Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng nói cho học sinh Lớp 6 trong giờ học Tập làm văn

 Trong cuộc sống hàng ngày, ở mọi người đều cần đến các hoạt động giao tiếp. Giao tiếp được thực hiện thông qua sử dụng ngôn ngữ được chọn lọc để diễn đạt nhằm giúp người khác biết và hiểu những thông tin đến đối tượng cần giao tiếp đồng thời giúp cho việc giao tiếp đạt hiệu quả. Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục đòi hỏi người giáo viên hướng dẫn, giảng dạy sao cho học sinh của mình có được kỹ năng giao tiếp thật tốt. Việc rèn kỹ năng nói đã giúp cho học sinh có khả năng giao tiếp, biết ứng xử và nhận xét sự vật, sự việc trên những nhận thức riêng, bằng sự cảm nhận ngây ngô của con mắt học sinh thông qua các phân môn văn, tiếng việt và tập làm văn.

 Từ xưa đến nay, ngôn ngữ - tiếng nói đã góp phần quan trọng trong giao tiếp, trao đổi thông tin, biểu hiện tình cảm, trạng thái tâm lý và là một yếu tố quan trọng trong biểu lộ văn hóa, tính cách con người. Ví thế, giáo dục lời nói trong giao tiếp từ xưa đã được ông cha ta rất coi trọng:

 “Lời nói không mất tiền mua

 Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

 Với học sinh lớp 6, lứa tuổi đang hình thành nhân cách, ngay từ khi các em còn rất nhỏ, chúng ta đã rất chú trọng: “Trẻ lên ba, cả nhà học nói”

 Ngành giáo dục nói chung và ngành giáo dục THCS nói riêng đã được xã hội trao cho trọng trách đáng tự hào là giáo dục học sinh ngay từ những ngày đầu bước chân tới trường. Từ bao đời nay, việc giáo dục ở nhà trường đã áp dụng phương châm: “Tiên học lễ, hậu học văn”

 Trường THCS Trần Nguyên Hãn nằm ở địa bàn dân cư có mặt bằng dân trí chưa cao. Do chưa có sự quan tâm chu đáo, chặt chẽ của cha mẹ nên các em học sinh ở đây có một thực tế rất đáng quan tâm đó là các em ngại giao tiếp, giao tiếp kém hoặc có thì nói năng cộc lốc, không biết cách điễn đạt hết ý của mình. Trong giờ ra chơi, các em nói chuyện với bạn bè rất lưu loát, tranh luận sôi nổi, có thể tìm được những lý lẽ bảo vệ ý kiến của mình. Nhưng trong giờ học, khi tôi gọi lên nói các em lúng túng, ngôn ngữ diễn đạt còn hạn chế. Vì vậy, tôi băn khoăn đặt ra câu hỏi làm thế nào để các em mạnh dạn hơn trong giờ học đặc biệt là kể chuyện và tập làm văn nói và có hứng thú học tập. Tiếp đó, rèn những kỹ năng, thói quen dùng lời nói biểu cảm trong giao tiếp là một mảng vô cùng quan trọng trong dạy phân môn tập làm văn. Ý thức được vai trò của việc sử dụng ngôn ngữ biểu cảm trong giao tiếp, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu kinh nghiệm giảng phân môn: “ Biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 6 trong giờ học Tập làm văn”

 

doc5 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 31/07/2015 | Lượt xem: 4932 | Lượt tải: 110Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng nói cho học sinh Lớp 6 trong giờ học Tập làm văn", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. PHẦN CHUNG:
TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
 RÈN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 6 TRONG GIỜ HỌC TẬP LÀM VĂN
Họ và tên người viết: Nguyễn Thị Huệ
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THCS Trần Nguyên Hãn
II. NÊU VẤN ĐỀ:
1. Cơ sở lý luận:
 Trong cuộc sống hàng ngày, ở mọi người đều cần đến các hoạt động giao tiếp. Giao tiếp được thực hiện thông qua sử dụng ngôn ngữ được chọn lọc để diễn đạt nhằm giúp người khác biết và hiểu những thông tin đến đối tượng cần giao tiếp đồng thời giúp cho việc giao tiếp đạt hiệu quả. Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục đòi hỏi người giáo viên hướng dẫn, giảng dạy sao cho học sinh của mình có được kỹ năng giao tiếp thật tốt. Việc rèn kỹ năng nói đã giúp cho học sinh có khả năng giao tiếp, biết ứng xử và nhận xét sự vật, sự việc trên những nhận thức riêng, bằng sự cảm nhận ngây ngô của con mắt học sinh thông qua các phân môn văn, tiếng việt và tập làm văn. 
 Từ xưa đến nay, ngôn ngữ - tiếng nói đã góp phần quan trọng trong giao tiếp, trao đổi thông tin, biểu hiện tình cảm, trạng thái tâm lý và là một yếu tố quan trọng trong biểu lộ văn hóa, tính cách con người. Ví thế, giáo dục lời nói trong giao tiếp từ xưa đã được ông cha ta rất coi trọng:
 “Lời nói không mất tiền mua
 Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
 Với học sinh lớp 6, lứa tuổi đang hình thành nhân cách, ngay từ khi các em còn rất nhỏ, chúng ta đã rất chú trọng: “Trẻ lên ba, cả nhà học nói”
 Ngành giáo dục nói chung và ngành giáo dục THCS nói riêng đã được xã hội trao cho trọng trách đáng tự hào là giáo dục học sinh ngay từ những ngày đầu bước chân tới trường. Từ bao đời nay, việc giáo dục ở nhà trường đã áp dụng phương châm: “Tiên học lễ, hậu học văn”
 Trường THCS Trần Nguyên Hãn nằm ở địa bàn dân cư có mặt bằng dân trí chưa cao. Do chưa có sự quan tâm chu đáo, chặt chẽ của cha mẹ nên các em học sinh ở đây có một thực tế rất đáng quan tâm đó là các em ngại giao tiếp, giao tiếp kém hoặc có thì nói năng cộc lốc, không biết cách điễn đạt hết ý của mình. Trong giờ ra chơi, các em nói chuyện với bạn bè rất lưu loát, tranh luận sôi nổi, có thể tìm được những lý lẽ bảo vệ ý kiến của mình. Nhưng trong giờ học, khi tôi gọi lên nói các em lúng túng, ngôn ngữ diễn đạt còn hạn chế. Vì vậy, tôi băn khoăn đặt ra câu hỏi làm thế nào để các em mạnh dạn hơn trong giờ học đặc biệt là kể chuyện và tập làm văn nói và có hứng thú học tập. Tiếp đó, rèn những kỹ năng, thói quen dùng lời nói biểu cảm trong giao tiếp là một mảng vô cùng quan trọng trong dạy phân môn tập làm văn. Ý thức được vai trò của việc sử dụng ngôn ngữ biểu cảm trong giao tiếp, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu kinh nghiệm giảng phân môn: “ Biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 6 trong giờ học Tập làm văn”
2. Mục đích nghiên cứu:
 Phân môn tập đọc rèn cho học sinh các kỹ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu). Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, kĩ năng đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt và góp phần rèn luyện nhân cách học sinh.
 Phân môn tiếng Việt cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu (nói) kỹ năng đọc cho học sinh.
 Phân môn văn rèn các kỹ năng phát âm chuẩn, nghe và viết.
 Kĩ năng kể chuyện rèn kỹ năng nghe và nói.Trong giờ kể chuyện, học sinh kể lại những câu chuyện phù hợp với chủ điểm mà các em đã học trong tiết tập làm văn
 Phân môn tập làm văn rèn cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc và viết. Trong giờ tập làm văn, học sinh được cung cấp kiến thức về cách làm bài và làm các bài tập (nói, viết).
 Nhận biết được tầm quan trọng của việc đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy, là một giáo viên được tiếp cận với những đổi mới đó tôi vừa dạy vừa nghiên cứu để tìm ra những sáng kiến mới nhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và mong được góp sức giúp cho công tác giáo dục ngày càng phát triển và đổi mới.
 III. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1. Một số giải pháp nhằm rèn kỹ năng nói trong giờ học Tập làm văn cho học sinh lớp 6:
 Để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng nói và phát triển khả năng diễn đạt ý phong phú, điều trước tiên là tôi phải xác định và nắm rõ mục tiêu chính của chủ đề cần luyện nói là gì? Chính chủ đề là điểm tựa, gợi ý cho phần luyện nói. Giáo viên cần gợi ý sao để tất cả học sinh đều được nói, không đi quá xa với chủ đề. Sau đó, tôi cần nắm bắt thực tế về khả năng nói của từng em để đưa ra phương pháp, hình thức dạy luyện nói phù hợp với đối tượng. Qua một số tiết học đầu năm, tôi phân loại đối tượng học sinh môt lớp theo khả năng nói làm ba loại cụ thể như sau:
Khả năng
Số lượng học sinh
Tỷ lệ %
Nói tốt
10 HS
28.6%
Nói nhỏ ấp úng
15HS
42.8%
Nói chưa được
15HS
28.6%
Sau phân loại, tôi đã vận dụng các hình thức, phương pháp dạy học nhằm khai thác cao nhất tính tự giác, tích cực ở các em. 
 - Đầu tiên, tôi phân các chủ đề ra thành nhiều nhóm khác nhau để chọn lựa phương pháp và hình thức khác thay đổi cho phù hợp với cá nhân, nhóm với các hình thức đối thoại, độc thoạivà tổ chức các hoạt động trò chơi, tạo hứng thú giúp các em mạnh dạn, tự tin, tích cực tham gia trong quá trình luyện nói.
 - Tiếp đó là phối hợp nhịp nhàng các phương pháp dạy học sao cho tiết học được sinh động và đạt hiệu quả.Sự hiểu biết của các em về các lĩnh vực tự nhiên xã hội qua các bài trong môn văn, tiếng Việt
 + Môn tiếng Việt, với các từ mới, khó tôi gợi ý cho học sinh tìm nghĩa của từ, học sinh đặt câu, tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa để các em khắc sâu
 Ví dụ khi dạy bài tiếng việt: “Nghĩa của từ”. Giáo viên yêu cầu học sinh đặt câu với từ mấp máy và nhấp nháy để các em hiểu rõ hơn về nghĩa của từ.
 + Môn Tập làm văn: Luyện nói kể chuyện, học sinh được quan sát và nêu lại cácdiễn biến câu chuyện đã được nghe kể
 - Các em còn được rèn luyện kỹ năng “nói” nhờ khả năng quan sát của bản thân kết hợp với người diễn đạt trong phần luyện nói của tiết học phân môn văn , tiếng Việt và các môn khác trong chương trình. Chẳng hạn, khi học môn tập làm văn kể chuyện, giáo viên thường cho học sinh quan sát tranh. Sau đó dựa vào tranh và kể lại nội dung câu chuyện. 
 Ví dụ kể lại câu chuyện:Ông lão đánh cá và con cá vàng
 + Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát tranh trong SGK, đọc lời bắt đầu đoạn dưới mỗi tranh; nhận ra từng nhân vật qua y phục và cảnh làm nền trong từng tranh.
 + Giáo viên hướng dẫn học sinh kể bằng ngôn ngữ tự nhiên, tránh đọc thuộc lòng theo sách giáo khoa.
 - Giáo viên phân tích đặc điểm cũng như khả năng giao tiếp của từng học sinh trong lớp và tiến hành sắp xếp chỗ ngồi sao cho phân bố đều khắp ba đối tượng học sinh trong các tổ, các nhóm. Sự tương trợ lẫn nhau trong quá trình học tập của học sinh là việc làm hết sức bổ ích và mang tính khả quan. Như ta từng nói: “học thầy không tày học bạn”
 + Giáo viên thường xuyên cho học sinh được thực hành luyện tập “nói” trong tất cả các tiết học Tập làm văn . Nhờ vậy khả năng giao tiếp của các em ngày càng được hoàn thiện. Việc “nói” sao cho trôi chảy, mạch lạc, lời văn thể hiện biểu cảm rõ ràng, từ đó giáo viên đánh giá một cách chính xác khả năng học tập của học sinh. Các loại bài thực hành rèn luyện kĩ năng nói ở lớp 6 chia làm bốn loại cụ thể như sau:
 * Loại bài tập luyện phát âm theo chuẩn: Ở phần này, giáo viên chú ý đối tượng học sinh phát âm chưa chuẩn các tiếng từ khó cần rèn đọc trong phần luyện đọc ở phân môn văn . Đa số học sinh trong lớp 6 K, 6G, 6F do tôi giảng dạy môn văn thường phát âm sai l / n, tr /ch và một số vần dễ nhầm. Do đó khi học văn và tiếng việt tôi luôn quan tâm , lựa chọn những từ ngữ, bài tập có âm đầu l/n, tr/ch để học sinh rèn luyện.
 Chẳng hạn như khi học văn , tôi luôn chú ý luyện đọc và sửa chữa cách phát âm cho các em. Còn khi học tiếng việt tôi thường cho các em thi đua xem ai điền từ, tìm từ nhanh và đúng như bài tập
Phân biệt l\n:
ên on mới biết. on cao
uôi con mới biết công ao mẹ thầy
Hoặc cho học sinh thi đua trong các tổ tìm nhanh từ có các âm đầu, vần dễ nhầm lẫn.
 * Loại bài tập kể chuyện: thường áp dụng trong môn tập làm văn. Giáo viên lựa chọn những câu chuyện và phân vai cho học sinh kể. Cần chú ý tới tư thế, giọng kể, tình cảm sao cho phù hợp với nội dung câu chuyện.
 Ví dụ: Phân vai dựng chuyện bài:Ông lão đánh cá và con cá vàng
 - Đầu tiên, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh quan sát tranh rồi nói nhanh nội dung từng tranh
 - Học sinh thảo luận nhóm kể từng đoạn chuyện trong nhóm. Sau mỗi lần một bạn kể, các bạn trong nhòm nhận xét, bổ sung cho nhau.
 - Giáo viên gọi đại diện ba nhóm thi đua kể nối tiếp câu chuyện.
 - Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh phân vai dựng lại cả câu chuyện, với mỗi nhân vật có giọng kể khác nhau như: Giọng ông lão ôn tồn, trìu mến khẽ khàng, rụt rè. Giọng mụ vợ chua chát, dữ dằn. Giọng cá vàng thì rõ ràng
 - Gọi học sinh nhận xét bạn kể chuyện và giáo viên ghi điểm để khuyến khích các em.
 - Cuối buổi học, giáo viên đưa câu hỏi mang tính tổng hợp để học sinh nói theo suy nghĩ của mình như: Qua câu chuyện này em học được điều gì từ các nhân vật? Còn đối với học sinh khá giỏi thì giáo viên nêu câu hỏi khó hơn như: Câu chuyện này khuyên em điều gì? Khuyến khích nhiều học sinh trả lời 
 * Loại bài tập tình huống: Hình thức tổ chức lớp học thay đổi, không còn tính chất “cổ điển”. Chương trình Tập làm văn THCS mới chú trọng đến loại bài tập tình huống để học các nghi thức lời nói và phát triển khẩu ngữ. Chẳng hạn các tiết học môn Tiếng Việt giúp học sinh tăng cường ngôn ngữ qua các bài mở rộng vốn từ theo chủ đề, rèn luyện cách đặt câu đúng theo các mẫu câu như Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? Khi nào? Ở đâu?...Và tìm các từ ngữ làm phong phú thêm vốn từ của các em. 
 Ví dụ: như tiết Tiếng Việt các em học bài:Chữa lỗi dùng từ Bài tập 1: giáo viên cho học sinh thi đua giữa các tổ tìm nhanh từ ngữ có chứa tiếng học hoặc tiếng tập vào bảng phụ. Tìm được càng nhiều từ càng tốt. Sau đó cho học sinh nối tiếp nhau nêu từng từ mà nhóm mình tìm được để các bạn khác nhận xét.Ví dụ như: học hành, học tập, học hỏi, tập hát, tập đi, tập viếtGiáo viên nhận xét va tuyên dương nhóm tìm được nhiều từ đúng nhất. Qua bài tập học sinh được tăng cường thêm vốn từ ngữ về học tập
 Bài tập 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm yêu cầu bài: đặt câu với một trong những từ tìm được ở bài tập 1. như: Bạn Hưng rất chăm chỉ học tập/ Chúng em đang tập thể dụcGọi càng nhiều học sinh đọc câu của mình đặt càng tốt. Bài tập giúp học sinh rèn luyện cách đặt câu cho đúng và hay.
 Bài tập 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh sắp xếp lại các từ trong câu để tạo thành những câu mới. giáo viên chia tổ và phát bảng phụ để các em thi đua làm bài theo nhóm. Sau đó, gọi 2 học sinh lên bảng sắp xếp lại các từ trên bảng. Cả lớp cùng giáo viên nhận xét, chốt lại lời giải đúng. * Loại bài tập rèn kĩ năng hội thoại: Các tiết Tập làm văn luôn rèn cho học sinh cách ứng xử, giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày. Học sinh tham gia trò chuyện với nhau, trả lời phỏng vấn hoặc cùng nhau tranh luận theo nội dung bài học. Chẳng hạn như
 Ví dụ trong bài:Luyện nói kể chuyện: Tự giới thiệu về bản thân
 Giáo viên nên cho nhiều học sinh lên trước lớp tự giới thiệu về mình tạo thói quen giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày của các em.
2. Kết quả: 
 Lúc đầu tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc giúp các em luyện nói. Đa số học sinh chỉ biêt` trả lời theo câu hỏi một cách thụ động, diễn đạt ý kém. Nhưng với sự hỗ trợ của Ban giám hiệu, tổ khối và lòng kiên nhẫn tôi đã rèn luyện, uốn nắn, chỉnh sửa từng “lời ăn tiếng nói” cho mỗi em. Đến nay lớp tôi đã đạt được kết quả khá khả quan. Đa số các em có khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh rất tốt như: Các em nhận thức được cần phải lễ phép với người lớn, phải xưng hô đúng cách, biết nói lời cảm ơn hay xin lỗi đúng chỗ, đúng lúc. Khi giao tiếp với thầy cô giáo trong trường theo đúng nghi thức, hầu hết học sinh đều biết sử dụng lời nói biểu cảm để bày tỏ sự lễ phép của mình. Trong tất cả các giờ học trên lớp, học sinh đã biết trả lời các câu hỏi của giáo viên với nội dung đầy đủ ý nghĩa, biết cách trả lời câu hỏi một cách rõ ràng, đầy đủ cả câuViệc giao tiếp với bạn bè trong lớp cởi mở, tự tin hơn rất nhiều.
 IV. KẾT LUẬN:
 Trên tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Yêu cầu luyện nói cũng nhằm mục đích phát triển ngôn ngữ cho học sinh. Do vậy, tôi đã nghiên cứu và áp dụng mọi hình thức nhằm giúp việc giảng dạy đạt hiệu quả. Tôi nghĩ mỗi người giáo viên cần biết cách khơi gợi, kích thích và tổ chức cho học sinh nói năng, hứng thú bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ của mình một cách hồn nhiên và độc đáo.
 Môn Tập làm văn 6 ở THCS có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh THCS Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp 6 mấy năm qua, tôi nhận thấy chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 6 đã thực sự quan tâm, đưa ra những chủ đề, những bài tập thực hành phù hợp cho việc rèn kĩ năng “nói” cho học sinh lớp 6. Trong quá trình dạy học, người giáo viên cần có: “Tim nhiệt tình, óc thông minh, mắt tinh, tai thính, chân năng động, tay rộng mở, miệng nở nụ cười, người đầy kĩ năng công cụ” để phối hợp linh hoạt các phương pháp và có các hình thức dạy học tạo không khí hào hứng, vui tươi để học sinh tiếp thu bài có hiệu quả. Bên cạnh đó, sự quan tâm của cha mẹ học sinh đối với việc học tập của con em mình sẽ chính là động lực mạnh mẽ giúp học sinh thực sự trở thành con ngoan, trò giỏi, là những công dân văn minh, lịch sự, có ích cho gia đình, nhà trường và xã hội. Đặc biệt, mỗi giáo viên cần dành nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu giảng dạy, tăng cường hiệu quả của các giờ sinh hoạt chuyên môn để đưa ra những bài giảng sinh động, hấp dẫn. Ngôn ngữ của giáo viên phải chuẩn mực, chính xác, trong sáng. 
 Tuy vậy, tôi vẫn không thể tránh khỏi có những thiếu sót. Rất mong được đón nhận ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong hội đồng các cấp để những năm tiếp tôi có thêm vốn kinh nghiệm dạy học ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
 Ngày 10 tháng 11 năm 2009
 Người viết
 Nguyễn Thị Huệ
NHẬN XÉT CỦA TỔ CHUYÊN MÔN

File đính kèm:

  • docSANG_KIEN_KINH_NGHIEM_VAN_6.doc
Sáng Kiến Liên Quan