SKKN Một số giải pháp nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh trong ôn thi THPT Quốc gia qua phần dạy các nước Á, Phi và Mĩ La Tinh (1945-2000) Lịch sử Lớp 12 THPT
Cơ sở thực tiễn:
II.2.1. Thuận lợi.
- Trong hệ thống các môn học ở trường THPT trong đó có môn Lịch sử có
vai trò quan trọng, trong việc giáo dục giáo dưỡng HS lòng yêu quê hương đất
nước, lòng tự hào dân tộc là hành trang quan trọng, trước khi học sinh rời mái
Trường THPT, bước vào môi trường mới.
- Được sự quan tâm của Chi bộ, Ban giám hiệu và các đoàn thể trong
trường THPT.
- Thầy, cô giáo cùng bộ môn đều nhiệt tình tích cực, trong cải tiến phương
pháp, luôn học tập trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, thông qua hội thảo, thao
giảng, sử dụng công nghệ thông tin. góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
môn Lịch sử.
- Một bộ phận học sinh yêu thích và quyết tâm học tập môn Lịch sử như
tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi cấp trường, cấp tỉnh, đăng kí lớp ôn thi đại
học khối C; tham gia câu lạc bộ “em yêu lịch sử” của trường.
- Chất lượng học tập bộ môn Lịch sử của học sinh ở các lớp tôi phụ trách
giảng dạy và kết quả thi THPT Quốc gia hàng năm ngày càng tăng là động lực
để tôi nỗ lực, phấn đấu và đầu tư nhiều hơn nữa cho việc nghiên cứu giảng dạy
bộ môn Lịch sử này.
II.2.2. Khó khăn
- Quan niệm chưa đầy đủ của một số nhà quản lý giáo dục, phụ huynh học
sinh và cả giáo viên về ôn thi THPT Quốc gia.
- Học sinh chưa đầu tư quỹ thời gian thường xuyên cho việc học môn
Lịch sử, việc tự học, tự nghiên cứu thêm tài liệu để phục vụ môn học còn rất ít,
chưa biết lập kế hoạch cụ thể cho việc học.
- Khối lượng kiến thức môn Lịch sử ở một số bài còn dàn trải khá nặng,
một số giáo viên còn bị động trong khai thác kiến thức, chưa mạnh dạn để học
sinh tự tìm hiểu một phần kiến thức nào đó trong bài dưới sự hướng dẫn của
giáo viên.
- Đề THPT Quốc gia gồm lịch sử lớp 11 và lớp 12, trong đó có nhiều câu
hỏi ở mức độ vận dụng cao. Những câu hỏi ở mức độ vận dụng cao trong đề
thường có kiến thức lí luận và phương pháp luận sử học, rồi ứng dụng vào thực
tiễn lịch sử dân tộc. Từ đó đòi hỏi học sinh rèn luyện nhiều dạng kĩ năng bài tập
lịch sử, đồng thời phát triển năng lực đánh giá, khái quát cao hơn. Đặc biệt trong
đề xuất hiện nhiều câu hỏi ứng dụng với thực tế hơn, dạng khái quát, tổng hợp
mang tính lí luận chung.
- Mặt khác, việc dạy môn Lịch sử đôi khi bị giới hạn về thời gian tiết
học/đơn vị bài nên khi chú trọng dạy cho học sinh hứng thú thì lại không hết
chương trình so với quy định.9
- Thông thường học sinh ít chịu đọc SGK và câu hỏi SGK trước, để có
chủ định xây dựng và tiếp thu bài mới dẫn đến tính hợp tác của học sinh không
cao. Kỹ năng thảo luận nhóm ở một số học sinh chưa cao,nhất là tính hợp tác.
- Kết quả thi THPT Quốc gia, tốt nghiệp THPT về môn Lịch Sử mặc dù
có chiều hướng tăng nhưng so với các môn trong khối C như: môn Giáo dục
công dân, môn Địa Lý thì kết quả vẫn còn rất thấp.
cách làm trên khi ôn luyện cho học sinh tôi chỉ tập trung phân tích chuyên sâu những nội dung lịch sử. Để khai thác tài liệu đạt hiệu quả tôi đã hướng dẫn học sinh làm các bước sau: 1. Nắm tên đề bài, tên tiểu mục. Nhiều học sinh học thuộc nội dung nhưng lại không nhớ tên tiểu mục, khi làm bài có thể “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, nghĩa là lạc đề. Vậy trước khi học tiểu mục nào, nên nắm chắc tên tiểu mục ấy. Chuyển tiểu mục ấy thành câu hỏi. Ví dụ như “Sự ra đời của tổ chức ASEAN”. Tự đặt ra câu hỏi như: “Tại sao ra đời? Bao giờ? Ở đâu? Mục đích, ý nghĩa gì?”... Như vậy kích thích hứng thú học tập, hiểu sâu, nhớ lâu. Đó là chủ động trong học tập. 2. Nắm dàn ý của cả bài hoặc của từng phần. Trước khi học cả bài hay từng phần nên nắm chắc cái dàn ý của nó. Dàn ý thường theo giai đoạn hoặc theo sự kiện, bao gồm: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa. Nắm khung giúp nhớ có hệ thống và nhớ lâu, dễ trả lời những câu hỏi tổng hợp. 3. Nắm chốt: Lịch sử bao giờ cũng gắn liền sự kiện – địa danh – nhân vật lịch sử. Nên “chốt” là thời điểm gắn với một sự kiện quan trọng hoặc tương đối quan trọng. II.3.7. Hướng dẫn học sinh kỹ năng đặt câu hỏi Nhằm giúp HS ghi nhớ và khắc sâu kiến thức của từng nội dung, tôi thường hướng dẫn HS dự báo các câu dẫn của các kiểu đề, các tình huống, các loại bài tập có thể được nêu ở mỗi phần. Đối với dạng trắc nghiệm: GV hướng dẫn HS đặt câu hỏi trắc nghiệm ở 4 mức độ nhận thức cho mỗi nội dung. Để đặt được các câu hỏi trước hết HS phải nắm rõ sự kiện, hiểu rõ bản chất của từng sự kiện, chính vì vậy phương pháp này giúp HS ghi nhớ kiến thức rất lâu, đồng thời các em tiếp cận nhanh với hình thức thi trắc nghiệm. Để phát huy hiệu quả của phương pháp này, tôi thường giành một khoảng thời gian nhất định vào cuối mỗi tiết dạy hoặc vào cuối mỗi phần để nghe, nhận xét, chỉnh sửa các câu hỏi cho HS. Và để khuyến khích các em thực hiện điều này tôi thực hiện nội dung hỏi bài cũ bằng chấm ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm tự đặt của HS. Kết quả cho 32 thấy đa số HS rất hào hứng và cho rằng phương pháp này giúp các em rất nhiều trong việc ghi nhớ kiến thức, vận dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn, tiếp cận nhanh với hình thức thi trắc nghiệm góp phần nâng cao hiệu quả học tập. Không những đối với HS mà hoạt động này cũng mang lại cho GV nhiều lợi ích là có thêm kênh thông tin để nắm bắt năng lực học tập của HS từ đó điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp, mặt khác đây cũng là nguồn tư liệu để làm phong phú thêm ngân hàng câu hỏi của GV. Giáo viên hướng dẫn học sinh các nhóm kỹ năng tự đặt câu hỏi Ví dụ: Một số cách hướng dẫn HS tự đặt câu hỏi trắc nghiệm qua phần dạy Các nước Á,Phi và Mĩ la tinh (1945-2000). Cách 1: Cho 1 đáp án đúng về 1 sự kiện, 1 địa danh, 1 nhân vật cố định. Yêu cầu hs đặt nhiều câu hỏi nhưng chỉ có 1 đáp án đúng về 1 sự kiện, 1 dịa danh, 1 nhân vật cố định đã cho trước. VD1: Đáp án : “Cách mạng xanh”. Cccccccccccccccc Câu 1. Cuộc cách mạng nào đã giúp Ấn Độ tự túc được lương thực cho toàn dân và bắt đầu xuất khẩu? A. Cách mạng xanh. B. Cách mạng trắng. C. Cách mạng chất xám. D. Cách mạng khoa học- công nghệ. 33 Câu 2. Nhờ cuộc cách mạng nào mà Ấn Độ đã tự túc được lương thực từ giữa những năm 70 của thế kỷ 20? A. “Cách mạng xanh”. B. “Cách mạng chất xám”. C. “Cách mạng nhung”. D. “Cách mạng trắng”. Ví dụ 2: Đáp án: “17 nước châu Phi được trao trả dộc lập” Câu 1. Năm 1960 đã đi vào lịch sử với tên gọi là “Năm châu Phi” bởi vì: A. Có 17 nước ở Châu Phi được trao trả độc lập. B. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh nhất. C. Tất cả các nước ở Châu Phi được trao trả độc lập. D. Châu Phi là lục địa mới trỗi dậy. Câu 2. Tuyên bố “Phi thực dân hóa” của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đã có tác động như thế nào đến phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi? A. Chủ nghĩa thực dân cũ ở châu Phi cùng hệ thống thuộc địa của nó cơ bản bị tan rã. B. Cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập ở châu Phi. C. Tạo điều kiện để nhân dân đứng lên lật đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa ở châu Phi. D. 17 nước châu Phi giành độc lập năm 1960 ( “Năm châu Phi”). Cách 2: GV cho 1 từ khóa sau đó yêu cầu HS xây dựng câu hỏi trắc nghiệm xoay quanh từ khóa đó. Câu hỏi ở mức độ thông hiểu: Từ khóa: Tổ chức ASEAN Câu 1. Tại sao hội nghị Bali (2/1976, Inđônêxia ) đánh dấu sự khởi sắc của tổ chức ASEAN A.Các nước kí hiệp ước thân thiện và hợp tác. B. Các nước hợp tác có hiệu quả về kinh tế, chính trị văn hóa và xã hội. C. Quan hệ giữa Đông Dương và ASEAN có sự thay đổi. D. ASEAN chủ trương mở rộng kết nạp thêm các thành viên. Câu 2. Tại sao nói từ những năm 90 của thế kỷ XX “một chương mới mở ra trong lịch sử khu vực Đông Nam Á”? A. Vấn đề Campuchia được giải quyết bằng hiệp định Pari. B. SEAN từ 5 nước ban đầu đã phát triển thành 10 nước thành viên. C. Quan hệ giữa Đông Dương và ASEAN được cải thiện. 34 D. Các nước kí hiến chương ASEAN. Câu hỏi ở mức độ vân dụng thấp Câu 3. Điểm tương đồng trong quá trình ra đời của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và liên minh châu Âu là gì? A. Đều là đồng minh tin cậy của Mĩ. B. Đều là đối tác quan trọng của nhật. C. Phát từ nhu cầu liên kết và hợp tác giữa các nước. D. Đều là đối tác chiến lược của liên xô. II.3.8. Hướng dẫn học sinh kỹ năng tự rèn luyện đề thi. Một trong những yếu tố quan trọng để đạt hiệu quả cao trong quá trình học, cũng như ôn thi đó là kỹ năng rèn lyện đề thi. Trên cơ sở tham khảo các tài liệu hướng dẫn ôn thi hiện hành và với sự hướng dẫn của giáo viên Sử, các em nên tập làm các câu hỏi trắc nghiệm, tự luận liên quan đến bài đó. Tự mình làm các câu hỏi là một cách ôn kiến thức và luyện kỹ năng nhuần nhuyễn, tập làm quen với nhiều dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan lẫn tự luận để giúp các em chuẩn bị tâm lý, tinh thần vững vàng và tự tin khi vào phòng thi và làm bài thi. HƯỚNG DẪN HỌC SINH THAM GIA TEXT ĐỀ QUA CÁC TRANG MẠNG https://hocmai.vn/kiem-tra-thi-thu HIỆU QUẢ HS ghi nhớ và nâng cao kiến thức. HS rèn luyện về kỹ năng đề trắc nghiệm. GV : đổi mới phương pháp dạy học GV: Bổ sung ngân hàng trắc nghiệm 35 https://viettelstudy.vn https://matran.edu.vn/trac-nghiem.html II.3.9. Hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức. Trên cơ sở những kiến thức, sự kiện, giai đoạn lịch sử cụ thể từng phần, từng chương, hay học các bài Tổng kết phần, chương để giáo viên hướng dẫn học sinh tự rèn luyện kỹ năng khái quát hóa kiến thức và xâu chuỗi vẫn đề. Tất cả những kiến thức, những vấn đề và sự kiện lịch sử cốt lõi nhất, nổi bật nhất đều hiện hữu trong các bài Tổng kết và đa phần giáo viên, học sinh không để ý. Phần Lịch sử Các nước Á, Phi và Mĩ la tinh (1945-2000): Vấn đề 1: Các nước Đông Bắc Á (1945-2000). Vấn đề 2: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ (1945-2000). Vấn đề 3: Các nước châu Phi và Mĩ la tinh. Phương pháp lập bảng thống kê để khái quát hóa, tổng hợp sự kiện, hiện tượng lịch sử. Ví dụ 1: Lập niên biểu các sự kiện thể hiện sự biến đổi của khu vực Đông Bắc Á sau chiến tranh thế giới thứ hai ( dạy bài 3- lịch sử 12 THPT) Thời gian Sự kiện Tháng 10/ 1949 Thắng lợi cách mạng Trung Quốc, nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Tháng 5/ 1948 Nhà nước Đại Hàn dân Quốc thành lập Tháng 9/1948 Nhà nước cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời Từ 6/1950 đến tháng 7/1953 Nội chiến giữa hai miền Bắc và Nam Triều Tiên. Nửa sau thế kỉ XX Đông Bắc Á đã đạt được sự tăng trưởng nhanh về kinh tế. Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan trở thành những “con rồng” kinh tế ở châu Á. Nhật bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Cuối thập niên 90 thế kỉ XX Hồng công và Ma cao trở về chủ quyền của Trung Quốc. Đầu thế kỉ XXI Kinh tế Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng nhanh và cao nhất thế giới. Ví dụ 2: Bảng thống kê về quá trình xây dựng và phát triển nhóm 5 nước sáng lập ASEAN ( dạy bài 4- lịch sử 12 THPT) 36 Nội dung Hướng nội Hướng ngoại Thời gian Những năm 50-60 của thế kỷ XX Những năm 60-70 của thế kỷ XX Mục đích Xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng nền kinh tế tự chủ Phát triển kinh tế, khắc phục hạn chế chính sách hướng nội. Nội dung Đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa thay thế hàng nhập khẩu Mở cửa kinh tế, thu hút vốn đầu tư và kỹ thuật của nước ngoài, tập trung sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển ngoại thương. Thành tựu Đáp ứng một số nhu cầu của nhân dân, giải quyết nạn thất nghiệp, phát triển một số ngành chế biến, chế tạo Làm thay đổi bộ mặt kinh tế- xã hội các nước.Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao: Thái Lan 7% (1985- 1995),Xingapo 12% (1968-1973) đứng đầu 4 con rồng châu Á. Hạn chế Thiếu vốn, nghuyên liệu, công nghệ, chi phí cao, tham nhũng, đời sống nhân dân còn khó khăn, chưa giải quyết được quan hệ giữa tăng trưởng với công bằng xã hội. Phụ thuộc vào vốn và thị trường bên ngoài, đầu tư bất hợp lý II.3.10. Hướng dẫn HS ôn kiến thức cơ bản bằng “sơ đồ tư duy”. Trong quá trình ôn tập, học sinh phải chỉ ra đâu là những ý lớn, đâu là chi tiết, minh họa, phải biết tóm tắt bài học và diễn đạt sơ đồ ý, dàn ý của từng bài. Đó cũng là cách để hệ thống kiến thức, chỗ nào quên thì mở sách xem lại nhằm rèn luyện khả năng làm chủ thời gian, khả năng diễn đạt nội dung, văn phong trong bài thi. Đặc thù của môn Sử là hiện hữu nhiều mốc sự kiện, không gian, thời gian nên các em nên hệ thống hóa kiến thức dưới dạng sơ đồ tư duy để ghi nhớ kiến thức hiệu quả hơn.Trong quá trình giảng dạy, tùy vào nội dung và tính chất của từng bài giảng, sau mỗi bài học, mỗi chương, mỗi giai đoạn giáo viên có thể định hướng, hướng dẫn học sinh làm “sơ đồ tư duy” dựa trên nguyên lý từ “cây” đến “cành” đến “nhánh”, từ ý lớn sang ý nhỏ theo phương pháp “diễn dịch”: luận điểm, luận cứ, luận chứng. 37 Ví dụ 1: Dạy bài 3- lịch sử 12 THPT. Ví dụ 2: Dạy bài 4- lịch sử 12 THPT. 38 Kết thúc bài giảng, thay vì phải ghi chép theo cách truyền thống, học sinh có thể tự “vẽ” bài học theo cách hiểu của mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác nhau. Đến tiết học sau, chỉ cần nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được những phần trọng tâm của bài học. Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường, có thiết kế trên giấy, bìa, bảng bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy đã được triển khai đến từng trường. Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Từ những kiến thức, sự kiện, vấn đề cơ bản của từng bài, từng chương, từng phần trong sách giáo khoa hiện hành, thông qua sơ đồ tư duy, các em sẽ tự biết cách tổng hợp và xâu chuổi kiến thức theo trình tự, trật tự kiến thức và lý giải các mối quan hệ tác động biện chứng, nhân quả giữa các vấn đề, sự kiện. Từ đó các em sẽ thấy các bài học sẽ trở nên ngắn gọn hơn, súc tích và dễ hiểu, dễ nhớ hơn. Lúc đó, kỹ năng tự học của các em sẽ trở nên bớt nhàm chán khi tự học ở nhà. II.4. Hiệu quả của sáng kiến Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu. Để đánh giá mức độ hiệu quả của các giải pháp đưa ra trong đề tài, tôi đã tiến hành kiểm tra đánh giá học sinh bằng bài thi trắc nghiệm trước và sau khi áp dụng các giải pháp đó tại các lớp: 12A, 12C, 12E, trường THPT Cát Ngạn. Kết quả thu được rất khả quan. *.Trước khi áp dụng phương pháp: Kết quả khảo sát bài thi trắc nghiệm theo 4 mức độ tại các lớp 12A, 12C, 12E. Lớp Tổng số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) 12A 16 0 0 2 12,5% 5 31,2% 6 37,5% 3 18,8% 12C 24 0 0 3 12,5% 10 42% 4 17% 7 28,5% 12E 19 0 0 1 5,2% 3 16% 8 42,1% 7 36,7% *.Sau khi áp dụng phương pháp: Kết quả khảo sát bài thi trắc nghiệm theo 4 mức độ tại các lớp 12A, 12C, 12E như sau: Lớp Tổng số học sinh Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) 39 12A 16 1 6,3% 4 25% 8 50% 3 18,7% 0 0 12C 24 0 0 6 25% 14 58,3% 4 6,7% 0 0 12E 19 0 0 2 10,5% 7 36,8% 10 52,7% 0 0 Từ kết quả thực nghiệm trên, bản thân đã nhận thấy rằng những kinh nghiệm này rất phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới và với những tiết dạy theo hướng đổi mới để phát huy tính tích cực của HS và đổi mới kiểm tra đánh giá phát triển năng lực. Học sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo trong hoạt động học, đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng. Không khí học tập sôi nổi, nhẹ nhàng và học sinh yêu thích môn học hơn. Với kết quả của quá trình áp dụng phương pháp nghiên cứu có chiều hướng tăng lên rõ rệt, tôi cũng hi vọng việc áp dụng đề tài này đối với học sinh sẽ đạt được kết quả cao trong kì thi THPT Quốc gia. II.5. Ý nghĩa của sáng kiến Đề tài được thực hiện trong năm học 2020-2021, tại trường THPT Cát Ngạn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Với nội dung nghiên cứu về giải pháp phát huy năng lực tự học của học sinh trong ôn thi trung học phổ thông quốc gia qua phần dạy: Các nước Á, Phi và Mĩ la tinh (1945-2000) . Trong quá trình áp dụng đề tài vào giảng dạy bản thân nhận thấy học sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo trong hoạt động học, đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng. Qua những tiết thao giảng, những buổi ôn thi trong đó sử dụng phương pháp ôn thi THPT và hướng dẫn HS tự học lịch sử để hình thành khái niệm lịch sử, giáo dục tư tưởng, phát triển kỹ năng bộ môn, nhiều đồng nghiệp đã đánh giá cao hiệu quả bài dạy của tôi. Tôi cũng hi vọng với việc áp dụng đề tài này đối với học sinh sẽ đạt được kết quả cao trong kì thi THPT Quốc gia và đặc biệt học sinh sẽ yêu thích môn học. Đối với giáo viên sẽ phát huy năng lực sáng tạo, phát triển tâm huyết và đam mê hơn đối với nghề dạy học 40 PHẦN III: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ III.1. Kết luận. Việc hướng dẫn hoạt động tự học cho học sinh là một vấn đề có tính cấp thiết trong quá trình dạy và học ngày nay. Giúp học sinh được phát triển toàn diện trên các mặt: Giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Sau khi nghiên cứu, tìm ra các giải pháp nhằm phát huy năng lực tự học ôn thi THPT Quốc gia cho học sinh qua phần dạy: Các nước Á, Phi và Mĩ latinh (1945-2000) Lịc sử 12 THPT, tôi đã rút ra một số kết luận sau: - Đề tài giải pháp sáng kiến mà tôi đưa ra, có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở bậc THPT, phù hợp với điều kiện dạy học như hiện nay. - Đề tài sẽ giúp cho giáo viên bộ môn Lịch sử tự học tập, bồi dưỡng thêm nội dung: Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá môn Lịch sử THPT trong ôn thi THPT Quốc gia. - Đối với học sinh: Áp dụng phương pháp hướng dẫn tự học phần: Các nước Á, Phi và Mĩ la tinh (1945-2000), để học ôn thi THPT Quốc gia đạt hiệu quả . Từ đó sử dụng phương pháp tự học đó mở rộng ra cho các phần còn lại để hoàn thiện nội dung ôn thi trong chương trình lịch sử 11,12. - Đối với hướng phát triển đề tài: tiếp tục nghiên cứu để phát triển đề tài sang các phần nội dung trong chương trình lịch sử 12. Bản thân sẽ phối hợp với các giáo viên bộ môn lịch sử trong trường để hoàn thiện ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho HS ôn thi THPT theo từng chuyên đề. Qua việc nghiên cứu nội dung đề tài bản thân đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: - Để ôn thi THPT Quốc gia môn Lịch sử đạt hiệu quả trước hết phải có những giáo viên thực sự yêu nghề, tâm huyết với công việc. Niềm đam mê là yếu tố rất cần thiết khi bạn muốn dạy tốt và có học sinh học tốt môn Lịch sử. - Giáo viên phải nắm vững về kiến thức, kỹ năng thực hành lịch sử. - Không ngừng học hỏi trau dồi kiến thức chuyên môn, thường xuyên đọc sách báo để cập nhật kịp thời những kiến thức mới. Mặt khác, để làm phong phú thêm vốn kiến thức cho bản thân. -Thường xuyên sưu tầm đề thi khảo sát THPT quốc gia của các trường, các cụm trường trong tỉnh và các tỉnh khác để học sinh rèn luyện kĩ năng làm đề - Tham khảo nhiều sách báo tài liệu có liên quan, giao lưu học hỏi các bạn đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm, các trường có bề dày thành tích. - Tạo sự giao tiếp cởi mở, thân thiện với học sinh, mẫu mực trong lời nói, việc làm, thái độ, cử chỉ có tâm hồn trong sáng lành mạnh để học sinh noi theo. 41 Giáo viên nên thường xuyên lắng nghe ý kiến chia sẻ của HS để điều chỉnh phương pháp giảng dạy có hiệu quả hơn trong ôn thi. - Giáo viên phải khơi dậy niềm say mê, hứng thú của học sinh đối với môn học Lịch sử, luôn phối hợp với gia đình để tạo điều kiện tốt nhất cho các em tham gia học tập. Đề tài nên áp dụng rộng rãi trong nhiều tiết học lịch sử ở các trường học, mỗi GV nên nghiên cứu, lựa chọn và sáng tạo phương pháp riêng để ôn thi cho phù hợp và hướng dẫn học sinh tự học để phù hợp với từng đối tượng học sinh. Bản thân tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, phát triển đề tài để mở rộng với các phần dạy khác trong chương trình lịch sử lớp 12. III.2. Những kiến nghị, đề xuất III.2.1. Đối với GV: - Không ngừng học hỏi trau dồi kiến thức chuyên môn, thường xuyên đọc sách báo để cập nhật kịp thời những kiến thức mới. - Trong dạy học GV cần mạnh dạn đổi mới phương pháp, hình thức dạy học.Thường xuyên trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. - Tăng cường hoạt động hướng dẫn học sinh tự ôn tập với phương châm “lấy học sinh làm trung tâm”. III.2.2. Đối với nhà trường: - Cần đầu tư nhiều hơn nữa vào phòng học bộ môn Lịch sử, mua thêm những tài liệu như bộ đề thi THPT quốc gia, mở rộng phòng thư viện và phòng tin học có kết nối mạng để học sinh tham gia học tập và rèn luyện đề. - Cần tổ chức nhiều hơn những hội thảo liên trường về đổi mới phương pháp ôn thi THPT, hướng dẫn HS tự học và đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh. - Chú trọng xây dựng học liệu nhà trường trên trang Web của trường những nội dung ôn thi THPT và ngân hàng đề thi cho HS tham khảo. III.2.3. Đối với Sở Giáo dục và đào tạo: - Sở nên tổ chức nhiều hơn những chuyên đề thiết thực về phương pháp dạy học Lịch sử hàng năm; chuyên đề về ra đề thi THPT quốc gia; tổ chức dạy học ôn thi THPT quốc gia liên trường để học tập, rút kinh nghiệm. - Sở tổ chức đánh giá, thẩm định những sản phẩm như mẫu thiết kế giáo án ôn thi THPT, giáo án hướng dẫn HS tự học, sản phẩm ngân hàng đề trắc nghiệm, sản phẩm chuyên đề, sản phẩm sáng kiến kinh nghiệm qua “trường học kết nối” trong phần đổi mới sinh hoạt chuyên môn. 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Ngọc Quang, Lý luận dạy học đại cương tập II, 1985, NXB GD Hà Nội. 2. Minh Tân (1999), Từ điển Tiếng Việt, NXB Thanh Hóa. 3. Trịnh Đình Tùng, Hoàng Thanh Tú (2006), “Về việc giảng dạy các bài ôn tập, tổng kết trong chương trình Lịch sử ở trường THPT” , Tạp chí Giáo dục số 131, kì 4. Hoàng Thanh Tú (2007), “Tổ chức hoạt động ôn tập trong dạy học Lịch sử ở trường THPT”, Tạp chí Giáo dục số 156, kì 2. 5. Hoàng Thanh Tú (2007), “Tổ chức hoạt động ôn tập trong dạy học Lịch sử ở trường THPT”, tạp chí Dạy và học ngày nay. 6. Hoàng Thanh Tú (2009), “Hướng dẫn ôn tập dựa trên các phong cách học tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT” , Tạp chí Giáo dục, số 208. 7. Hoàng Thanh Tú (2009), “Sử dụng công cụ bảng biểu hướng dẫn ôn tập kiến thức môn Lịch sử ở trường THPT”, Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 49. 8. Thái Duy Tuyên, Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, Tạp chí Giáo dục số 74. 9. Một vài suy nghĩ về đổi mới nội dung giảng dạy Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử tháng 5). 10. Nguyễn Mạnh Hưởng, “45 đề thi THPT quốc gia môn Lịch sử”, NXB: Đại học sư phạm Hà Nội.
File đính kèm:
- skkn_mot_so_giai_phap_nham_phat_huy_nang_luc_tu_hoc_cua_hoc.pdf