Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm để dạy tốt môn Địa lí lớp 4

 b. Điểm yếu

 Trường TH tôi là trường đóng tại xã vùng đặc biệt khó khăn của huyện tỷ lệ học sinh đặc biệt khó khăn chiếm trên 60%. Trong số học sinh nghèo và cận nghèo chiếm khá đông trong số học sinh toàn trường. Do điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nên một số gia đình lo làm ăn không chăm lo đến học tập của con em, một số gia đình đã quan tâm chăm lo cho con em nhưng chỉ đầu tư cho môn Toán và môn Tiếng Việt, coi môn Địa lí là môn học phụ.

- Qua một thời gian giảng dạy, tôi nhận thấy rằng chất lượng học sinh không đồng đều. Một số học sinh ít được tiếp xúc về thế giới bên ngoài nên các em phân tích bảng số liệu, đọc và chỉ bản đồ, lược đồ còn lúng túng, thậm chí có học sinh chưa biết chỉ đúng bản đồ, lược đồ .

- Một số phụ huynh học sinh chưa thật sự quan tâm để giúp các em học tốt môn Địa lí, mà chỉ quan tâm và đầu tư nhiều cho môn toán và tiếng việt. Coi môn Địa lí là môn học phụ

- Học sinh lớp 4 lần đầu tiên được tiếp thu kiến thúc mới đối với môn Địa lí,

- Học sinh lần đầu tiên được làm việc nhiều với bản đồ, lược đồ, tranh ảnh để tìm hiểu nội dung của bài.

 

doc17 trang | Chia sẻ: duycoi179 | Ngày: 15/02/2017 | Lượt xem: 3166 | Lượt tải: 73Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm để dạy tốt môn Địa lí lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
u tiên được tiếp thu kiến thúc mới đối với môn Địa lí, 
- Học sinh lần đầu tiên được làm việc nhiều với bản đồ, lược đồ, tranh ảnh để tìm hiểu nội dung của bài.
- Việc quan sát các sự vật, hiện tượng địa lí, tìm tòi tư liệu, cách trình bày kết quả bằng lời nói, cách diễn đạt còn hạn chế và sơ sài .
- Việc quan sát, phân tích số liệu trên bản đồ, lược đồ, kỉ năng chỉ bản đồ còn rất lúng túng .
- Chất lượng của mỗi lớp không đồng đều, một số học sinh nhận thức chưa cao nên việc tiếp thu bài còn chậm 
- Một số giáo viên chưa thật mặn mà và yêu thích môn học, việc đổi mới các phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh còn hạn chế và chưa mạnh dạn, chưa tuyên truyền sâu rộng đến tận các bậc phụ huynh và các em học sinh nên chưa làm cho các em thật sự yêu thích môn Địa lí. 
- Sự hiểu biết, cập nhật các thông tin về dân số, kinh tế, chính trị xã hội cũng là một vấn đề mà mỗi giáo viên giảng dạy Địa lí cần phải qua tâm. 
4. Nội dung và phương pháp tiến hành 
Xuất phát từ thực trạng trên thì việc đầu tiên người giáo viên cũng phải nhận thức được tầm quan trọng của môn Địa lí, để giúp học sinh cũng như các bậc phụ huynh thật sự nhận thức được môn Địa lí nó không kém phần quan trọng so với môn Toán và môn Tiếng Việt. Cụ thể giáo viên cần:
 - Xác định môn Địa lí có những nội dung kế thừa của môn TNXH lớp 1, 2, 3
 GV cần tìm hiểu nội dung chương trình TNXH lớp 1, 2, 3. Qua đó, nắm nội dung nào các em đã học để giảng dạy không trùng lặp.
 Từ những nội dung đã học giáo viên truyền thụ sâu hơn tránh nhàm chán cho học sinh.
 - Lựa chọn các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, tìm ra những điểm học sinh còn hạn chế để có thể giúp học sinh học tốt . 
 - Việc hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích số liệu trên bản đồ, lược đồ, kỉ năng chỉ bản đồ cũng là phần vô cùng quan trọng dối với học sinh.Vì nếu quan sát, phân tích bản đồ, lược đồ, phân tích số liệu không chính xác thì dẫn đến không hiểu gì về các yếu tố địa lí. 
 5. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
 a. Công tác chuẩn bị của giáo viên và học sinh
Vì sao chúng tôi đề cập tới vấn đề đơn giản này. Tuy trong SGV đã có những mục tiêu cụ thể nhưng giáo viên rất dễ dạy thiếu mục tiêu hoặc chưa biết phải dạy như thế nào. Ở đây, tôi đề cập hai vấn đề trong mục tiêu khi dạy Địa lí: 
Khi nói tới Địa lí, chúng ta phải nghĩ đến điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội. Điều kiện tự nhiên chính là vị trí giới hạn, sông ngòi, khí hậu, địa hình .. Điều kiện kinh tế xã hội là nói tới con người. Hai điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ngoài ra, ở điều kiện tự nhiên còn có mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên với nhau. Và mối quan hệ này được thể hiện rất nhiều trong chương trình Địa lí lớp 4. Vậy làm thế nào để nói được mối quan hệ này ?
Thực ra, để dạy về mối quan hệ này không khó vì chương trình lớp 4 chỉ yêu cầu xác định mối quan hệ Địa lí đơn giản, không giải thích nhiều, học sinh chỉ cần hiểu, phân tích được vài yếu tố tự nhiên ảnh hưởng lẫn nhau còn mức độ cao hơn các em sẽ được học ở chương trình Địa lí cấp II. 
Ví dụ
+ Mối quan hệ giữa vị trí với khí hậu 
Vị trí địa lí sẽ ảnh hưởng tới khí hậu như vị trí nước Việt Nam kéo dài từ Bắc xuống Nam, nằm trong vòng đai nhiệt đới, phía Đông giáp biển Đông vì vậy sẽ có khí hậu nhiệt đới gió mùa.
+ Mối quan hệ giữa vị trí, khí hậu, thực vật, động vật
 Miền bắc có bốn mùa, Miền nam có 2 mùa .
 Hoặc vì sao Đồng bằng Bắc Bộ không có nước mặn xâm nhập, đồng bằng Nam bộ thường có nước mặn xâm nhập.
 Vị trí của thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên nên có khí hậu lạnh, mát mẻ hơn thành phố Huế và nó trồng những loại cây phù hợp với khí hậu lạnh đó mà những vùng khác, thành phố khác không trồng được.
+. Mối quan hệ giữa sông ngòi với địa hình :
Địa hình miền Trung nhỏ, hẹp nên đa số sông miền Trung ngắn, dốc.
+ Mối quan hệ giữa tự nhiên với kinh tế 
-	 Nước ta có khí hậu nhiệt đới phù hợp	phát triển các loại cây ăn qủa.
	* Như vậy qua những ví dụ cụ thể trên giáo viên có thể hình dung được các mối quan hệ Địa lí đơn giản. Tùy theo mục tiêu từng bài, giáo viên sẽ chốt kĩ những mối quan hệ này. Nếu những bài dạy đầu tiên giáo viên giúp các em xác định những mối quan hệ Địa lí đơn giản thì những bài sau sẽ rất nhẹ nhàng vì học sinh đã quen đã hiểu và các em tự phân tích được ngay.
Khắc sâu, mở rộng kiến thức sau mỗi họat động dạy
Nếu giáo viên chỉ dạy những gì trong SGK và SGV thể hiện thì chưa đủ. Vì chỉ dạy những gì trong sách thì chưa thấy được vai trò của giáo viên. Trong sách có sẵn câu hỏi, phần trả lời, học sinh chỉ cần xem là làm được. Vậy vai trò giáo viên phải làm gì ?
Trước hết, chúng ta cần xác định dạy môn TNXH nói chung và Địa lí nói riêng là cung cấp thêm cho các em một số vốn sống phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi của các em. Trẻ nhỏ thì mau quên nhưng cũng rất “ tò mò”, thích khám phá. Vì vậy, trong qúa trình giảng dạy giáo viên chốt sâu kiến thức sẽ giúp các em hứng thú tìm tòi, yêu thích môn học hơn. Để làm được điều này, trước tiên giáo viên cần tham khảo sách, báo tư liệu, tranh ảnh . liên quan đến nhiều môn chứ không riêng môn Địa lí. Cập nhật kiến thức thường xuyên như một thói quen thì lúc đó chúng ta sẽ nhớ lâu hơn. Tuy nhiên khi khắc sâu hay mở rộng kiến thức phải có sự lựa chọn, đảm bảo tính chính xác, bám sát vào nội dung bài đang dạy tránh sa đà đi qúa mục tiêu bài.
Ví dụ 
Bài Hoạt động sản xuất của người dân ở Hoàng Liên Sơn (tr.76 / Sách LS-ĐL lớp 4). Trong bài cho biết người dân xẻ sườn núi san thành những bậc phẳng gọi là ruộng bậc thang, như vậy chỉ cho thấy người dân làm ruộng bậc thang. GV cần chốt kĩ hơn, vì sao phải làm ruộng bậc thang mà không làm như ruộng ở đồng bằng vì địa hình ở đây dốc nếu làm như ở đồng bằng khi tưới nước sẽ chảy xuống thấp hết, lúa sẽ chết, còn ruộng bậc thang, từng bậc phẳng sẽ giữ lại nước cho cây.
Bài thành phố Đà Nẵng ( tr.147 /SGK lớp 4 ). Trong sách cho biết Đà Nẵng là trung tâm công nghiệp có một số hàng đưa đi nơi khác như vật liệu xây dựng, đá mĩ nghệ, vải may quần áo, hải sản ( đông lạnh, khô ). Nếu chỉ như thế thì học sinh rất khó hình dung trung tâm công nghiệp. Sau này khi học về một vùng một miền nào đó cũng có những sản phẩm như thế các em sẽ cho đó là trung tâm công nghiệp. Muốn vậy, giáo viên cần nêu thêm tại Đà Nẵng có rất nhiều nhà máy chế biến, đưa thêm số liệu cụ thể để tăng sức thuyết phục là trung tâm công nghiệp hơn.
c. Nắm vững kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ, bảng số liệu.
Đồ dùng dạy học không thể thiếu trong giảng dạy môn Địa lí là bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, báng số liệu  Vì bản đồ địa lí là hình vẽ thu nhỏ bề mặt Trái Đất hoặc một bộ phận của bề mặt Trái Đất trên mặt phẳng dựa vào các phương pháp toán học, phương pháp biểu hiện bằng kí hiệu để thể hiện các thông tin về Địa lí. Do đó, giáo viên sử dụng bản đồ, lược đồ cần chính xác và hiệu qủa để khai thác kiến thức mới. Có lẽ, giáo viên cũng đã nắm được trình tự sử dụng bản đồ nhưng tôi cũng xin nhắc lại các bước :
 Bước 1 : Nắm được mục đích làm việc với bản đồ. 
 Tức là đọc tên bản đồ, để biết nội dung sử dụng cung cấp kiến thức gì cho bài học. Bước này không khó, giáo viên cần lưu ý khi tự vẽ thêm bản đồ thì phải có tên bản đồ ( có thể viết trên hoặc viết ở dưới )
 Bước 2 : Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên bản đồ.
Đọc bảng chú giải, kí hiệu nào cho biết thông tin gì . Ví dụ : đường đứt khúc chỉ ranh giới giữa các tỉnh, cây dù chỉ bãi biển, chấm tròn chỉ thành phố ..
 Bước 3 : Tìm vị trí Địa lí của đối tượng trên bản đồ.
Đây chính là bước kĩ năng chỉ bản đồ. Ở bước này giáo viên cũng như học sinh thường chỉ không chính xác do không thường xuyên chỉ bản đồ nên dễ lúng túng. Chỉ bản đồ có các cách chỉ sau : 
chỉ điểm ( thành phố , khoáng sản,  ) 
chỉ đường ( sông, dãy núi,  )
chỉ vùng ( chỉ vị trí giới hạn của tỉnh, thành phố, )
+ Một số thao tác khi chỉ các biểu tượng địa lí 
Chỉ về một địa danh, một thành phố, một tỉnh Nếu là bản đồ hành chính thì sẽ có ranh giới giữa các nước, các thành phố, tỉnh. GV chỉ theo đường ranh giới , bắt đầu ở điểm nào thì kết thúc ở điểm đó của một châu lục, một nước, một thành phố, một tỉnh muốn chỉ. Nếu là bản đồ tự nhiên thì thường một thành phố được kí hiệu bằng dấu chấm tròn, GV chỉ ngay vào chấm tròn là thành phố, hoặc chỉ các phương tiện đi lại của các vùng miền ( Xem chú giải trên bản dồ, lược đồ)
Chỉ về biển , sông ngòi, Đại dương khi chỉ kéo rộng trong giới hạn của nó không lấn vào đất liền. Biển, sông, dãy núi chỉ theo hướng từ thượng lưu đổ xuống hạ lưu, từ nơi cao ( độ cao của địa hình ) xuống nơi thấp. 
 Bước 4 : Quan sát đối tượng trên bản đồ, nhận xét và nêu đặc điểm đơn giản của đối tượng ( khai thác một phần kiến thức mới ). 
Ví dụ : Khi chỉ vị trí của nước Việt Nam, nhận xét vị trí nước ta kéo dài từ Bắc xuống Nam, nằm phía cực Nam.
Bài Đồng bằng Nam Bộ, quan sát và chỉ lược đồ xong, học sinh có thể nhận xét ngay là hệ thống sông ngòi nhiều, chằng chịt.
Bài địa hình nước ta, dựa vào màu sắc học sinh nhận xét được ngay đồi núi nhiều hơn đồng bằng.
Bài Người dân ở đồng bằng Nam Bộ, quan sát, nhận xét trang phục của người dân ở dồng bằng Nam Bộ
 Bước 5 : Xác lập mối quan hệ địa lí đơn giản giữa các yếu tố tự nhiên
Ví dụ: Khi học sinh chỉ được vị trí nước ta, phía Đông giáp biển Đông, đường bờ biển kéo dài như thế thì sẽ thuận lợi để phát triển ngành nào? (đánh bắt thủy hải sản ). Đó chính là mối quan hệ giữa vị trí địa lí và hoạt động sản xuất.
* Một số lưu ý 
Tư thế khi thao tác là mặt quay xuống phía học sinh, có thể đứng bên trái hay bên phải tùy thuộc GV thuận tay nào.
Sử dụng dụng cụ chỉ bản đồ, không dùng tay thao tác.
Giới thiệu biểu tượng muốn chỉ rồi thao tác, hoặc thao tác trước rồi giới thiệu biểu tượng, tránh vừa thao tác vừa giới thiệu rất dễ sai.
Bản đồ, lược đồ khi treo trên bảng cần đủ lớn để tất cả học sinh có thể quan sát được( trường hợp nhỏ phát về nhóm cho các em tự quan sát ).
Giáo viên và học sinh nên thường xuyên thao tác trên bản đồ để giúp học sinh nhuần nhuyễn khi lên học lên lớp trên
 Để thực hiện có hiệu quả kinh nghiệm trên chúng tôi đã sử dụng các phương pháp như:
 - Phương pháp nghiên cứu
 - Phương pháp điều tra
 - Phương pháp thực hành 
 - Phương pháp kiểm tra, đánh giá.
 - Phương pháp đối chứng , thực nghiệm
 - Phương pháp tổng hợp.
Ngoài ra, trong quá trình dạy học tôi còn vận dụng một số phương pháp khác: Phương pháp trực quan, quan sát, điều tra số liệu, tham quan thực tế, đàm thoại chất vấn,
5/ Minh họa một giáo án để tổ chức dạy học cho học sinh tìm hiểu kiến thức có sử dụng kênh hình trong chương trình Địa lý 4.
Bài 7: Hoạt động sản xuất của người dân tộc ở Tây Nguyên. 
( SGK trang 87- 88- 89 ) 
I / Mục tiêu: 
Sau bài học, học sinh có khả năng: 
+ Biết trình bày một số đặc điểm tiêu biểu về hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên: Trồng cây công nghiệp lâu năm và chăn nuôi gia súc lớn. 
+ Dựa vào lược đồ ( bản đồ ), bảng số liệu, tranh, ảnh để tìm kiến thức.
+ Xác lập mối quan hệ địa lý giữa các thành phần tự nhiên với nhau và giữa thiên nhiên với hoạt động sản xuất của con người.
II/ Chuẩn bị ĐDDH : 
+ Lược đồ một số cây trồng và con vât nuôi ở Tây Nguyên.
+ Bản đồ địa lý tự nhiên Việt Nam. 
+ Tranh, ảnh về vùng trồng cà phê, một số sản phẩm cà phê Buôn Ma Thuột. ( hình 2/ 88; hình 3/89 )
III./ Tổ chức các hoạt động dạy học chủ yếu trên lớp: 
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
1/ Kiểm tra bài cũ 
- Kiểm tra bài học: Một số dân tộc ở Tây Nguyên.
2/ Dạy bài mới 
 2.1.Trồng cây công nghiệp trên đất ba dan:
Hoạt động 1: Thảo luận theo nhóm 
Bước 1
Dựa vào kênh chữ và kênh hình trong SGK ở mục 1, HS thảo luận trong nhóm theo các câu hỏi gợi ý sau: 
( Để thảo luận chính xác kiến thức GV hương dẫn HS cách đọc lược đồ qua chú giải, kết hợp với kĩ năng đã học từ bài học trước về ví trí, phướng hướng trên bản đồ, màu sắc, kí hiệu thương sử dụng trên bản đồ) 
+ Kể tên những cây trồng chính ở Tây Nguyên? ( quan sát lược đồ hình 1 ) 
Chúng thuộc loại cây gì? ( Cây công nghiệp hay cây lương thực hoặc rau màu)
+ Cây công nghiệp lâu năm nào được trồng nhiều nhất ở đây? ( Quan sát bảng số liệu ) 
+ Tại sao ở Tây Nguyên lại thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp? ( Đọc mục 1 trong SGK ) 
Bước 2 : Đại diện nhóm trình bày kết quả làm việc trước lớp. 
- GV dẫn dắt, giúp các nhóm hoàn thiện phần trình bày của mình.
- Giáo viên giải thích thêm cho HS biết về sự hình thành “ Đất đỏ ba dan ” 
Hoạt động 2: Làm việc cả lớp.
- GV yêu cầu HS quan sát tranh, ảnh vùng trồng cà phê ở Buôn Ma Thuột hoặc hình 2 trong GSK, nhận xét từng vùng trồng cà phê ở Buôn Ma Thuột
( GV giúp HS có biểu tượng về vùng chuyên trồng cà phê ) 
- GV gọi HS lên bảng chỉ vị trí của Buôn Ma Thuột trên bản đồ Địa lý tự nhiên Việt Nam treo tường .
- GV nói thêm về những vùng hiện nay ở Tây Nguyên chuyên trồng cà phê và những cây công nghiệp lâu năm như: Cao su, chè, hồ tiêu ( trừ Buôn Ma Thuột.) 
- GV hỏi liên hệ mở rộng thêm: 
+ Các em biết gì về cà phê Buôn Ma Thuột? 
+ Giới thiệu cho HS xem một số tranh, ảnh về sản phẩm cà phê của Buôn Ma Thuột 
+ Hiện nay khó khăn lớn nhất trong việc trồng cây ở Tây Nguyên là gì? ( Thiếu nước vào mùa khô ) 
+ Người dân tây Nguyên đã làm gì để khắc phục khó khăn này? 
2.2/ Chăn nuôi trên đồng cỏ:
Hoạt động 3: Làm việc cá nhân 
Bước 1: 
- HS dựa vào hình 1, bảng số liệu, mục 2 trong SGK, trả lời câu hỏi sau: 
+ Hãy kể tên những vật nuôi chính ở Tây Nguyên.
+ Con vật nào được nuôi nhiều ở Tây nguyên? 
+ Tây Nguyên có những thuân lợi khó khăn nào để phát triển chăn nuôi trâu, bò ? 
+ Ở Tây Nguyên Voi được nuôi để làm gì? 
Bước 2: 
- GV gọi HS trả lời câu hỏi .
- GV hướng dẫn, bổ sung cho HS hoàn thiện câu trả lời.
3. Tổng kết bài học: GV hoặc HS trình bày tóm tắt những đặc điểm tiêu biểu về hoạt động trồng cây công nghiệp lâu năm và chăn nuôi gia súc lớn ở Tây Nguyên.
- HS trả lời theo yeu cầu của GV 
- HS quan sát kênh hình và kênh chữ 
( Lược đồ hình 1, bảng số liệu để tìm hiểu kiên thức)
- Sau khi thảo luận nhóm xong, lên bảng chỉ vào lược đồ và trình bày: 
+ Những cây trồng chủ yếu ở Tây Nguyên là: Cao su, cà phê, hồ tiêu, chè,..
+ Đó là những loại cây công nghiệp lâu năm, rất phù hợp với vùng đất đỏ ba dan tơi xốp, phì nhiêu.
+ Cây công nghiệp trồng nhiều nhất ở Tây Nguyên là cà phê, với diện tích là 494.200 ha. Trong đó nổi tiếng nhất là cà phê Buôn Ma Thuột ( HS chỉ vị trí Buôn Ma Thuột trên bản đồ tự nhiên Việt Nam) 
+ Vì các cao nguyên ở Tây Nguyên được phủ đất đỏ ba dan 
- Quan sát trên bản đồ tự nhiên Việt Nam xác định được ví trí Buôn ma Thuột và các vùng chuyên trồng cà phê. Sau đó các em lần lượt chỉ và đọc tên các vùng.
- HS lắng nghe kết hợp quan sát lược đồ để hiểu về vùng chuyên trông cà phê,cây công nghiệp lâu năm.
+ Cà phê Buôn Ma Thuột là sản phẩm đặc trưng của vùng Tây Nguyên, nổi tiếng thơm ngon, 
+ HS kể những sản phẩm về cà phê Buôn Ma Thuột mà các em sưu tầm .+ Hiện nay khó khăn lớn nhất trong việc trồng cây ở Tây Nguyên là Thiếu nước vào mùa khô. 
+ Hoạt động đào, khoang giếng,phục vụ tưới cho cây. 
+ HS chỉ trên lược đồ và nêu tên các con vật nuôi ở tây Nguyên: Bò, trâu, voi.
+ Voi chiếm số lượng nhiều hơn là bò.
+ Tây Nguyên có những đồng cỏ xanh tốt thuận lợi cho việc chăn nuôi gia súc.
+ Ngoài trâu bò, Tây nguyên nuôi voi để chuyên chở và phục vụ du lịch. 
( HS chỉ trên tranh ảnh voi đua, voi diễu hành, chuyên chở vật dụng nặng,được sưu tầm và có trong kênh hình SGK) 
- Đọc ghi nhớ trong SGK .
 4. Hiệu quả của sáng kiến
Qua thời gian áp dụng của đề tài tại đơn vị kểt quả học tập môn Địa lý của học sinh được nâng lên rõ rệt và kết quả của phép kiểm chứng độc lập giúp tôi xác định được giá trị trung bình của lớp
a. Bài học kinh nghiệm
 Để dạy tốt- học tốt môn Địa lý chúng tôi luôn tâm niệm rằng: Giáo viên phải hình thành được biểu tượng Địa lí và rèn luyện cho học sinh một số kỹ năng địa lí như: Sử dụng bản đồ, phân tích bảng số liệu và biểu đồ ...Do đó việc hình thành biểu tượng địa lí và rèn luyện kỹ năng sử dụng bản đồ là hai nhiệm vụ quan trọng của phần địa lí ở tiểu học.Theo tôi nghĩ có sử dụng tốt hai phương pháp này thì người giáo viên mới dạy tốt môn Địa lí được và một số môn học khác. Ngoài các giải pháp nêu trên, chúng ta cần cập nhật các thông tin về dân số, tình hình kinh tế, chính trị của đất nước cũng như trên thế giới để bổ sung các thông tin giúp cho các em hiểu biết thêm, để áp dung vào so sánh bảng số liệu. Vì nếu chúng ta chỉ sử dụng sách giáo khoa thì chưa đủ, và cập nhật thông tin, ( Ví dụ như: dân số mối năm ở mỗi huyện, tỉnh, thành phố mối khác, kinh tế chính trị cũng thay đổi) 
b. Khả năng ứng dụng, triển khai kết quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Ưu điểm 
Dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4,5 đều có thể thực hiện được.
 - Giáo viên chưa hiểu hết phải dạy tốt môn Địa lí như thế nào có thể thực hiện được.
Tạo thói quen cho giáo viên cũng như học sinh thao tác chính xác trên bản đồ, lược đồ.
Giúp giáo viên tự bản thân phải tích lũy thêm kiến thức, cập nhật kiếm thưc về phát triểu dân số và Kinh tế chính trị xã hội... vốn sống cho mình.
 Hạn chế 
Đòi hỏi giáo viên phải yêu thích môn học này cũng như trách nhiệm đối với học sinh. Vì không yêu thích sẽ không thể tìm tòi khám phá kiến thức mà bản thân chưa biết, giáo viên không thích thì cũng không truyền thụ cho các em sự yêu thích. 
Điều kiện dạy học cũng như khả năng sử dụng máy tính chưa nhiều, giáo viên sẽ khó có thời gian để sưu tầm tranh ảnh cũng như tìm kiếm những hình ảnh động, đọan phim ngắn phục vụ bài học ( nhất là có những mục tiêu bài dựa vào hình ảnh để khắc sâu hoặc tìm kiến thức mới ).
III. KẾT LUẬN
 Qua thực tế giáng dạy, thăm lớp dự giờ và ứng dựng phương pháp giảng dạy nêu trên kết quả qua quá trình giảng dạy học sinh luôn hào hứng trong học tập, tiếp thu bài khá nhanh, thao tác chỉ bản đồ, lược đồ, phân tích bản số liệu nhanh và chính xác hơn, học sinh nhanh nhẹn hoạt bát hơn trong học tập. Ngoài ra khi dạy phần Lịch sử các em cũng nhanh nhẹn áp dụng các biện pháp giáo viên hướng dẫn ở môn Địa lí vào môn Lịch sử thành thạo hơn. 
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ nhằm giúp cho chúng tôi dạy tốt môn Địa lí tại địa bàn trường tiểu học chúng tôi. Để dạy môn Địa lí đạt hiệu quả cao hơn là một yêu cầu quan trọng, cần thiết và đầy khó khăn, đòi hỏi mỗi người cán bộ quản lý cũng như giáo viên giảng dạy phải thực sự trăn trở, chuyên tâm, không ngừng học hỏi và rèn luyện, say sưa trong công tác nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi để năng cao nghiệp vụ chuyên môn. Ngoài ra chúng ta cũng cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo phương pháp dạy học phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh thì mới đạt kết quả tốt. Chất lượng dạy và học chính là thước đo giá trị của một nhà trường nói chung và trường tiểu học và mỗi giáo viên giảng dạy nói riêng. Tuy nhiên những giải pháp nêu ra không tránh khỏi sai sót rất mong được sự góp ý chân thành của Hội đồng khoa học các cấp.
 * Những kiến nghị và đề xuất
 Phòng Giáo dục và đào tạo, nhà trường tiếp tục tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, dạy thực tập nhằm giúp giáo viên học hỏi nhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, áp dụng phương pháp dạy học có hiệu quả nhằm năng cao chất lượng học sinh đại trà.
 Hữu Định, ngày tháng năm 2016
 Người viết 
 Nguyễn Ngọc Thanh
 Tài liệu tham khảo
	1/ Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học trong chương trình tiểu học tập 1,2 ( môn tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học, Lịch sử và Địa lý 4)của BGD – ĐT, giáo vụ tiểu học, nhà xuất bản giáo dục.
	2/ Sách giáo khoa Lịch sử - Địa lý 4, Sách giáo viên môn Lịch sử - Địa lý 4 của BGD – ĐT , nhà xuất bản giáo dục.
	3/ Phương pháp dạy học môn Lịch sử - Địa lý 4 – của BGD – ĐT . Tác giả: Lương Hữu Bằng, Mai Ngọc Trác .
	4/ Hướng dẫn sử dụng tranh ảnh, lược đồ trong SGK Lịch sử - Địa lý lớp 4,5. Nhà xuất bản giáo dục .
5/ Chương trình BDTX chu kì III của BGD – ĐT .
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ	1
II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận của vấn đề.	1
2.Thực trạng của vấn đề 	2
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề	4-12
4. Hiệu quả của sáng kiến	14
III.KẾT LUẬN	14-15

File đính kèm:

  • docMot_so_kinh_nghiem_day_tot_mon_Dia_li_Lop_4.doc
Sáng Kiến Liên Quan