Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở trường Trung học Phổ thông

Một số vấn đề chung về học sinh cá biệt (HSCB)

1.1.1. Thế nào là HSCB?

Trước hết, cần hiểu đúng khái niệm “học sinh cá biệt”. Đó là những học

sinh có cá tính khác biệt so với số đông học sinh bình thường (không có nghĩa học

sinh cá biệt là bất bình thường). Chẳng hạn khi ở lớp học đang yên lặng làm bài

tập thì em đó bỗng la lớn lên khi làm bài được, thích học thì học, không thích thì

đùa giỡn, quậy phá các bạn kế bên, chọc cho bạn giỡn, nói chuyện với mình, tâm

trạng thì "mưa nắng thất thường" hoặc thầy cô đang giảng về vấn đề này lại hỏi

vấn đề khác.

1.1.2. Phân loại HSCB

1.1.2.1. Học sinh cá biệt về học tập: có ba loại:

+ Một là những em có trí tuệ và khả năng nhận thức bình thường nhưng rất

lười biếng, lêu lổng, học kiểu “tài tử” dẫn đến hổng kiến thức, hay quay cóp trong

học tập. Kết quả học tập thất thường, sút kém, luôn xếp “đội sổ”, dẫn đến chán

học.

+ Hai là những em thiểu năng về trí tuệ: Là những trẻ trông hình thức bề

ngoài bình thường, hơi có vẻ như đần độn, trong học tập thì dạy mãi, học mãi

chẳng nhập tâm được cái gì (hay nói cách khác là thuộc diện “chậm hiểu”).

+ Ba là những em thuộc diện khuyết tật (nói ngọng hoặc không nói được,

mắt, tai, tay chân ) dẫn dến không đủ giác quan, phương tiện để học tập bình

thường như những bạn khác.

1.1.2.2. Học sinh cá biệt về đạo đức, lối sống: Thường có những biểu hiện

như:

+ Hay trốn học đi chơi điện tử, lừa dối cha mẹ, thầy cô, giả tạo chữ kí

của bố mẹ trong sổ liên lạc hoặc giấy xin phép;

+ Dọa nạt bạn bè thậm chí đánh nhau; lảng tránh các hoạt động tập thể;

+ Tiêu xài các khoản phí của bố mẹ cho để đóng góp với nhà trường; càn4

quấy, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thích “chơi trội” theo kiểu con nhà đại gia giàu

có cụm lại với nhau đối lập với tập thể lớp, thích ăn chơi phá phách hơn là học

hành tử tế; thậm chí còn có cả ăn cắp, ăn trộm, “cắm quán” tài sản không chỉ của

mình mà còn lừa “mượn” của bạn;

+ Khéo léo, nhanh trí trong việc giở những trò tinh nghịch với thầy cô, bạn

bè; hay xem thường, trêu ngươi, khiêu khích trước thầy cô, bạn bè nhằm thỏa mãn

những nhu cầu tinh nghịch được sắp sẵn trong đầu. Có cách nói năng, ăn mặc, đi

đứng hành động khác thường để gây sự chú ý.

+ Có biểu hiện thích yêu đương, phân tán tư tưởng, thích diện, hay cãi lí

với bố mẹ và thầy cô; sẵn sàng bỏ học đi chơi cùng bạn

pdf19 trang | Chia sẻ: thuydung3ka2 | Ngày: 01/03/2022 | Lượt xem: 342 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở trường Trung học Phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ột thói hư xấu nào đó bằng cách 
gây cho học sinh hứng thú với một hoạt mới bổ ích, lôi kéo trẻ ra ngoài những tác 
động có hại. 
 1.2. Thực trạng giáo dục HSCB ở trường THPT hiện nay 
 Từ nhiều nguyên nhân khác nhau, mà hiện nay ở các nhà trường phổ thông, 
hiện tượng HSCB trở thành một vấn nạn. Thỉnh thoảng chúng ta lại nghe các 
thông tin nổi cộm trên các phương tiện thông tin đại chúng về học sinh đánh bạn, 
6 
học sinh đồi bại về nhân cách, trộm cắp, ma túy, cưỡng dâm, điện tử Điều đó 
không chỉ xảy ra với học sinh nam mà còn hoành hành với cả học sinh nữ. Trong 
các nhà trường phổ thông nói chung, THPT nói riêng, đây chính là một vấn đề 
nhức nhối, trăn trở. Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ 4.0 hiện nay, một 
số em chăm ngoan nếu không biết làm chủ mình, không biết cách học, cũng có 
thể trở thành HSCB, làm “nô lệ” cho các thiết bị truy cập Internet, mất khả năng 
tư duy Bài tập về nhà được các em thực hiện một cách vô cảm: tra Google và 
chép vào, không mảy may suy nghĩ  Đặc biệt, càng ngày các em càng vùi sâu 
vào “cuộc sống ảo”, vô cảm thờ ơ với mọi người xung quanh. Em nào bị nặng có 
thể trở nên tự kỷ Thực trạng trên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau 
đây: 
 - Thứ nhất là từ gia đình: Thiếu sự quan tâm hay quá tin tưởng, chiều 
chuộng của gia đình; những éo le trong cuộc sống gia đình ảnh hưởng rất lớn đến 
sự hư đốn, hay nói một cách khác là đạo đức học sinh yếu kém. 
 - Thứ hai là từ xã hội : Thực trạng những mặt xấu của xã hội; Trong điều 
kiện xã hội hiện nay từng giờ từng ngày những cám dỗ, ảnh hưởng tiêu cực đến 
học sinh. 
 - Thứ ba là từ nhà trường: Nhà trường chưa có biện pháp phù hợp trong 
việc quản lí giáo dục học sinh; chưa quan tâm đúng mức tới những học sinh có 
hoàn cảnh đặc biệt (những em quá đầy đủ về vật chất, được chiều chuộng; ngược 
lại những em quá khó khăn thiếu thốn về vật chất hoặc những em có hoàn cảnh 
éo le, những em có cá tính khác thường); chưa tạo ra môi trường thân thiện thực 
sự khi các em đến trường, làm cho các em thấy nhàm chán khi đến trường, có nhu 
cầu muốn tự thay đổi và làm mới môi trường sống;  
 - Thứ tư là từ bản thân học sinh : Giai đoạn tâm sinh lý có nhiều biến đổi. 
Từ tuổi thiếu niên chuyển sang tuổi thanh niên, học sinh muốn khẳng định mình 
bằng sự hiểu biết chưa hoàn thiện của mình; có thể do bản năng hoặc bệnh a dua 
... 
7 
 1.3. Kết quả giáo dục các năm trước 
Qua thống kê và theo dõi lớp 11A3, Trường THPT Phan Đình Phùng, lớp 
tôi chủ nhiệm, năm học 2017 – 2018, có một số em học sinh thuộc dạng cá biệt 
như sau: 
1.3.1. Dạng cá biệt về học tập 
Đây là những học sinh lười học tập, không chịu lắng nghe giảng bài, thường 
vắng học và có kết quả học tập thấp. Kết quả kiểm tra cuối năm gồm có 09 em 
dưới điểm, xếp học lực yếu, chiếm tỉ lệ là trên 24 %. Đa số các em mất gốc kiến 
thức. Cụ thể: 
STT Họ và tên Ghi chú 
1 Nguyễn Hoàng Hải Yếu Văn, Sinh, Lý, Anh 
2 Lê Trung Hậu Yếu Toán, Lý, Anh 
3 Trần Đình Hiếu Yếu Anh, Toán, 
4 Nguyễn Phi Hùng Yếu Tin, Toán, Văn 
5 Lê Thế Long Yếu Lý, Anh 
6 Hoàng Văn Lợi Yếu Sinh, Văn, Anh 
7 Trần Ngọc Phú Yếu Sinh, Hóa, Anh, Toán 
8 Lê Ngọc Sơn Yếu Hóa, Văn, Anh 
9 Đoàn Anh Tuấn Yếu Anh, Lý, Toán 
 1.3.2. Dạng cá biệt về đạo đức 
Qua khảo sát năm học 2017-2018, lớp 11A3 có 04 HSCB, trong đó, có 02 
em hạnh kiểm yếu, 02 em hạnh kiểm trung bình, chiếm tỉ lệ 10,8 %. Hầu hết các 
em này thường nói tục, chửi thề, ngồi học không tập trung, không nghe lời giáo 
viên, lười học bài, có em nghiện điện tử... Có em thường hay vắng học không lý 
do, hỏi ít chịu trả lời. Trong đó có các em sau : 
- Nguyễn Hoàng Hải – hay nghỉ học không có lí do 
- Nguyễn Chung Bửu – lắng nghe nhưng không học theo, thường làm 
theo những gì mình muốn. 
- Lê Ngọc Sơn – hay nói tục, chửi thề, nghỉ học  
8 
- Nguyễn Viết Quân – không chịu vâng lời 
Chương 2. Một số biện pháp giáo dục học sinh cá biệt ở trường THPT 
 Như chúng ta đã biết, giáo dục HSCB là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, 
phức tạp và rất khó thành công trong một thời gian ngắn. Nó đòi hỏi một quá trình 
dài lâu, có sự gắn kết, thật sự trách nhiệm của các giáo viên chủ nhiệm từ lớp dưới 
đến lớp trên, cùng sự quan tâm chia sẻ thường xuyên từ phía phụ huynh, gia 
đình 
 Để góp phần làm cho công tác giáo dục HSCB trong nhà trường đạt hiệu 
quả, sau đây tôi xin đưa ra một số biện pháp: 
 2.1. Nắm chắc quan điểm chỉ đạo của cấp trên 
 Nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về công tác giáo dục, mục tiêu 
giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của 
học kỳ, năm học đối với HSCB. Khéo léo khích lệ HSCB chủ động hòa nhập, thực 
hiện nhiệm vụ chung, nhiệm vụ của lớp trong phong trào chung. Đồng thời, phải 
nắm vững tri thức lý luận giáo dục, có nghệ thuật sư phạm, xây dựng và phối hợp 
tốt các mối quan hệ trong nhà trường và địa phương. 
 Tìm hiểu tiềm năng của cộng đồng, địa phương, xã hội, theo dõi thời sự 
trong nước và quốc tế để vận dụng những hiểu biết đó vào công tác chủ nhiệm. 
 2.2. Phải biết động viên kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng 
 Đã là con người thì không ai hoàn toàn đúng, cũng không ai hoàn toàn sai. 
Đúng hoặc sai trong hành động, việc làm của con người chỉ mang tính tương đối. 
Vì vậy, với HSCB cũng không ngoại lệ. Dù các em có cá biệt đến đâu thì cũng có 
khi các em đúng. Với những lúc như thế, dù nhỏ bé, dù ít ỏi, giáo viên cũng phải 
biết trân trọng. Một lời động viên khích lệ kịp thời khi các em chỉ có một việc làm 
tốt rất nhỏ cũng đủ làm cho các em thấy tự tin hơn, thấy mình thực sự có ích. Hãy 
mạnh dạn giao việc, hướng dẫn các em làm theo định hướng của mình nhưng vẫn 
phải để “đất” cho các em thể hiện tính sáng tạo, tuyệt đối không được áp đặt. 
 2.3. Phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong xã hội 
 Chúng ta cần biết sử dụng và phát huy hợp lí giá trị, tác dụng của dư luận 
xã hội. Chính những dư luận đó có thể tác động ít nhiều đến các em. Các em có 
9 
thể không sợ thầy cô, bố mẹ nhưng các em có thể sợ dư luận. Giáo viên cần phát 
huy vai trò của ban đại diện hội cha mẹ học sinh, hợp tác với họ để uốn nắn học 
sinh. Những khi học sinh mắc lỗi, giáo viên chủ nhiệm thông báo cho ban đại diện 
cha mẹ học sinh để có biện pháp phối hợp, cùng giáo dục. Thường xuyên thăm 
gia đình HS để tìm hiểu hoàn cảnh, tạo sự gần gũi giữa giáo viên, HS và phụ 
huynh. Không nên chỉ khi các em có khuyết điểm mới đến thăm gia đình. Ngoài 
ra, giáo viên cũng cần tổ chức các buổi ngoại khóa, kết hợp với những người cao 
tuổi, có uy tín trong làng xã, mời họ đến trường nói chuyện, nhờ họ tuyên truyền 
giáo dục giúp nhà trường. 
 2.4. Nhà trường tích cực đổi mới phương thức quản lí, hoạt động 
 Đẩy mạnh và đổi mới các hoạt động tập thể, xây dụng môi trường thân 
thiện, xây dựng cơ sở vật chất, khu vui chơi giải trí, thể thao. Tổ chức các buổi 
hoạt động tham quan dã ngoại để lôi cuốn các em đến trường, làm cho các em 
thực sự thấy “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. 
 Tăng cường đưa giáo dục pháp luật, giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe 
vị thành niên, giáo dục kĩ năng sống vào nhà trường để các em có đủ hành trang 
bước vào cuộc sống, không bị bỡ ngỡ, bất ngờ. Khi gặp phải những tình huống 
bất ngờ các em biết bình tĩnh xử lí hiệu quả nhất. Sưu tầm và đưa các trò chơi dân 
gian, có thể sáng tạo các trò chơi dân gian cho phù hợp với thời đại ngày nay vào 
trong nhà trường. 
 Đoàn trường chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn 
tổ chức tốt phong trào thi đua học tập, rèn luyện đoàn viên theo năm điều Bác Hồ 
dạy, phong trào xây dựng trường hoc thân thiện, học sinh tích cực; thường xuyên 
đổi mới nội dung hình thức sinh hoạt; xây dựng đội tuyên truyền hoạt động thường 
xuyên, nêu gương tốt, phê phán nhưng thói hư tật xấuTổ chức sinh hoạt đoàn 
thường xuyên tạo sân chơi lành mạnh cho các em học sinh chưa ngoan. Có thể tổ 
chức các hoạt động, các sân chơi theo chủ đề, chủ điểm, các hội thi như: Chúng 
em với ATGT, Thi cắm hoa, thi văn nghệ, diễn đàn giới tính và sức khỏe sinh sản 
vị thành niên. Thông qua các hoạt động nhằm giáo dục kĩ năng nhận diện vấn đề, 
biết xác định tình huống, biết cách tự khẳng định, biết cách từ chối khi bị lôi cuốn, 
10 
biết tự chăm sóc sức khỏe, biết phòng chống các tệ nạn xã hội, thực hiện tốt 
ATGT, tránh rủi ro đáng tiếc. 
 2.5. Nêu gương sáng cho học sinh noi theo 
 Bản thân người giáo viên chủ nhiệm phải là tấm gương sáng biết tự hoàn 
thiện phẩm chất nhân cách của mình. Hơn ai hết, giáo viên chủ nhiệm lớp cần 
phải có trí tuệ, có lương tâm, có uy tín, sống mẫu mực, tự trọng và biết giữ chữ 
tín; hiểu biết tâm lý lứa tuổi của học sinh mình chủ nhiệm; phải có tinh thần trách 
nhiệm cao yêu nghề, yêu thương học sinh và luôn luôn xác định phương châm “vì 
sự nghiệp trăm năm trồng người” và “tất cả vì học sinh thân yêu”; biết sự kiềm 
chế, bình tĩnh trong mọi tình huống, kiên định thực hiện thiên chức người kỹ sư 
tâm hồn; có sự nhạy cảm sư phạm biết dùng yếu tố tình cảm như một nghệ thuật 
sư phạm để cảm hóa học sinh cá biệt. Đã là giáo viên chủ nhiệm phải gương mẫu 
về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục 
mạnh mẽ đối với HSCB; phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, 
phải thương yêu, tôn trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về mọi hành 
vi ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh cá biệt, đồng nghiệp, bản thân phải 
là tấm gương cho học sinh noi theo. 
 2.6. Dùng tình cảm để cảm hóa các em 
 Để hiểu HSCB, trước hết phải biết chấp nhận các em vô điều kiện. Luôn 
đứng về phía các em, quan tâm điều các em nghĩ, bàn về những đề tài các em 
thích. Thỉnh thoảng, sử dụng “thuật ngữ” của các em. Đó là cách mang các em 
đến gần mình hơn. Khi mối quan hệ đủ thân thiện, khi niềm tin đủ lớn, người thầy 
sẽ thuận lợi trong việc uốn nắn hành vi, khai sáng tư duy, định hướng nhận 
thứcTránh đối xử thô bạo, trách móc các em. Hãy tôn trọng nhân cách của các 
em. Hãy đem đến cho các em hơi ấm của tình người, để các em biết người tốt 
chung quanh ta nhiều lắm. Các em cần được đối xử tử tế, cần được yêu thương và 
tôn trọng. Không ai được ngược đãi các em vì các em học chậm. Các em có quyền 
được đặt câu hỏi và yêu cầu thầy cô giáo giải thích cho em hiểu. Chính vì vậy mới 
cần có trường học. Và đó là lý do tại sao cần có thầy cô giáo...” 
11 
 Khi các em vi phạm, nên xử lý mềm mỏng, thậm chí dịu ngọt đối với học 
sinh cá biệt này, nếu không sẽ không có hiệu quả, có khi gặp phản ứng không tốt 
ngược trở lại về phía học sinh. Tuy nhiên cũng có đôi lúc ta cũng phải cứng rắn: 
chẳng hạn trong vấn đề xử phạt "mềm nắn, rắn buông". 
 Nếu học sinh có thói hư tật xấu phạm lỗi trầm trọng cũng có thể tùy trường 
hợp hay tùy đối tượng mà xử lí, không xử lí một cách cứng nhắc. Dù lỗi lầm lớn 
nhưng nếu em đó biết nhận lỗi và sửa lỗi thì tôi luôn tạo cho học sinh đó cơ hội 
tự làm chủ bản thân, có niềm tin nghị lực để vươn lên. Thế nhưng đối với những 
học sinh lỗi vi phạm không đáng kể nhưng lại vi phạm thường xuyên thì tôi không 
thể bỏ qua mà xử lí một cách linh động tùy theo từng đối tượng. Dù các em vi 
phạm ở mức độ lỗi lớn hay nhỏ tôi cũng xử lí trên cơ sở giáo dục các em, cụ thể 
cho em đó biết chuộc lỗi, làm một việc tốt, giao cho em đó thời gian thử thách. 
 2.7. Kiên trì tạo niềm tin và yêu thương 
 Để điều hành được HSCB, người thầy phải sắm đủ các vai. Khi thì nhà mô 
phạm nghiêm khắc, lúc lại là cái vai cho các em gục đầu vào. Khi thì nhà tâm lý, 
lúc lại là bác sĩ trị liệu, khi thì ông trọng tài, lúc khác lại là người cố vấn... Cứ như 
thế, kiên trì cho đến khi các em tự nhận ra tại sao mình phải thay đổi. Từ cảm giác 
cô thầy đã không chối bỏ mình, không chê mình, luôn khen ngợi, động viên ..., 
các em dần phát hiện ra giá trị của bản thân, cảm thấy mình hữu ích và được việc... 
Thế là tinh thần học tập được nhân lên, tạo ra sự tương tác và cộng hưởng. Giáo 
viên nên thường xuyên trò chuyện, quan tâm, gần gũi, nhắc nhở, động viên học 
sinh học tập, có thái độ thân thiện với học sinh. Tạo cho học sinh nhìn mình là 
cảm thấy gần gũi, chứ không phải gặp mình là sợ la, sợ bị mắng. Ta phải làm sao 
tạo cho học sinh có cảm giác là giáo viên như là một người bạn thân, bạn tâm tình, 
sẵn sàng lắng nghe ý kiến của mình, khi mình vui, buồn đều có thể chia sẻ với 
thầy cô, khích lệ mình khi mình khó khăn trong gia đình, bế tắc trong học tập. 
 Giáo dục từng bước, chậm rãi từ những công việc nhỏ. Chẳng hạn phải thức 
sớm một chút để không phải đi trễ, mình học yếu thì nên chịu khó, siêng làm bài 
tập hơn các bạn, khi nào làm bài tập, học sinh mệt thì nên giải lao để tinh thần 
thoải mái rồi làm tiếp, không nên cố gắng quá sức. Giáo viên không nên giáo dục 
12 
ào ạt chưa hỏi han lý do gì hết mà đã la mắng học sinh cho dù học sinh đó vi phạm 
nhẹ, như vậy sẽ mất hiệu quả giáo dục. Bởi vì đấy là những học sinh cá biệt, tính 
tình ương ngạnh, tâm lý bất cần, học hay không cũng không quan trọng. 
 2.8. Giáo viên phải biết làm mới tiết dạy của mình 
 Muốn HSCB nghe theo mình thì một yêu cầu quan trọng là thầy, cô phải 
giỏi nghề. Thầy, cô luôn cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy. Tiết sau “mới” 
hơn tiết trước. Sau một tiết học, trò học được nhiều tri thức bổ ích tạo nên sự đam 
mê học hỏi, khám phá tự tin, khẳng định mình. Thầy, cô biết hỏi “gợi mở” mang 
tính “phát động”, nhất định sẽ nhận được câu trả lời độc đáo. Thầy, cô biết “cuốn” 
học sinh vào trò chơi học tập, sẽ “lấp” thời gian “chết”, trò không “nhàn cư vi bất 
thiện” nghịch, đánh cờ ca rô, nhắn tin ngay trong tiết học. Ngược lại, trò sẽ tập 
trung nghe giảng để thực hiện nhiệm vụ của mình. 
 Khi học sinh hỏi bài, giáo viên cần hướng dẫn cụ thể những việc mà học 
sinh hỏi, tránh để học sinh cảm thấy mình lạc lỏng, cảm giác vì mình học dở nên 
không ai quan tâm, ai cũng khinh dễ mình, không ai thèm chơi, để ý đến mình. 
 2.9. Tích cực tham gia vào công tác đánh giá xếp loại hạnh kiểm, xét thi 
đua, khen thưởng và kỷ luật học sinh 
 Giáo viên chủ nhiệm phải nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh cá biệt: (học 
bạ, hoàn cảnh gia đình.); trao đổi với các em để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng 
xu hướng sở thích của học sinh; trao đổi với giáo viên bộ môn, về tình hình của 
lớp; trao đổi với ban giám hiệu, Đoàn trường, cha mẹ học sinh để có thêm những 
thông tin về đối tượng HSCB. 
 Sau đó, giáo viên thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo 
trung thực, kịp thời cho Ban giám hiệu về tình hình đạo đức của HSCB. Trong 
năm học GVCN cần đến nhà học sinh ít nhất 01 lần để nắm thông tin, thuyết phục 
cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ. Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình 
học sinh, hoặc nhắn tin qua điện thoại đúng thời gian quy định, xử lý thông tin 
phản hồi kịp thời, có hiệu quả. Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo 
léo. 
13 
Trên đây là một số biện pháp nhằm giáo dục HSCB ở trường THPT mà tôi 
đã vận dụng trong học kỳ I, năm học 2018 – 2019 vừa qua. Với tư cách là một 
giáo viên chủ nhiệm, tôi như tìm được “chìa khóa vàng” để mở cửa vào quá trình 
hoàn thiện nhân cách của học sinh – một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong nhà 
trường phổ thông hiện nay. 
Chương 3. Kết quả vận dụng một số biện pháp giáo dục HSCB ở 
trường THPT 
Sau một học kỳ vận dụng phương pháp giáo dục HSCB mới ở lớp chủ 
nhiệm (12A3), trường THPT Phan Đình Phùng, năm học 2018 – 2019, bản thân 
tôi nhận thấy kết quả khả quan như sau: 
3.1. Dạng cá biệt về học tập 
Sơ kết học kỳ I, năm học 2018 - 2019, có 01 em dưới điểm, xếp học lực 
yếu, chiếm tỉ lệ là trên 2,8 %. Cụ thể: 
STT Họ và tên Ghi chú 
1 Trần Ngọc Phú Kém môn Vật Lý 
 3.2. Dạng cá biệt về đạo đức 
Qua khảo sát học kỳ I, năm học 2018-2019, cả lớp còn 01 HSCB, xếp hạnh 
kiểm yếu, chiếm tỉ lệ 2,8 %. Em này thường hay nghỉ học, không chịu lắng nghe 
giáo viên bộ môn, đi học không chép bài vở  
Như vậy, kết quả hai mặt của học kỳ I năm học 2018 – 2019 so với năm 
học 2017 – 2018, đã tiến bộ hơn hẳn, số HSCB về học lực và HSCB về đạo đức 
giảm hẳn. Từ 09 em yếu học lực năm 2017 - 2018, đến kỳ I năm học 2018 – 2019 
chỉ còn 01 em; hạnh kiểm từ chổ 02 em yếu, đến học kỳ I năm 2018 – 2019 chỉ 
còn 01 em. Các em ngoan hơn, chăm học hơn, có ý thức xây dựng tập thể, vâng 
lời thầy cô giáo. 
Tuy nhiên, cha ông ta nói cũng thật chí lý: “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học 
trò”. Học trò được xếp vào bậc có thứ hạng nên dù đại đa số các em đã ngoan, 
tiến bộ thì vẫn còn học sinh chưa ngoan, chưa tiến bộ. Giáo viên chủ nhiệm sẽ kết 
hợp thêm nhiều biện pháp để có kết quả giáo dục tốt hơn. 
14 
III. PHẦN KẾT LUẬN 
1. Ý nghĩa của đề tài sáng kiến kinh nghiệm 
 Trước thực trạng đạo đức của học sinh THPT có chiều hướng giảm sút 
nghiêm trọng, việc tìm ra giải pháp giáo dục đạo đức cho HSCB hiệu quả, chất 
lượng là đòi hỏi cấp bách của gia đình, nhà trường và xã hội nhằm giáo dục những 
chuẩn mực cơ bản về đạo đức chân chính về truyền thống tốt đẹp của người Việt 
Nam từ xưa cho đến ngày nay. Nhất là trong giai đoạn hiện nay: thời kỳ công 
nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức. 
 Giáo dục HSCB là một công việc khó khăn, phức tạp và hết sức nhạy cảm, 
đòi hỏi sự kiên trì, lòng nhiệt tình, trách nhiệm cao, tình thương chân thành và cần 
thiết có một sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ, có hiệu quả từ các lực lượng 
giáo dục nhất là vai trò của gia đình. 
 Xã hội đang gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về nạn bạo lực học đường. Làm 
nghề “gõ đầu trẻ”, chúng ta phải tránh đối xử thô bạo, trách móc các em, hãy tôn 
trọng nhân cách các em; gần gũi, cảm thông, độ lượng, chia sẻ, tạo điều kiện và 
cơ hội để các em sửa chữa những lỗi lầm, khuyết điểm hoặc phát huy những tài 
năng, sáng tạo (nếu có). Chúng ta hãy giúp các em lấy lại niềm tin, lòng tự trọng. 
Đừng bao giờ để các em đánh mất niềm tin ở chính bản thân mình. Bởi vì đánh 
mất niềm tin ở chính bản thân mình thì các em sẽ mất tất cả. Hãy đến với các em 
bằng tình thương, sự đồng cảm hơn là một người giáo dục. 
Những vấn đề chúng tôi vừa trình bày đã và đang là một trong những bức 
xúc lớn, được sự đồng thuận của đông đảo các cán bộ quản lý giáo dục, các thầy 
cô giáo. Chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm cùng chia sẻ của đông đảo 
các bạn đồng nghiệp. 
 Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn, phạm vi nghiên cứu chỉ là một 
trường THPT nên có nhiều vấn đề chưa được nhìn nhận một cách toàn diện. Một 
số phân tích có thể phiến diện chưa bao quát toàn cục của vấn đề, các giải pháp 
đưa ra chưa thể vận dụng hoàn hảo được trong các trường THPT hiện nay, nhưng 
tôi tin rằng ít nhiều đề tài cũng giúp cho các nhà quản lý giáo dục thấy được thực 
trạng của đạo đức HSCB hiện nay, để định hướng lại một số việc cần phải làm 
15 
trong thời gian sắp tới nhằm góp phần thành công vào công tác giáo dục đạo đức 
cho học sinh cá biệt . 
 Đề tài xin được dừng lại ở đây. Rất mong nhận được sự góp ý chân thành 
của các đồng nghiệp để vấn đề dạy học văn ngày càng đạt hiệu quả cao. 
2. Kiến nghị, đề xuất 
 Nhân đây tôi cũng muốn cấp Sở có nhiều chuyên đề hội thảo, bồi dưỡng 
thường xuyên giúp giáo viên chúng tôi có cơ hội học hỏi, trau dồi kinh nghiệm để 
thành thạo hơn, nhuần nhuyễn hơn trong công tác chủ nhiệm. 
16 
 TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nghiệp vụ quản lý trường THPT – tập 4- trường cán bộ quản lý giáo dục 
TP. Hồ Chí Minh. Năm 2003. 
2. Lý luận quản lý giáo dục và phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục 
trường THPT- tập 2- trường cán bộ quản lý giáo dục TP. Hồ Chí Minh. 
Năm 2003. 
3. Báo giáo dục, báo tiền phong . 
4. Quyết định số 40/2006/QĐ- BGDĐT về việc ban hành quy chế đánh giá 
xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT. 
5. Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT về việc ban hành điều lệ trường 
THCS, trường THPT và trường PT có nhiều cấp học. 
6. Một số tài liệu tập huấn của Bộ, Sở có liên quan. 

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giao_duc_hoc_sinh_ca.pdf
Sáng Kiến Liên Quan