Sáng kiến: Giúp học sinh hình thành kỹ năng trình bày topic trong speaking

*Bingo!

-T presents somes words (8 to 10 words) about hobbies

-Students repeat the words

-Students choose 4 or 5 words form the list above to write down on their small pieces of paper

-Teacher reads the words in random

-Students tick the words they have in their paper

-Ss win the game when they have all the words ticked

-Examples words/phrases:

 +watching TV

 +listening to music

 +playing soccer

 +playing badminton

 +shopping

 +mountain-climbing

 +chatting

 +surfing on the internet

 +gradening

 +running

 

docx29 trang | Chia sẻ: thuhong87 | Ngày: 05/03/2019 | Lượt xem: 286 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến: Giúp học sinh hình thành kỹ năng trình bày topic trong speaking", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 phải hết sức thận trọng trong việc sử dụng ngôn từ lịch sự tế nhị tùy theo đối tượng người nghe (đa phần là giáo viên và giám khảo chấm thi) do vậy tôi đã cung cấp cho các em sẵn một cấu trúc là: “That’s all about my......... Thank you for your attention!”. Học sinh không được dùng “Thanks for” vì đây là cách nói thiếu tế nhị đối với người lớn tuổi hơn mình hoặc không được chỉ nói “That’s all.”mà bỏ qua câu “Thank you for your attention,” vì điều này cũng vô cùng thiếu tế nhị đối với người nghe đặc biệt là ban giám khảo các cuộc thi.
Vậy đối với phần Ending này HS chỉ thay thế từ hoặc cụm từ phù hợp với chủ đề mình đang nói vào mẫu câu GV hướng dẫn thế là các em đã có một Ending hoàn chỉnh.
Vi dụ: 
+Chủ đề: What is your hobby?thì phần Ending có thể là:That’s all about my hobby. Thank you for your attention!
+Chủ đề:What should we do to keep healthy?thì phần Ending có thể là: That’s all about the things we should do to keep healthy. Thank you for your attention!
+Chủ đề: What do you think about community service?thì phần Ending có thể là: That’s all about my ideas about community service. Thank you for your attention!
+Chủ đề: What do you think about music and arts?thì phần Ending có thể là: That’s all about my ideas about music and arts. Thank you for your attention!
+Chủ đề: How to cook your favourite food? thì phần Ending có thể là: That’s all about the steps of making my favourite food. Thank you for your attention!
3) Cung cấp từ vựng cần thiết
	Như đã nói ở trên, từ vựng là vô cũng cần thiết cho từng chủ đề, là một thành tố vô cùng quyết định cho một bài Speaking. Không có từ vựng thì các em không thể biến ý tưởng thành lời. Từ vựng sẽ giúp tạo nên sự khác biệt giữa người này với người kia vì đồng thời cũng một vấn đề, một ý tưởng nhưng vốn từ của mỗi người sẽ tạo nên sự khác biệt của mỗi cá nhân đó. Ví dụ khi nói về hobby, thì có rất nhiều từ vựng để lựa chọn. Chúng ta có thể nói về hobby bằng nhiều cách sau: 
+My hooby is listening to music.
+My interest is listeing to music.
+My favorite thing is listening to music.
+My favorite thing to do in my free time is listening to music.
+I am into listening to music.
+I love listening to music.
+I enjoy listening to music.
+I like listening to music.
+I am interested in listening to music.
+I am keen on listening to music.
+I am fond of listening to music.
+I am a big fan of music in general. 
+Listening to music is one of my favourite free time activities.
+Listening to music is the thing I often do in my free time.
	Việc áp dụng từ vựng phong phú vào bài Speaking sẽ giúp người nghe đánh giá được trình độ của người nói một cách chínhxác hơn và yêu cầu về Speaking trong giao tiếp, trong kiểm tra và thi cử cũng dễ dàng đạt đến thành công hơn. 
	Thế nên việc cung cấp từ vựng cần thiết cho một chủ đề bài học là nhiệm vụ cần thiết và vô cùng quan trọng mà đòi hỏi người GV phải đào sâu nghiên cứ và tìm hình thức thích hợp để truyền đạt đến người học. Do vậy, ở mỗi chủ đề sắp dạy tôi đều nghiên cứu và chọn lựa từ vựng cần thiết, trọng tâm cốt yếu làm sao cho các em khi học xong từ vựng vừa có thể hiểu được nội dung SGK, vừa có thể đủ kiến thức đề làm được các yêu cầu bài tập trong SGK mà còn có thể áp dụng được chúng vào trọng trình bày được topic của mình. 
	Vid dụ: Khi dạy bài Unit 1: My hobbies. 
-Sau khi hoàn thành bài học này các em phải trình bày được topic “What is your hobby?”
-Thế nên từ vựng cần thiết cung cấp cho chủ đề này là về hobby. Tôi đã áp dụng nhiều thủ thuật chuyên môn để cho các em vận động bộ não mà tập hợp các từ vựng về chủ đề hobby. Những thủ thuật đó có thể là Brainstorming, Matching, Bingo!, Lucky Number, Kim’s game,Find someone who... (xem phụ lục 11)
Từ vựng sử dụng trong trình bày topic này có thể liên quan đến topic khác, và từ vựng giữa các bài học là liên quan mật thiết với nhau. Thế nên khi trình bày topic này mà biết áp dụng từ vựng liên quan đến vấn đề khác sẽ giúp cho bày Speaking thêm phong phú và lôi cuốn người nghe và cũng chứng minh được kiến thức của HS về vấn đề mà các em cần trình bày. 
Vì thế, trong suốt quá trình dạy học đòi hỏi người GV phải không ngừng dạy từ mới và cũng cố từ vựng cũ cho các em để các em có thể ứng dụng vào việc học tập một cách hiệu quả đặc biệt là trong Speaking. 
Cùng đi phân tích một bài Speaking của một HS lớp 7A2 khi nói về chủ đề hobby để thấy được tầm quan trọng và tính hiệu quả của việc ứng dụng từ vựng vào trong trình bày vấn đề Speaking. (tôi xin chỉ phân tích phần Body của bày Speaking, xin xem phụ lục 12để thấy toàn bộ nội dung của bài)
“Firstly, making models can help me relax after studying hard because I can play with them and I sometimes make models with my parents, brothers, sisters, my friends and my classmates and so on. We really have good fun together when we make models. Therefore, making models brings me a lot of happiness. I feel really relaxing when I make models.
	Secondly, making models is not difficult because there are a lot of easy models for me to make such as pot, teapot, pan, bike and so on. I can easily choose a topic to make the models because there are a lot of normal things around me. For example, one day, on the way to my school I saw cat eating a fish. I like this view very much, so I make a model of a cat, a model of a fish. I put the fish in the cat’s mouth. That helps my remember about the day I saw them. 
Finally, making models is cheap because the materials for making them are not very expensive. We can use many kinds of materials to make models. They can be clay, stones, tree leaves, tree branches, paper and so on. I can collect them every where around me. 
I don’t pay a lot of money for buying the materials. Moreover, using recycled things to make models is one of the best way to keep our environment clean and healthy.”
+Đây là một bài Speaking về hobby nhưng em HS đã đưa được nhiều từ vựng liên quan đến các chủ đề khác mà em đã được học từ lớp 6 vào trong bài Speaking của mình. 
Cụ thể như sau.
+Trong phần Firstly có các từ vựng “my parents, brothers, sisters” thuộc về chủ đề “Unit 1: My home”và có các từ “my friends and my classmates” thuộc về chủ đề “Unit 3: My friend”của chương trình tiếng Anh lớp 6 hệ 10 năm.
+Trong phần Secondly có các từ vựng “pot, teapot, pan”thuộc về chủ đề “Unit 1: My home”và các từ “difficult, normal, easy, view” thuộc chủ đề “Unit 5: Natural wonders Of the world” của chương trình tiếng Anh lớp 6 hệ 10 năm.
+Trong phần Finally có các từ vựng “clay, stones, tree leaves, tree branches, paper”thuộc về chủ đề “Unit 10: Our houses in the future”và các từ “recycled things, environment, clean, healthy” thuộc về chủ đề “Unit 11: Our greener world” của chương trình tiếng Anh lớp 6 hệ 10 năm.
4) Áp dụng cấu trúc câu phù hợp
	Như đã đề cập bên trên, cấu trúc câu giống như sợi dây xuyên qua các hạt chuỗi (từ vựng) để gắn kết chúng lại với nhau thành một chiếc vòngtuyệt đẹp (một câu hoàn chỉnh). 
	Mỗi một chủ đề cần nói có thể được trình bày thông qua nhiều hình thức bằng cách sử dụng nhiều mẫu câu phong phú khác nhau và mỗi cá nhân HS sẽ đem đến cho chúng ta những mẫu câu khác nhau tùy theo sở thích, kiến thức và sự truyền đạt của GV cho các em.
	GV phải định hướng được cấu trúc nào là cần thiết để các em HS áp dụng vào việc trình bày chủ đề Speaking của mình. 
	Ở giai đoạn đầu mới học các em có thể sẽ áp dụng máy móc theo cấu trúc mà GV cung cấp nhưng theo thời gian sử dụng và được rèn luyện thường xuyên thì kiến thức của các em sẽ ngày càng nâng cao và mỗi em sẽ có một lựa chọn riêng những mẫu câu thích hợp cho mình để trình bày vấn đề cần nói trong mỗi chủ đề Speaking. 
	Ví dụ khi nói về chủ đề hobby thì để giới thiệu về sở thích của mình các em có thể áp dụng nhiều mẫu câu phong phú kết hợp với từ vựng để trình bày như đã đề cập trong phần ví dụ bên trên. Xin được đề cập lại dưới đây:
+My hooby is listening to music.
+My interest is listeing to music.
+My favorite thing is listening to music.
+My favorite thing to do in my free time is listening to music.
+I am into listening to music.
+I love listening to music.
+I enjoy listening to music.
+I like listening to music.
+I am interested in listening to music.
+I am keen on listening to music.
+I am fond of listening to music.
+I am a big fan of music in general. 
+Listening to music is one of my favourite free time activities.
+Listening to music is the thing I often do in my free time.
	Như vậy, việc rèn luyện cho HS hiểu cấu trúc câu trong tiếng Anh và áp dụng cấu trúc câu vào trình bày vấn đề trong Speaking là rất quan trọng và nó sẽ quyết định sự thành công và sự khác biệt của mỗi HS trong việc học tiếng Anh.
5) Áp dụng từ liên kết để liên kết ý giữa các câu:
	Liên kết từ là vô cùng cần thiết trong việc trình bày bất cứ một vấn đề nào. Liên kết từ có thể được xem như là keo dính để gắn kết các bộ phận của câu lại với nhau hoặc để liên kết các câu lại với nhau theo hệ thống và giúp người nghe hiểu được những gì mà người nói trình bày một cách logic nhất. 
	Liên kết từ trong tiếng Anh là vô cùng phong phú (xem phụ lục 13) . Chúng có thể là giới từ, trạng từ,... đòi hỏi GV hướng dẫn rõ ràng, cụ thể để các em có thể nắm được những liên kết từ này và áp dụng vào trong việc học tập và trong Speaking.Việc áp dụng liên kết từ trong Speaking cần phải được trao dồi theo năm tháng và phải được giáo viên hướng dẫn từng ngày thông qua việc truyền thụ kiến thức bày học từng ngày. 
	Bản thân tôi đã giúp các em áp dụng những từ cơ bản như “and, so, because, but, firstly, secondly, thirdly, finally, in short,...” vào trong trình bày vấn đề Speaking của các em thông qua từng bài học và trong quá trình hướng dẫn các em trình bày topic của mình để bày Speaking của các em được phong phú hơn và hay hơn. 
	Ví dụ trong bài nói về “My hobby” của một HS lớp 7A2 thì em đã vận dụng vô cùng phong phú và đa dạng các từ liên kết. Hãy cùng nhìn lại bài viết này.
“Firstly, making models can help me relax after studying hard because I can play with them and I sometimes make models with my parents, brothers, sisters, my friends and my classmates and so on. We really have good fun together when we make models. Therefore, making models brings me a lot of happiness. I feel really relaxing when I make models.
	Secondly, making models is not difficult because there are a lot of easy models for me to make such as pot, teapot, pan, bike and so on. I can easily choose a topic to make the models because there are a lot of normal things around me. For example, one day, on the way to my school I saw cat eating a fish. I like this view very much, so I make a model of a cat, a model of a fish. I put the fish in the cat’s mouth. That helps my remember about the day I saw them. 
Finally, making models is cheap because the materials for making them are not very expensive. We can use many kinds of materials to make models. They can be clay, stones, tree leaves, tree branches, paper and so on. I can collect them every where around me. 
I don’t pay a lot of money for buying the materials. Moreover, using recycled things to make models is one of the best way to keep our environment clean and healthy.”
	+Để liên kết ý giữa các đoạn với nhau, Hs này đã áp dụng được các từ “Firstly, Secondly, Finally”
	+Để mở rộng ý tưởng của một vấn đề trong một câu nói, HS này đã áp dụng được các từ “so, and, because, but, with, when”
	+Để mở rộng ý tưởng cho câu nói trước đó, Hs này đã dùng được từ “Moreover, For example”
	+Để đưa ra ví dụ, HS này đã áp dụng được các từ “such as, For example
6) Trình bày thực tế
	Trình bày ý tưởng trước người khác là cách tốt nhất để biến ý tưởng thành hiện thực. Vì thế tôi đã tạo nhiều điều kiện để các em HS được có cơ hội trình bày bài Speaking của mình ra thực tế thông qua những hình thức sau:
-Trình bày cùng partner:
+Partner là nguồn tài nguyên sẵn có bên cạnh một HS, lúc nào partner cũng bên cạnh mình để lắng nghe và chia sẽ những vấn đề liên quan về học tập và có thể nói partner là người hiểu mình nhất trong một lớp học. Do vậy việc chia sẽ ý tưởng cùng với partner sẽ chẳng có gì là ngại ngùng đối với một HS. 
+Hiểu được điều này, tôi luôn tạo điều kiện để HS của mình trình bày ý tưởng cùng partner thông qua hình thức “work in pairs”. HS được thoải mái về tâm lý để chia sẽ ý tưởng của mình cùng với partner. Các em có thể nói đúng, có thể nói sai nhưng vẫn không ngại ngùng vì partner là người cùng về đẳng cấp và cùng về trình độ với mình, và đôi khi partner sẽ giúp nhau khắc phục được khuyến điểm trong quá trình “work in pairs”. 
-Trình bày cùng group mate:
+Goup mate: Là cơ hội để HS là việc trong sự thân thiện, hòa đồng và mở rộng thêm thông tin cần trao đổi. Các bạn cùng goup sẽ có thể khác nhau về ý tưởng cần trình bày. Do vậy khi làm việc theo nhóm các em sẽ có thể tích lũy thêm ý kiến để bổ sung cho bài nói của mình.
-Trình bày cùng classmate: 
	+Trong quá trình học tập thì môi trường lớp học là môi trường lý tưởng và thân thiện để HS có thể thực hành mà không dè dặt và e ngại. Classmate sẽ là những người bạn cùng trình độ, cùng một trường suy nghĩ để có thể hỗ trợ nhau học tập và úp nhau hoàn thiện những thiếu sót trong quá trình học tập.
	+Trình bày topic trước các bạn cùng lớp sẽ giúp các em thấy tự tin hơn trong quá trình học tập, các em sẽ không có biểu hiện lạ về môi trường và cảm thấy mình được thoải mái để trình bày ý tưởng của mình. 
	+Vì thế trong quá trình giảng dạy, tôi luôn khuyến khích các em mạnh dạn trình bày cùng classmate vì đây sẽ là điều kiện tốt để các em thể hiện bản lĩnh bản thân và tận dụng cơ hội này để rèn thêm bản lĩnh tự tin trước đám đông để từ đó các em có thể mạnh dạng hơn trong giao tiếp thực tế. 
	+Trình bày cùng classmate và giúp classmate khắc phục sai sót cũng là một cơ hội tốt để các em tự hoàn thiện bản thân mình. Từ bài nói và từ ý tưởng của các bạn cùng lớp thì các em có thể cải thiện và chỉnh sửa lại bài nói của mình một cách hoàn thiện hơn. 
-Trình bày trước giáo viên: 
	+GV sẽ là người giúp các em hoàn chỉnh hơn các ý tưởng của các em đã áp dụng vào bài nói của mình. 
	+GV sẽ giúp các em hoàn thiện hơn về việc chọn lựa từ vựng, cấu trúc ngữ pháp từ đó các em sẽ cải thiện hơn trong quá trình thể hiện ý tưởng của mình trong Speaking một các chính xác về từ vựng và cấu trúc ngữ pháp.
	+GV sẽ giúp các em khắc phục các lỗi về phát âm, về phụ âm cuối, về ngữ điệu và dấu nhấn, trọng âm,... từ đó các em sẽ dần cải thiện về khả năng Speaking về mọi mặt trong giao tiếp. 
7) Hình thành kỹ năng
	Từ việc tạo cho HS nghiều môi trường học tập và thực hành để hoàn thiện khả năng Speaking sẽ giúp được các em hình thành kỹ năng ngày càng vững chắc. Thế nên, bất cứ khi gặp một vấn đề hay chủ đề nào thuộc về trường kiến thức của các em, thuộc về khả năng từ vựng của các em thì các em sẽ đễ đàng hình thành ý tưởng để trình bày thông qua việc:
	Hình thành ý tưởng à Thiết lập dàn ý à Lựa chọn từ vựng cần thiết à Sử dụng cấu trúc thích hợp àSử dụng từ liên kết ý à Thực hành cùng bày bè, thầy cô thông qua thực tế à Đi đến hoàn thiện chủ đề. 
	Kỹ năng là cái thiết yếu cần có trong Speaking. Đòi hỏi các em phải thường xuyên luyện tập một cách liên tục không ngừng nghỉ. 
	Để có được kỹ năng là điều không phải dễ và quá trình thành công còn tùy thuộc vào lòng đam mê của mỗi người học và của nhiều điều kiện khách quan tác động vào quá trình học tập của người học. 
	Nhưng với bất cứ lý do gì, thì điều tiên quyết cần có để hình thành kỹ năng đều đòi hỏi người học nói chung và HS THCS nói riêng phải thông qua các bước trênthì mới có được một bài Speaking hoàn chỉnh.
III) Kết quả đạt được từ việc áp dụng sáng kiến
1) Đối với bản thân:
Sau khi thực hiện phương pháp này, bản thân cảm thấy hài lòng về thành tích mình đã mang đến cho HS, thỏa mãn về kết quả mà các em mang đến cho mình: phần lớn các HS lớp 7A2 của năm học này đều có thể hiểu và thực hiện đúng yêu cầu của giáo viên tiếng Anh trong những tiết học tiếng Anh và đã có nhiều kết quả tích cực trong các lần kiểm tra Speaking (xem cụ thể về điểm số ở các phụ lục 4, 5)
Từ kết quả khả quan trên đã kích thích bản thân không ngừng sáng tạo và học hỏi để nâng cao tay nghề và tìm hiểu nhiều biện pháp khác để có thể hỗ trợ hơn nữa cho việc học của các em để các em ngày càng tăng cao hứng thú trong học tập bộ môn.
2) Đối với HS: 
	Rèn luyện theo các bước hướng dẫn trong sáng kiến này đã giúp các em ngày càng tự tin hơn trong trình bày vấn đề trong Speaking do vậy điểm số các em trong việc học Speaking ngày càng cải thiện. Từ đó gia tăng lòng hứng thú của các em đối với bộ môn tiếng Anh nói riêng và các bộ môn còn lại nói chung từ đó giúp các em nâng cao kết quả học tập nói chung.
3) Đối với tổ bộ môn:
Góp phần cải thiện chất lượng của tổ bộ môn.
Thêm một kinh nghiệm mới để giới thiệu đến các thành viên trong tổ để áp dụng nhằm nâng cao toàn diện chất lượng của tổ bộ môn.
4) Đối với đơn vị và ngành:
Góp phần nêu lên một vấn đề mới trong đơn vị, trong ngành và thúc đẩy được phong trào tìm tòi sáng kiến mới trong giảng dạy để mang lại hiệu quả cao cho đơn vị và cho ngành.
*Một số tồn tại nảy sinh trong quá trình áp dụng sáng kiến:
Khi HS không có hứng thú với bộ môn và không theo đúng hướng dẫn của GV thì sẽ khó có thể áp dụng được vào thực tiễn những gì đã học do vậy vẫn còn một số em khi quên ý tưởng trong quá trình trình bày ý tưởng thì không thể tiếp tục trình bày được vì các em nặng về cách học tuyền thống là phải thuộc được đúng với từ mà các em đã soạn hoặc đã thuộc trước đó theo kiểu học của các môn xã hội nói chung. 
	Một số em chưa vững kiến thức ngữ pháp có thể còn dùng cách trình bày ý tưởng thông qua việc dịch thuật từ tiếng Việt sang tiếng Anh (một trong những cách học cổ điển trước đây không còn phù hợp với thời đại mới).
IV) Tính thực tiễn:
1) Tác dụng của sáng kiến:
	Sáng kiến này đã trãi qua gần đầy hai năm học áp dụng trong thực tiễn và đã đem lại nhiều kết quả khả quan cả cho HS, cho bản thân và cho tổ bộ môn.
	Cụ thể: 
	+Năm học 2016-2017 số HS do bản thân bồi dưỡng tham dự kì thi hùng biện tiếng Anh cấp trường đạt giải là 03HS
	+Năm học 2017-2018 số HS do bản thân bồi dưỡng tham dự kì thi hùng biện tiếng Anh cấp trường đạt giải là 04 HS
2) Phạm vi áp dụng của sáng kiến:
Sáng kiến này có thể được áp dụng cho việc giảng dạy bộ môn tiếng Anh trên toàn địa bàn tỉnh An Giang hiện nay nói riêng với cấp học THCS và có thể mở rộng ra áp dụng cho cấp THPT nhưng đòi hỏi GV phải biết hướng dẫn HS cách để trình bày ý tưởng một cách thông minh hơn và sáng tạo hơn với những cấu trúc câu cao hơn hoàn chỉnh hơn.
Đối với những lớp đã được áp dụng biện pháp này thì sang năm học sau các em sẽ có nền tảng vững chắc để nghe GV giảng dạy bằng tiếng Anh trên lớp mà không còn bỡ ngỡ như những lớp chưa thực hiện biện pháp này.
3) Những bài học kinh nghiệm:
	Trong quá trình áp dụng sáng kiến này vào thực tế bản thân cũng gặp không ít những phản ứng trái chiều từ HS với một số em có vốn từ vựng quá ít không thể bày tỏ được ý tưởng thành câu. 
	Một số em thì cấu trúc câu còn chưa vững nên không thể trình bày câu nói một cách đúng ngữ pháp và logic theo ngôn ngữ học.
	Để đạt hiệu quả cao hơn nữa trong việc áp dụng sáng kiến này vào thực tiễn thì GV phải không ngừng tìm hiểu nhiều biện pháp để giúp các em cải thiện kiến thức về từ vựng và cấu trúc câu.
V) Kết luận:
Với đặc trưng riêng của môn tiếng Anh là dùng để giao tiếp nhưng hiện nay thì đa phần các cột điểm của các em trên lớp là chỉ dựa vào bài kiểm tra trên giấy chưa phải là kiểm tra trêngiao tiếp thật sự nên việc áp dụngsáng kiến “GIÚP HỌC SINH HÌNH THÀNHKỸ NĂNG TRÌNH BÀY TOPIC TRONG SPEAKING” sẽ giúp được các em có cơ hội vận dụng được tiếng Anh của mình, không cảm thấy học tiếng Anh chỉ để đem về đóng hộp. Từ đó sẽ kích thích tinh thần ham học hỏi của các em, gia tăng hứng thú học tập bộ môn. Làm nền tảng vững chắc cho các em để tự tin bước vào các cấp học tiếp theo và trở thành một người lao động giỏi cho đất nước trong tương lai để hòa nhập kịp với các nền kinh tế lớn khác.
-HẾT-

File đính kèm:

  • docxSANG KIEN KINH NGHIEM_12493612.docx
Sáng Kiến Liên Quan