Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5

I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức

của cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Bởi thế dạy Tiếng Việt có

vai trò cực kì quan trọng, những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội,

văn hóa giáo dục đòi hỏi những yêu cầu mới trong dạy môn Tiếng Việt nói chung

và phân môn Luyện từ và câu nói riêng. Một trong những nguyên tắc cơ bản của

dạy Tiếng Việt là dạy học thông qua giao tiếp. Các hoạt động giao tiếp, đặc biệt

giao tiếp bằng ngôn ngữ là công cụ cực mạnh để học sinh tiếp cận, rèn luyện và

phát triển khả năng sử dụng từ tiếng Việt. Do đó, việc đưa học sinh vào các hoạt

động học tập trong môn Tiếng Việt được giáo viên đặc biệt quan tâm, chú ý. Ngôn

ngữ tiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, một trong những nội

dung khó đó là phần nghĩa của từ. Dân gian có câu: „„Phong ba bão táp không bằng

ngữ pháp Việt Nam”.

Thật vậy, trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, nội dung nghĩa của từ

được tập trung biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu. Nhiều năm liền

trong quá trình dạy học, tôi thường nhận thấy các em học sinh dễ dàng tìm được

các từ trái nghĩa, việc tìm các từ đồng nghĩa cũng không mấy khó khăn, tuy nhiên

khi học xong từ đồng âm và từ nhiều nghĩa thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn và

khả năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cũng không được như mong đợi

của giáo viên. Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là hai mảng kiến thức quan trọng

trong phân môn Luyện từ và câu – chương trình Tiếng Việt lớp 5. Trong thực tế thì

đa số học sinh kể cả học sinh giỏi và không ít giáo viên nhầm lẫn giữa từ đồng âm

và từ nhiều nghĩa. Trăn trở về vấn đề này, qua nhiều năm dạy học lớp 5, tôi đã rút

ra một số kinh nghiệm nhỏ về cách hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng âm với từ

nhiều nghĩa. Vì thế, tôi đã chọn đề tài: Giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và từ

nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5.

pdf23 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 27/10/2018 | Lượt xem: 400 | Lượt tải: 11Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 nhiều nghĩa được sắp xếp 
sau bài dạy về từ đồng âm. Như vậy để phòng xa sự nhầm lẫn giữa từ đồng âm với 
từ nhiều nghĩa thì ngay ở bài dạy về từ đồng âm ngoài ví dụ đúng về các trường 
hợp không phải đồng âm, giáo viên có thể lấy thêm một số ví dụ khác để các em 
nhận xét. 
Ví dụ: Từ “đi” trong các trường hợp sau đây có phải hiện tượng đồng âm hay 
không ? 
- Mẹ hay đi bộ vào buổi tối để giảm béo. 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 12 
- Bố mới đi Hà Nội về. 
- Hè này, cả nhà em đi du lịch. 
- Cụ ốm nặng, đã đi hôm qua rồi. 
- Anh đi con mã, tôi đi con tốt. 
- Thằng bé đã đến tuổi đi học. 
Bài tập này chủ yếu yêu cầu học sinh nhận diện từ “đi” trong các câu văn 
trên là hiện tượng đồng âm hay không phải đồng âm, không yêu cầu học sinh giải 
thích gì và sẽ có hai phương án trả lời: đồng âm/không đồng âm. Đến đây giáo viên 
gợi mở để biết từ “đi” trong các câu văn trên có phải là quan hệ đồng âm hay 
không, yêu cầu các em về nhà suy nghĩ tìm hiểu sách giáo khoa các tiết luyện từ và 
câu sau sẽ giúp các em tìm câu giải đáp. 
Để không mất nhiều thời gian tiết học cho nội dung trên, giáo viên viết sẵn 
nội dung câu hỏi gợi mở ra bảng phụ và tiến hành sau khi học sinh lấy ví dụ về từ 
đồng âm để khẳng định lại ghi nhớ. Lúc đó tự các em sẽ có một sự so sánh giữa các 
ví dụ về từ đồng âm với ví dụ trên đây, đồng thời giáo viên kích thích đươc tư duy 
của học sinh. Trước khi kết thúc tiết học, giáo viên cũng không quên nhắc học sinh 
về nhà tiếp tục suy nghĩ trả lời giải thích về hiện tượng từ “đi” trong các câu văn đã 
cho. 
Trong bài dạy “Từ nhiều nghĩa” giáo viên có thể lấy thêm một hai trường 
hợp về từ nhiều nghĩa, sau đó quay lại lấy một ví dụ về từ đồng âm cho học sinh 
nhận định về các từ trong ví dụ. 
Ví dụ: từ “chỉ” trong các trường hợp sau là từ đồng âm hay nhiều nghĩa? Vì 
sao ? 
Cái kim sợi chỉ – chiếu chỉ – chỉ đường – một chỉ vàng. Ở câu hỏi này, giáo 
viên yêu cầu học sinh giải thích lí do lựa chọn để khẳng định kiến thức và khả năng 
nhận diện, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. Sau khi học sinh trả lời giáo 
viên chốt lại từ “chỉ” trong các trường hợp trên có quan hệ đồng âm vì nghĩa của từ 
“chỉ” trong mỗi trường hợp khác nhau, không có quan hệ với nhau. 
Nội dung trên, giáo viên cũng tiến hành trong khoảng 2-3 phút, dành thời 
gian cho các em làm bài tập phần luyện tập. Cuối tiết học nhấn mạnh: “HS cần lưu 
ý phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, tránh nhầm lẫn đáng tiếc giữa hai hiện 
tượng này”. 
c. Dựa vào yếu tố từ loại để giúp học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ 
nhiều nghĩa. 
Biện pháp này thực ra ít khi vận dụng bởi nếu học sinh đã hiểu đúng nghĩa 
của từ, thuộc nhớ được thì không cần thiết phải dùng đến cách dựa vào yếu tố từ 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 13 
loại, tuy nhiên đối với một số học sinh trung bình và yếu giáo viên có thể kết hợp 
cả 3 biện pháp. 
Nếu trong thực tế hàng ngày học sinh có thể bắt gặp hiện tượng một từ nào 
đó phát âm gần nhau nhưng xét về từ loại khác nhau thì kết luận đó là hiện tượng 
đồng âm. Chẳng hạn khi chơi đùa học sinh hò reo đồng thanh để cổ vũ cho một học 
sinh được mệnh danh là “cụ cố” vì em này nhỏ, yếu: 
“Cố lên cụ cố.ơi !” 
“Cố” thứ nhất là tính từ, “cố” thứ 2 là danh từ. Đây là hiện tượng đồng âm dễ 
nhận diện. 
Tùy trường hợp những từ phát âm giống nhau nhưng cùng từ loại (cùng loại 
danh từ, động từ, tính từ) thì phải vận dụng biện pháp giải nghĩa từ trong văn cảnh 
đồng thời xét xem các từ đó có mối quan hệ về nghĩa hay không để tránh nhầm lẫn 
những từ đồng âm với từ nhiều nghĩa hoặc quan hệ đồng nghĩa nếu có. Trong 
trường hợp này thông thường dựa vào ngữ cảnh để nhận biết nghĩa của từ đồng âm. 
Ngữ cảnh có tác dụng hiện thực hóa nghĩa của từ và giúp con người sử dụng ngôn 
ngữ tránh sự nhầm lẫn. 
VD: - đồng tiền – cánh đồng 
 - con cò – cò súng 
Xét câu văn sau: “Hôm nay tôi đánh rơi mười nghìn đồng ngay đoạn cánh 
đồng làng”. Các từ trong câu có mối quan hệ với từ „đồng‟ thứ nhất gồm “đánh rơi” 
“mười nghìn”, nếu chỉ dừng lại ở đánh rơi 10 nghìn thì người đọc chưa rõ mười 
nghìn đồng tiền Việt Nam hay tiền nước nào và chưa xác định rõ giá trị số tiền 
đánh rơi. Có từ “đồng” ngay sau cụm từ “đánh rơi mười nghìn đồng” thì ta hiểu rõ 
số tiền đánh rơi ở đây là tiền Việt Nam và xác định được giá trị của nó. Vậy từ 
“đồng” thứ nhất là đơn vị tiền Việt Nam, từ “đồng” thứ 2 nằm trong mối quan hệ 
với từ “qua”, “cánh”, “làng”, “đồng” trong “cánh đồng” là khoảng đất rộng bằng 
phẳng trồng lúa hoặc hoa màu. 
Hiện tượng đồng âm cùng từ loại như trên học sinh rất dễ nhầm lẫn với từ 
nhiều nghĩa, hầu hết các từ nhiều nghĩa đều có cùng từ loại. Từ “đi” trong các 
trường hợp sau đều là động từ: đi bộ; đi chơi; đi ngủ; đi máy bay. 
Vì vậy gặp những từ có cùng vỏ âm thanh giống nhau thì học sinh không 
được vội vàng phán quyết ngay hiện tượng đồng âm hay nhiều nghĩa mà phải suy 
nghĩ thật kĩ. Giải nghĩa chính xác các từ đó trong văn cảnh, tìm ra điểm khác nhau 
hoàn toàn hay giữa chúng có sự liên hệ với nhau về nghĩa. Trong một số bài tập bồi 
dưỡng học sinh giỏi, có một số trường hợp giống nhau về âm thanh nhưng khó 
phân biệt hiện tượng đồng âm hay nhiều nghĩa. 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 14 
VD: Các từ trong mỗi nhóm dưới đây có quan hệ như thế nào? 
a) Đánh cờ, đánh giặc, đánh trống 
b) Trong veo, trong vắt, trong xanh 
c) Thi đậu, xôi đậu, chim đậu trên cành 
Xét về từ loại thì nhóm (c) các từ “đậu” có quan hệ đồng âm với nhau vì đậu 
“trong thi đậu” là tính từ (đỗ, trúng tuyển) “đậu” trong “xôi đậu” là danh từ (chỉ 
một loại quả, củ dùng làm lương thực, thức ăn), “đậu” trong “chim đậu trên cành” 
là động từ “nghỉ, tạm dừng lại”. Ở nhóm (a), các từ “đánh” đều là động từ nhưng 
xét về nghĩa các từ “đánh cờ” (một trò chơi), “đánh giặc” (chiến đấu với kẻ thù 
bằng nhiều cách) và “đánh trống” (dùng dùi hoặc tay đánh vào mặt trống cho phát 
ra âm thanh) thì nghĩa của chúng có liên quan đến nhau, đều tác động đến một sự 
vật khác, làm cho sự vật đó có sự thay đổi, vì vậy các từ “đánh” ở nhóm (a) có quan 
hệ nhiều nghĩa. 
Tuy nhiên các từ “trong” ở nhóm (b) cũng là các từ có cùng từ loại (tính từ). 
Song chúng lại có quan hệ đồng nghĩa với nhau. 
Trong quá trình dạy bồi dưỡng học sinh giỏi để giúp học sinh làm tốt các bài 
tập như trên, giáo viên yêu cầu các em luôn nắm chắc nghĩa của từ và suy xét kĩ 
lưỡng nghĩa của các từ đó, không được bộp chộp ngộ nhận hoặc mới chỉ hiểu nghĩa 
mang máng mà đã vội kết luận mối quan hệ giữa các từ đã cho. 
d. Tìm ra dấu hiệu chung nhất để phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa 
 Sau các bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa cùng với các bài luyện tập, 
có thể giúp học sinh rút ra sự so sánh như sau : 
- Điểm khác nhau giữa từ đồng âm và từ nhiều nghĩa 
Từ đồng âm Từ nhiều nghĩa 
- Là hai hoặc nhiều từ có cùng hình 
thức ngữ âm: (hòn) đá và đá (bóng) 
 - Các nghĩa hoàn toàn khác biệt nhau 
không có bất cứ mối liên hệ gì: 
Ví dụ: (hòn) đá chỉ chất rắn có sẵn 
trong tự nhiên, thường thành tảng, hòn 
rất cứng. Còn đá (bóng) chỉ hành động 
dùng chân hất mạnh vào một vật nhằm 
đưa ra xa hoặc làm tổn thương. 
 - Không giải thích được bằng cơ chế 
chuyển nghĩa. 
- Là một từ nhưng có nhiều nghĩa: 
(hòn) đá và (nước) đá. 
- Các nghĩa có mối liên quan với nhau. 
Ví dụ: hòn (đá) chỉ chất rắn có trong tự 
nhiên, thường thành tảng, khối vật 
cứng. Còn (nước) đá chỉ nước đông 
cứng lại thành tảng giống như đá. 
- Do cơ chế chuyển nghĩa tạo thành. 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 15 
e. Tập hợp nghiên cứu các bài tập về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, bài 
tập phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa 
- Dạng 1: Phân biệt nghĩa của các từ 
+ Đối với từ đồng âm: phân biệt nghĩa của các từ đồng âm trong các cụm từ 
sau: Cánh đồng (1) – tượng đồng (2) – một nghìn đồng(3). 
Bài tập này, giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa của các từ “đồng” ở mỗi 
trường hợp: “đồng”(1) chỉ khoảng đất rộng, bằng phẳng, dùng để cày cấy, trồng 
trọt. “đồng” (2) là kim loại. Nghĩa của các từ “đồng” khác nhau, chúng là những từ 
đồng âm. (Dùng tranh ảnh minh họa) 
+ Đối với từ nhiều nghĩa: 
Trong những câu sau câu nào có từ “chân” mang nghĩa gốc và câu nào có từ 
“chân” mang nghĩa chuyển ? 
Chân: a. Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân 
 b. Bé đau chân 
Đối với bài tập trên giáo viên yêu cầu học sinh nêu được nghĩa của từ “chân” 
trong mỗi câu và xác định nghĩa chuyển, nghĩa gốc “chân” trong câu (a) chỉ một bộ 
phận làm trụ đỡ của cái kiềng – nghĩa chuyển, “chân” trong câu (b) chỉ một bộ 
phận của cơ thể đỡ và di chuyển cơ thể – nghĩa gốc. 
- Dạng 2: Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm hoặc nhiều nghĩa 
+ Đối với từ đồng âm: 
Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm: bàn, cờ, nước 
Ở bài tập này, hướng dẫn học sinh với mỗi từ cần đặt ít nhất là hai câu, các 
từ đó có quan hệ đồng âm với nhau. 
VD: Bàn: - Cả nhà ngồi vào bàn để ăn cơm. 
 - Bố mẹ em cũng đang bàn chuyện làm ăn. 
+ Đối với từ nhiều nghĩa: Đặt câu để phân biệt nghĩa của từ “đứng” 
Đứng: Nghĩa 1: ở tư thế chân thẳng, chân đặt trên mặt nền 
 Nghĩa 2: Ngừng chuyển động 
Giáo viên có thể gợi ý nghĩa 1, nói tới một tư thế của người hoặc động vật. 
Nghĩa 2 nói tới trạng thái của một đồ vật hiện tượng, học sinh có thể đặt câu. 
Nghĩa 1: Chúng em đứng nghiêm trang chào cờ. 
Nghĩa 2: Kim đồng hồ đang chạy, bỗng đứng lại. 
- Dạng 3: Phân biệt quan hệ đồng âm, quan hệ nhiều nghĩa 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 16 
VD: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm, những 
từ nào có quan hệ nhiều nghĩa với nhau? 
 Vàng: Giá vàng nước ta tăng đột biến. (1) 
 Tấm lòng vàng. (2) 
 Ông tôi mua một bộ vàng lưới để chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản. (3) 
Ở bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa của các từ “vàng” rồi 
xác định mối quan hệ giữa chúng. 
Đáp án: từ “vàng” ở câu 1,2 có quan hệ nhiều nghĩa, từ “vàng” ở câu 3 có 
quan hệ đồng âm với từ “vàng” ở câu 1 và 2. 
- Dạng 4: Nối từ hoặc cụm từ với nghĩa đã cho 
+ Đối với từ đồng âm: 
Ví dụ: Nối các cụm từ ở cột A với nghĩa thích hợp ở cột B 
A B 
1. Sao trên trời có khi tỏ khi mờ. 
2. Sao lá đơn này thành ba bản. 
3. Sao tẩm chè. 
4. Sao ngồi lâu thế ? 
5. Đồng lúa mượt mà sao! 
a. Chép lại hoặc tạo ra văn bản khác theo 
đúng bản chính 
b. Tẩm một chất nào đó rồi sấy khô 
c. Nêu thắc mắc không biết rõ nguyên nhân 
d. Nhấn mạnh mức độ làm ngạc nhiên, thán 
phục 
e. Các thiên thể trong vũ trụ 
Đáp án: 1- e; 2- a; 3- b; 4 – c; 5- d 
+ Đối với từ nhiều nghĩa: 
Ví dụ: Tìm ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ “chạy” trong mỗi câu ở 
cột A 
A B 
1. Bé chạy lon ton trên sân 
2. Tàu chạy băng băng trên đường ray 
3. Đồng hồ chạy đúng giờ 
4. Dân làng khẩn trương chạy lũ 
a. Hoạt động của máy móc 
b. Khẩn trương tránh những điều không 
may sắp xảy đến 
c. Sự di chuyển nhanh của phương tiện 
giao thông 
d. Sự di chuyển nhanh bằng chân 
Đáp án: 1- d; 2 – c; 3 – a; 4- b 
Đối với những bài tập trên, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận để nối 
những cụm từ hoặc câu với nghĩa thích hợp ở những trường hợp dễ nhận thấy 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 17 
trước. Trường hợp khó còn lại nếu học sinh chưa hiểu nghĩa các em có thể vận 
dụng cả phương pháp loại trừ. Ở cả từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có mặt cả 
bốn dạng bài tập trên. Bên cạnh đó, mỗi nội dung lại có một số dạng bài tập riêng. 
g. Tự tích lũy một số trường hợp về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong cuộc 
sống hàng ngày để có thêm vốn từ trong giảng dạy 
Ví dụ * Đối với từ đồng âm: 
 bạc - Cái nhẫn bằng bạc 
 - Đồng bạc trắng hoa xòe 
 - Cờ bạc là bác thằng bần 
 - Ông Ba tóc đã bạc 
 - Đừng xanh như lá, bạc như vôi 
 - Cái quạt máy này phải thay bạc 
 * Đối với từ nhiều nghĩa: 
 chạy 
- Cầu thủ chạy đón quả bóng 
- Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại 
- Tàu chạy trên đường ray 
- Đồng hồ này chạy chậm 
- Mưa ào xuống, không kịp chạy lúa phơi ngoài sân 
- Nhà ấy chạy ăn từng bữa 
- Con đường mới mở chạy qua làng tôi 
- Cầm lá thư này lòng hướng vô Nam (bài hát) 
3.3 Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp 
- Coi trọng việc dạy các tiết học về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa. Học sinh 
cần nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa thông qua các bài học, 
muốn vậy giáo viên cần nắm sâu kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa và 
ph-¬ng ph¸p d¹y (Chú ý PP dạy phân hóa đối tượng học sinh) 
- Tổ chức dạy trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức. 
- Dựa vào yếu tố từ loại để giúp học sinh phân biệt được từ đồng âm và từ 
nhiều nghĩa. 
- Giáo viên cần giúp học sinh tự tìm ra dấu hiệu chung nhất để phân biệt từ 
đồng âm và từ nhiều nghĩa. 
- Tìm hiểu nghiên cứu, thống kê các dạng bài tập về từ đồng âm và từ nhiều 
nghĩa, bài tập phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 18 
- Giáo viên cần tự tích lũy một số trường hợp về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa 
trong cuộc sống hàng ngày để có thêm vốn từ trong giảng dạy. 
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp 
Giữa giải pháp và biện pháp có mối quan hệ khăng khít với nhau, không tách 
rời nhau, nó hỗ trợ, bổ sung cho nhau để tiết học được diễn ra một cách nhẹ nhàng 
mà hiệu quả lại cao. 
 Không có giải pháp hay biện pháp nào là tối ưu, vì vậy giáo viên cần kết 
hợp các giải pháp và biện pháp với nhau trong giảng dạy, tùy tình hình thực tế, đối 
tượng học sinh lớp mình để vận dụng và thực hiện. 
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 
 So với chất lượng học sinh học cùng nội dung ở những năm học trước thì 
năm học này đã có sự chuyển biến mạnh mẽ. Các em học sinh lớp tôi được phân 
công chủ nhiệm và giảng dạy, sau khi áp dụng kinh nghiệm, qua quá trình hướng 
dẫn học sinh những phương pháp phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa như trên, 
tôi thấy các em hoạt động tích cực, có tiến bộ rõ rệt, có hứng thú học tập và yêu 
thích giờ học Luyện từ và câu hơn. 
Qua nghiên cứu, thăm dò cho thấy: sau một thời gian vận dụng các biện pháp 
trên, qua việc khảo sát 30 bài làm của 30 em học sinh vào giữa học kì I đã cho tôi 
thu được một kết quả khả quan hơn, cụ thể là: 
- Học sinh nắm và phân biệt được từ đồng âm, từ nhiều nghĩa 100%. 
- Học sinh có khả năng đặt câu để phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa 
96,7% 
4. Kết quả 
Trên đây là thử nghiệm của bản thân tôi trong nhiều năm dạy học lớp 5. Đặc 
biệt là năm học 2014 - 2015. Kết quả tuy chưa thực sự cao, song so với chất lượng 
học sinh học cùng nội dung ở năm học trước đã có sự chuyển biến tích cực. Cụ thể 
như sau: 
Năm học TSHS Giỏi Khá T. Bình Yếu 
2012 - 2013 31 7 = 22,6 % 09 = 29,0% 14 = 45,2% 01em – 3,2% 
2013 - 2014 30 09 = 30,0% 10 = 33,3 11= 36,7% 0 
2014 - 2015 
(Tính đến HKI) 
30 Điểm 9 - 10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Dưới 5 điểm 
 01 em- 3,4% 
III. Kết luận, kiến nghị 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 19 
1. Kết luận 
Dạy các nội dung về nghĩa của từ thực sự không đơn giản, nhất là phân biệt 
từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. Trong quá trình giảng dạy, tổ chức cho học sinh 
nắm được kiến thức, bản thân tôi cũng đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và 
lựa chọn sao cho học sinh nắm kiến thức mới và vận dụng trong học tập cũng như 
trong cuộc sống một cách hiệu quả. 
Để giúp HS phân biệt được từ đồng âm với từ nhiều nghĩa và làm đúng được 
yêu cầu của bài tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, trong quá trình dạy học người 
giáo viên cần: 
- Giúp học sinh xác định rõ các đặc điểm, cấu tạo của chúng về hình thức và 
bản chất 
- Phần từ đồng âm và từ nhiều nghĩa có nhiều từ học sinh dễ nhầm lẫn và khó 
xác định là đồng âm hay nhiều nghĩa giáo viên cần giúp các em nhấn mạnh ở khái 
niệm về từ đồng âm: Chúng giống nhau là có hình thức âm thanh giống nhau nhưng 
đối với từ đồng âm thì nghĩa của từ hoàn toàn khác nhau; còn từ nhiều nghĩa thì ý 
nghĩa của các từ đó có mối liên hệ với nhau. Giáo viên chú ý hướng dẫn học sinh 
phân biệt nghĩa sau đó mới đưa ra kết luận. 
 - Tạo mọi điều kiện giúp HS được bộc lộ cách hiểu của mình về từ nhiều 
nghĩa và từ đồng âm. 
 - Qua các bài tập học sinh thực hành về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa giáo viên 
cần cho các em tự kiểm tra, kiểm tra lẫn nhau về kết quả mình đã làm được. 
2. Kiến nghị 
- Đối với nhà trường: Trang bị nhiều sách tham khảo về phân môn Luyện từ 
và câu, đặc biệt là tài liệu hướng dẫn phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa. 
 - Đối với giáo viên: thường xuyên nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn liên 
quan để giúp học sinh học tập đạt hiệu quả cao. 
 - Đối với học sinh: học phải kết hợp với luyện tập thực hành, chỗ nào chưa 
rõ cần hỏi giáo viên ngay tại lớp, tránh dấu dốt, học cho qua chuyện 
Trên đây bằng thực tiễn và tâm huyết của bản thân đã đưa ra một vài kinh 
nghiệm khi dạy về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu 
lớp 5. Trong quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi những thiếu sót rất mong sự 
góp ý của Hội đồng sáng kiến kinh nghiệm các cấp để tôi có thể hoàn thiện hơn 
phương pháp dạy học của mình nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục hiện 
nay. 
Buôn Trấp, tháng 01 năm 2015 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 20 
 Người viết 
Võ Thị Kim Yến 
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG 
...
...
................
............................................................................................................................................................ 
P.CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN 
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 21 
................................ 
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN 
 (Ký tên, đóng dấu) 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
TT Tên tài liệu Tác giả 
1 Hướng dẫn số 5842/BGDĐT-VP V/v 
Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học 
Bộ Giáo dục và Đào tạo 
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giúp học sinh phân biệt từ đồng âm,từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5 
 Giáo viên : Võ Thị Kim Yến - Đơn vị : Trường TH Trần Phú 22 
giáo dục phổ thông. 
2 Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức kĩ 
năng các môn ở Tiểu học (lớp 5). 
NXB Giáo dục 
3 Tạp chí Thế giới trong ta (Chuyên đề 62 
+ 63) 
Tạp chí số ra tháng 4 + 5 
năm 2007 
4 Thông tư số 30/2014/TT- BGDĐT ngày 
28 tháng 8 năm 2014 
Bộ Giáo dục và Đào tạo 
5 Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 – Tập 1 NXB Giáo dục năm 2006 
6 Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 5 – Tập 1 NXB Giáo dục năm 2007 
7 Vở bài tập Tiếng Việt lớp 5 – Tập 1 NXB Giáo dục năm 2014 
 Biện pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu 
Võ Thị Kim Yến – Trường TH Trần Phú 23 

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_giup_hoc_sinh_phan_biet_tu_dong_am_tu_nhieu_nghia_trong_phan_mon_luy.pdf
Sáng Kiến Liên Quan