuyển biến trong học tập của học sinh, đạt chất lượng cao hơn so với đầu năm học qua bảng thống kê kiểm tra ở các giai đoạn cho thấy kết quả cụ thể sau:
LỚP
TSHS
Đầu năm trung bình trở lên
Học kì I
(Trung bình trở lên)
Giữa học kì II
(Trung bình trở lên)
8A3
38
SL
%
SL
%
SL
%
27
71,1
34
89,5
36
94.,7
 Việc thực hiện phương pháp trên trong bài giảng góp phần tạo kết quả học tập của học sinh lần sau cao hơn lần trước. Điều đó đã khẳng định, việc khai thác nội dung kênh hình trong SGK là một trong những phương pháp để nâng cao chất lượng học tập của học sinh, giúp học sinh nắm vững và nhớ lâu được kiến thức đã học, mang lại hiệu quả cao trong học tập.
 Để có được kết quả này trong quá trình thực hiện tôi cũng gặp không ít khó khăn, vì phải thường xuyên theo dõi, động viên, khuyến khích, kiểm tra nắm khả năng để điều chỉnh và chọn biện pháp hiệu quả hơn nhưng được bù lại là điểm số và chất lượng các giai đoạn tăng lên đó là dấu hiệu đáng mừng đối với giáo viên.
Nhìn chung trong quá trình thực hiện đa số các em nắm bài tự tin hơn, khắc sâu kiến thức hơn và giảm bớt học máy móc, học thuộc lòng. Từ đó, nắm vững hơn qui luật, những chuyển biến lịch sử một cách vững vàng hơn.
Như vậy, việc áp dụng khai thác nội dung kênh hình trong SGK trong bộ môn lịch sử là một vấn đề cần thiết và quan trọng, là tài liệu, bạn đồng hành của học sinh, là phương tiện để học bài cũ, chuẩn bị bài mới. Mỗi học sinh đều có SGK trong tay nên việc sử dụng các kênh hình trong SGK thuận lợi, do đó giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhận thức tái tạo lịch sử. Nguồn cảm hứng của học sinh được tạo ra sẽ làm cho học sinh tự giác chủ động theo dõi ghi chép bài và theo dõi các vấn đề lịch sử, say mê tìm hiểu và yêu thích môn lịch sử.
C. KẾT LUẬN
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học đã được đặt ra một cách cần thiết cùng với xu thế đổi mới giáo dục chung của thế giới, trong việc đổi mới cải tiến phương pháp dạy học, việc phát huy tính tích cực của học sinh rất có ý nghĩa. Bởi vì xét cho cùng công việc giáo dục phải được tiến hành trên cơ sở tự nhận thức, tự hành động. Cho nên việc phát triển tư duy, năng lực nhận thức và hiểu biết kiến thức thông qua việc khai thác nội dung kênh hình ở SGK trong việc giảng dạy lịch sử để học sinh nhận xét, so sánh là chủ yếu.
Với vai trò chủ đạo, giáo viên tổ chức hoạt động học tập cho học sinh thể hiện vai trò chủ động của mình. Để thực hiện giáo viên phải xử lý tốt các nội dung bài giảng, sử dụng khai thác tốt các kênh hình tạo tình huống có vấn đề để dẫn học sinh đi vào những hoạt động tư duy cần thiết, bồi dưỡng phát triển khả năng suy nghĩ và tư duy của học sinh, giáo dục tính mạnh dạn, tự tin trong học tập, say mê nghiên cứu, tìm hiểu về khoa học lịch sử. Có như vậy mới giúp chúng ta hoàn thành tốt mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Điều này đã khẳng định việc khai thác nội dung kênh hình trong SGK trong giảng dạy lịch sử là phương pháp đúng đắn. Nếu thực hiện tốt chủ trương và các biện pháp này thì chắc chắn chất lượng đào tạo giáo dục sẽ ngày càng cao. Dạy học là một nghệ thuật đòi hỏi người thầy phải không ngừng học hỏi và rèn luyện, nắm vững những nguyên tắc cơ bản đã nêu trên cùng với sự sáng tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm để phát huy tính tích cực, độc lập học tập của học sinh. Có như thế lớp trẻ mà ta đang đào tạo mới thực sự là con người mới năng động, sáng tạo.
Thực hiện tốt những yêu cầu trên sẽ giúp cho giáo viên thành công trên bục giảng. Học sinh hứng thú học tập bộ môn, xóa đi tư tưởng môn lịch sử là môn phụ.
Đề tài luôn áp dụng trong suốt quá trình dạy học. Tôi nghĩ, đây là hình thức dạy học sẽ mang lại hiệu quả cao không những chỉ trong giảng dạy lịch sử 8 mà có thể nhân rộng ra các khối 6,7,8,9 ở toàn trường và các trường bạn.
Để nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong việc khai thác nội dung kênh hình SGK trong dạy học lịch sử. Hướng nghiên cứu kế tiếp của đề tài tiếp tục rút kinh nghiệm, tăng cường tính cụ thể, tính hình ảnh của các thông tin các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử,. Tạo điều kiện để học sinh độc lập giải quyết các vấn đề học tập được tự do trình bày những ý kiến riêng của mình đối với việc học tập lịch sử. Từ đó, học sinh lĩnh hội được nội dung học tập mới theo tinh thần tự khám phá, Tự phát hiện. Để hoàn chỉnh những hình thức, những biện pháp thực hiện và tăng cường tính chất sư phạm trong việc giảng dạy nâng cao hiệu quả giáo dục tốt hơn nữa.
 Thi Trấn, ngày 05 tháng 04 năm 2011
 Giáo viên thực hiện
 Lưu Thị Huệ
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Phương pháp luận sử học của bộ giáo dục – đào tạo – đại học Huế. Chủ biên Phan Ngọc Liên.
2.Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sách giáo khoa lớp 8 môn lịch sử.
Biên soạn: Phan ngọc liên, Nguyễn Ngọc Cơ, Trần Thị Vinh 
3.SGK, SGV lịch sử 8 – Nhà xuất bản giáo dục. Bộ giáo dục – đào tạo, chủ biên Phan Ngọc Liên, Nguyễn Ngọc Cơ, Trần Thị Vinh.
4.Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ III (2004-2007) môn lịch sử của bộ giáo dục – đào tạo.
5.Báo cáo việc thực hiện nghị quyết trung Ương khóa VII và phương hướng phát triển giáo dục từ nay đến năm 2005 và 2010 của ban chấp hành trung Ương.
MỤC LỤC
 I.BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI . Trang1 
A.MỞ ĐẦU.............3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Đối tượng nghiên cứu..4
3. Phạm vi nghiên cứu.4
4. Phương pháp nghiên cứu.4
5.Gỉa thuyết khoa học .4
B. NỘI DUNG.6
1.Cơ sở lý luận.6
2. Cơ sở thực tiển.7
3. Nội dung vấn đề...8
C.KẾT LUẬN23
Tài liệu tham khảo..25

File đính kèm:

  • docSang_kien_kinh_nghiem_su_8.doc