Giáo dục đạo đức – kĩ năng sống cho học sinh lớp 8AB trường PTDTBT - THCS Quảng Sơn thông qua môn Ngữ Văn 8

 1.Lí do chọn đề tài:

 Chúng ta vẫn biết rằng đạo đức là một hình thái xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích hạnh phúc của mình, sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ con người với con người, con người với tự nhiên. Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ của cá nhân với xã hội. Trong tất cả các mặt giáo dục thì giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng vì Hồ Chủ Tịch cũng đã nêu “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức, đức là đạo đức cách mạng đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”. Như vậy vấn đề thứ nhất tôi đặt ra trong sáng kiến kinh nghiệm này là: người giáo viên – đặc biệt là giáo viên dạy môn ngữ văn phải nhận thức rõ trong nhà trường THCS giáo dục đạo đức - kĩ năng sống là mặt giáo dục phải được đặc biệt coi trọng vì nếu công tác này được coi trọng thì chất lượng toàn diện sẽ được nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác, mà để thực hiện những yêu cầu về nội dung giáo dục đạo đức đức - kĩ năng sống cho học sinh thì vai trò của tập thể sư phạm lại giữ một vị trí quan trọng và có tính quyết định. Thế nhưng điều quan trọng là giáo dục như thế nào bởi vì giáo dục đạo đức - kĩ năng sống không chỉ là việc truyền thụ khái niệm tri thức đạo đức mà quan trọng hơn là kết quả giáo dục phải được thể hiện thành tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của học sinh.

 

doc27 trang | Chia sẻ: thuhong87 | Ngày: 05/03/2019 | Lượt xem: 281 | Lượt tải: 3Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo dục đạo đức – kĩ năng sống cho học sinh lớp 8AB trường PTDTBT - THCS Quảng Sơn thông qua môn Ngữ Văn 8", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
u quan trọng không thể thiếu của người giáo viên. Tuy nhiên để làm tốt khâu này thì điều đầu tiên người giáo viên phải giúp các em nhận thức rõ mục đích của phê phán rút kinh nghiệm là để giúp các em nhìn thấy rõ hơn cái sai, cái chưa làm được của mình để tránh, để sửa chữa và làm cho tốt hơn chứ không phải là moi móc cái xấu, cái chưa là đượcđể chê cười các em. Điều này cần được tiến hành thường xuyên trong các giờ học tiếng việt, các giờ học tập làm văn, cụ thể như khi giao tiếp với các em, nếu các em nói sai giáo viên cần nhận xét và chỉ ngay cho các em thấy cái sai của mình để các em sửa chữa luôn, không mắc phải vào những lần sau. 
2.2g. Biểu dương tuyên truyền
 Để học sinh thấy được những cố gắng của mình được ghi nhận mỗi giáo viên có một cách riêng. Một trong những cách mà bản thân tôi cũng như nhiều giáo viên áp dụng đó là hình thức biểu dương tuyên truyền.
 Giáo viên cần phải biểu dương kịp thời những học sinh có ý thức đạo đức tốt, ghi nhận những học sinh có kỹ năng sống tốt để phát huy bồi dưỡng cho các em. Ngay cả những em học sinh mắc lỗi cũng nên có biện pháp phù hợp để giáo dục. Sau khi xử lý học sinh vi phạm, nhà trường cần có kế hoạch theo dõi, phối hợp với phụ huynh học sinh, chính quyền địa phương tạo điều kiện cho học sinh phấn đấu, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm để tiến bộ. Khi đã thấy học sinh có chiều hướng phát triển tốt, cần phải động viên, khích lệ và thậm chí nên khen thưởng các em nếu thấy các em có biểu hiện tốt và có nổ lực trong học tập. Việc khen thưởng và kỷ luật đối với học sinh được thực hiện một cách đúng đắn sẽ góp phần rất lớn vào việc củng cố và phát triển phong trào thi đua " Dạy tốt – Học tốt" trong nhà trường. 
2.2h.Khuyến khích bằng vật chất
 Đây cũng là một hình thức công nhận, ghi nhận những cố gắng, thành tích của các em. Cụ thể với những em đạt các danh hiệu như học sinh giói văn cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnhnhững học sinh có quá trình tu dưỡng và rèn luyện đạo đức tốt giáo viên nên có sự động viên kịp thời bằng cách trao phần thưởng cho các em bằng hiện vật, trị giá tiền mặt để các em thấy được những phấn đấu của mình là thực sự có hiệu quả từ đó sẽ càng nỗ lực phấn đấu nhiều hơn. Các bạn học sinh chưa đạt được đến tầm đó sẽ thấy đây là những tấm gương sáng để mình học tập và noi theo, từ đó sẽ dấy lên phong trào thi đua học tập tạo nên không khí học tập tốt trong nhà trường, là tiền đề để kết quả, chất lượng học tập sẽ được nâng cao hơn. 
 2.3 .Kết quả
* Tiêu chí đánh giá
 - Căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập của các em trong suốt một năm học ( Kết quả xếp loại học lực từng môn học và cả năm của từng em – Dựa vào đánh giá
của giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm.)
 - Căn cứ vào kết quả xếp loại về hạnh kiểm của từng em sau một năm – Dựa vào đánh giá của giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm.)
 - Căn cứ vào kết quả xếp loại hoạt động ngoài giờ lên lớp của từng em sau một năm – Dựa vào đánh giá của giáo viên phụ trách hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo viên tổng phụ trách đội.
* Kết quả sau khi đánh giá 
 Bằng những cách làm khác nhau (qua dạy và học bộ môn ngữ văn và qua các hoạt động đan xen) nhằm giáo dục, rèn luyện KNS cho học sinh, tôi nhận thấy một số kết quả như sau: 
- Các em nhận biết được một số KNS mà qua môn ngữ văn và một số hoạt động đã chuyển tải. không còn rụt rè, thụ động mà tỏ ra tích cực, linh hoạt, sôi nổi hơn trong học tập và sinh hoạt. 
- Hạn chế được những em có cuộc sống “khép kín” (do nhiều nguyên nhân) hoặc quá say mê “thế giới ảo” của Internet, gamemà quên đi những hoạt động chung quanh của bạn bè, của cộng đồng và xã hội. Qua đó còn hạn chế được những tác nhân tiêu cực, xây dựng môi trường trường học thân thiện, học sinh tích cực.
 - Giúp các em thích ứng được với cuộc sống mà đôi khi những biến động, bất trắc khôn lường có thể xảy ra, dù là tự nhiên hay xã hội, nhất là xã hội ngày càng hiện đại, phát triển. 
- Góp phần tích cực cho việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh, tăng năng lực thích nghi và điều khiển chính cuộc sống của mình.
 2.4. Bài học kinh nghiệm
* Bài học chung
 Sau khi rút kinh nghiệm và thay đổi áp dụng những biện pháp trên tôi nhận thấy :
- Thứ nhất: việc tiếp thu kiến thức cơ bản của môn văn nói riêng của các em đã có sự tiến bộ hơn như các em đọc tốt hơn, viết đã nhanh hơn, đã bước đầu biết cách viết một bài văn dù còn ngắn. Trong các giờ học văn đã mạnh dạn giơ tay xây dựng bài – điều mà đầu năm học lên tôi thấy chưa đạt vì giáo viên đặt câu hỏi nhưng học sinh không giơ tay phát biểu hay có gọi phát biểu thì các em chỉ đứng dậy chứ không trả lời. Tôi cũng không đòi hỏi các em phải viết hay, nói hay vì thực tế các em là học sinh người dân tộc thiểu số nên nhận thức còn rất chậm, bước đầu dạy được các em biết đọc tốt hơn, viết được nhanh hơn, biết các viết đúng một bài văn và rèn được ý thức giơ tay phát biểu xây dựng bài cho các em trong giờ học là điều rất khả quan.Đây cũng là động lực để tôi tiếp tục áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này trong những năm học tiếp theo.
- Thứ hai: Sau một năm học tôi nhận thấy các em đã biết chào hỏi các thầy cô, biết hỏi han và thưa gửi có lễ phép vì đầu năm học tôi nhận thấy đa số các em đều nói trống không với các thầy cô giáo. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều em chưa thực hiện tốt điều này nhưng bản thân tôi cùng các đồng nghiệp sẽ tiếp tục cố gắng trong các năm học tiếp theo.
 * Bài học riêng
 Như đã nói trên, hiện trạng học sinh học văn còn yếu, chưa biết chào hỏi thầy cô... là tương đối phổ biến đối với các em học sinh Quảng Sơn nói chung và học sinh lớp 8AB tôi dạy văn nói riêng. Ngay sau khi nhận lớp tôi đã tiến hành bài khảo sát với học sinh để biết được tình hình viết cụ thể của từng em. Sau đó tôi cho các em thực hành đọc văn bản trong các giờ đọc hiểu ngữ văn để phân loại các em đọc tốt, các em biết đọc và đọc còn yếu...Sau khi đã có kết quả tôi sẽ tiến hành lập kế hoạch cụ thể để phụ đạo cho từng đối tượng như với các em đọc yếu sẽ gọi các em đọc nhiều hơn để rèn kĩ năng đọc. Có đọc nhiều chắc chắn khả năng đọc sẽ tốt hơn. Với những em viết yếu tích cực cho các em rèn viết chính tả trong các giờ ngữ văn tự chọn. Khi viết chú ý chỉnh sửa luôn những từ ngữ các em viết sai chính tả, viết chưa đúng dấu câu... Còn đối với việc giáo dục đạo đức và KNS cho các em thì phối kết hợp trong và ngoài giờ học. Trong giờ học thông qua các bài học cụ thể giáo viên có sự liên hệ giáo dục thiết thực. 
*Bài học thành công
 Hiện nay việc nâng cao chất lượng dạy và học, giáo dục đạo đức và KNS của giáo viên và học sinh là mối quan tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác. Trong các môn ở THCS thì môn Ngữ văn là một trong những môn quan trọng nhất giúp học sinh nắm vững được kiến thức tiếng Việt cơ bản, có cơ sở học tốt các môn khác, ngoài ra còn giúp các em năng động, sáng tạo, tự tin hơn trong khi giao tiếp.
 Sau một năm học áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “Giáo dục đạo đức – kĩ năng sống cho học sinh lớp 8AB trường PTDTBT THCS Quảng Sơn, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” , tôi cũng đã thu được những kết quả rất đáng khả quan, đó là các em học sinh lớp 8AB đã có sự tiến bộ hơn như các em đọc tốt hơn, viết đã nhanh hơn, đã bước đầu biết cách viết một bài văn dù còn ngắn. Trong các giờ học văn đã mạnh dạn giơ tay xây dựng bài. Các em đã biết chào hỏi các thầy cô, biết hỏi han và thưa gửi có lễ phép. Nhiều em đã mạnh dạn và tự tin hơn trong giao tiếp và bước đầu có kĩ năng giao tiếp.
* Bài học chưa thành công
 Bên cạnh những thành công mà tôi đạt được khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này thì vẫn còn những điều mà tôi áp dụng chưa được thành công. Đó là nhiều em học sinh dân tộc Tày vẫn chưa có sự tiến bộ như em Tằng A Ninh (bản Lồ Mã Coọc) , em Chíu Văn Thoòng ( bản Lý Quáng ), em Tằng A Quyết (bản Lý Quáng ). Các em còn lười đi học nên việc phụ đạo còn gặp nhiều khó khăn. Quá trình trau dồi cho các em là một quá trình lâu dài, liên tục, thường xuyên, nhưng do các em không đi học đều nên việc tiếp thu sẽ vô cùng khó khăn. Chính vì thế mà so với các bạn khác trong lớp việc đọc, viết và kĩ năng sống còn gặp nhiều hạn chế. Đây là điều mà bản thân tôi sẽ phải rút kinh nghiệm, cần khắc phục ngay trong năm học tới, dành nhiều thời gian cho những đối tượng học sinh này ngay từ đầu năm học để giúp cho các em tiến bộ hơn.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
 Có lẽ trong nhà trường không có môn nào có thể thay thế được môn Ngữ văn. Bởi “văn học là nhân học” – đó là một môn học vừa hình thành nhân cách, vừa hình thành tâm hồn. Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, môn Ngữ văn sẽ giúp lưu giữ lại tâm hồn con người, giữ lại giá trị nhân văn để con người truyền đến con người, trái tim hoà cùng nhịp đập trái tim. Nói tóm lại, giáo viên Ngữ văn có trách nhiệm to lớn trong việc giáo dục đạo đức và KNS cho học sinh. Giáo dục đạo đức và KNS cho học sinh là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể nên phải đảm bảo chặt chẽ của quy trình quản lý giáo dục. Công tác giáo dục đạo đức và KNS cho học sinh trong giai đoạn hiện nay càng đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ cao hơn, cần thiết hơn.Giáo dục đạo đức KNS cho học sinh là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó giáo dục ở nhà trường có vai trò định hướng. Đó là sứ mệnh lịch sử, là vinh dự và trách nhiệm mà xã hội giao cho nhà trường và mỗi chúng ta nói riêng, ngành giáo dục và đào tạo nói chung. 
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
1.Đối với cấp trường
 Tổ chức chỉ đạo và thực hiện tốt các kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh đã đề ra từ đầu năm 
 Tổ chức tốt việc triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh, để công tác giáo dục đạo đức học sinh trong trường học thành công, đòi hỏi các thành viên tham gia giáo dục đạo đức học sinh cần thực hiện tốt các yêu cầu cụ thể với nhiệm vụ, chức năng của mình: 
 a) Đối với cán bộ quản lý 
 Phải làm cho toàn thể cán bộ- giáo viên - nhân viên trong trường thấy rõ tầm quan trọng và sự cấp thiết của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay. Từ đó nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm, tích cực tham gia các hoạt động nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng và chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung. Triển khai hướng dẫn số 30/HD-SGDĐT, chỉ đạo cho giáo viên bộ môn. Giáo viên dạy Giáo dục công dân phải phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để nhận xét về hạnh kiểm của học sinh theo cách: Nhà trường hướng dẫn hình thức phù hợp để giáo viên môn Giáo dục công dân chuyển kết quả nhận xét sau mỗi học kỳ, năm học cho giáo viên chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm ghi nội dung nhận xét cuối năm học ở phần dành cho nhận xét của giáo viên chủ nhiệm trong học bạ. Ngoài ra, Ban giám hiệu nhà trường cần chỉ đạo cho giáo viên chủ nhiệm đánh giá nghiêm túc kết quả hạnh kiểm của các em, để tránh trường hợp một số học sinh vẫn còn vi phạm nội quy nhà trường mà vẫn được đánh giá hạnh kiểm tốt, việc làm này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh sau này. 
 b) Đối với giáo viên chủ nhiệm 
 Gia đình, nhà trường, xã hội là ba lực lượng giáo dục, trong đó nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, giáo viên chủ nhiệm là người giữ vai trò chủ động trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục và là người trực tiếp thay mặt nhà trường để giáo dục học sinh. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm là người thực hiện sự phối hợp, liên kết chặt chẽ với giáo viên bộ môn, các đoàn thể trong nhà trường. Năng lực chuyên môn, đạo đức, uy tín và kinh nghiệm công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp là điều kiện quan trọng nhất cho việc tổ chức phối hợp thành công các hoạt động giáo dục học sinh của lớp. Giáo dục đạo đức học sinh là một công việc đòi hỏi sự kiên trì, cần phải có tâm huyết với nghề; có phương pháp chủ nhiệm tốt với một kế hoạch toàn diện, hợp lý. Như vậy, tìm hiểu và nắm vững đối tượng giáo dục vừa là nội dung, vừa là điều kiện để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. Hình ảnh người thầy ảnh hưởng không nhỏ đến học sinh, chính vì vậy giáo viên chủ nhiệm không những cần năng lực chuyên môn, mà còn đòi hỏi phải thật sự là tấm gương sáng về tác phong, tư cách đạo đức; chuẩn mực trong trang phục, lời nói, cách ứng xử như vậy lời nói của giáo viên chủ nhiệm mới có trọng lượng với học sinh. Tóm lại, giáo dục tình cảm cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của gia đình, nhà trường mà là của toàn xã hội. Giáo dục tình cảm là một trong những nội dung quan trọng của việc giáo dục nhân cách, đạo đức chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống lao động xã hội. 
 c) Đối với giáo viên bộ môn 
 Mỗi một giáo viên bộ môn, hãy cố gắng dạy tốt môn học của mình, hãy chú ý đến mọi đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh cá biệt, học sinh yếu, kém, học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn để tận tình giúp đỡ các em, giúp cho các em tiếp thu tốt nhất kiến thức mà mình đã truyền đạt. Tích cực nâng cao chất lượng tiết dạy, chú ý ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả để kích thích sự ham học, hứng thú của học sinh đối với tiết học, chú trọng việc lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức học sinh thông qua các môn học như: Văn học, Lịch sử, Địa lý, Sinh học và đặc biệt là môn Giáo dục công dân có vị trí quan trọng đối với việc trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về phẩm chất, đạo đức, về quyền và nghĩa vụ công dân, sẽ giúp học sinh có thái độ tích cực và thực hiện những hành vi đúng đắn phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội. 
 d) Đối với Đoàn - Đội 
 Bộ phận Đoàn - Đội trong nhà trường có vai trò hết sức quan trọng trong công tác giáo dục đạo đức học sinh. Do đó, nhà trường cần tăng cường vai trò của tổ chức Đoàn - Đội trong việc tuyên truyền các nghị quyết của Đoàn- Đội, tổ chức thực hiện các phong trào thi đua trong học tập, các hoạt động ngoại khoá; các hoạt động "đền ơn đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn ”, những hoạt động văn hóa lành mạnh khác, nhằm thu hút, lôi cuốn học sinh đến với tập thể, đến những hoạt động bổ ích, nhằm để giáo dục về lòng nhân ái, tình đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau; giáo dục cho các em những kỹ năng sống; giáo dục truyền thống và đạo lý con người Việt Nam, để từ đó giáo dục đạo đức học sinh. Ngoài ra, Đoàn thanh niên - Đội thiếu niên cũng là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh. 
 e) Đối với bộ phận Quản lý nội trú 
Các giáo viên, nhân viên ở nội trú là người gần gũi và tiếp xúc với các em nhiều hơn các giáo viên bộ môn nên dễ dàng nắm bắt được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các em. Vì vậy, các thầy cô hãy chịu khó lắng nghe, chia sẽ và giúp đỡ cho các em khi các em gặp khó khăn. Đồng thời cần phải giáo dục cho các em cách sinh hoạt hàng ngày, tính tập thể, tính kỷ luật, rèn luyện ý thức tự giác, tiết kiệm điện nước. Bên cạnh đó, các nhân viên ở đây cần sống và làm việc gương mẫu cho các em noi theo. Đồng thời cần phối hợp chặt chẽ, thông tin kịp thời với giáo viên chủ nhiệm để giáo dục đạo đức cho các em. 
 f) Đối với gia đình
 Trong cuộc sống hàng ngày, cha mẹ, ông bà cần phải sống mẫu mực, làm gương tốt cho con, cháu noi theo; có trách nhiệm tham gia đầy đủ các buổi họp cha mẹ học sinh; thường xuyên liên lạc với giáo viên chủ nhiệm để kịp thời nắm bắt các thông tin về việc học tập và sự rèn luyện đạo đức của con em mình, để kịp thời uốn nắn, dạy dỗ. Mỗi cha mẹ học sinh cần quan tâm xây dựng tổ chức 19 hội cha mẹ học sinh vững mạnh, có mối quan hệ thường xuyên với nhà trường; phát huy vai trò, chức năng Hội cha mẹ học sinh trong việc giáo dục đạo đức học sinh, động viên, răn dạy các em chấp hành tốt nội qui của nhà trường, các chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước. 
 g) Đối với chính quyền địa phương 
 Cần chú trọng xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh và chính quyền địa phương nơi trường đóng. Hằng năm, thông qua các văn bản, công văn, báo cáo định kỳ, nhà trường trao đổi thông tin đồng thời triển khai kế hoạch với chính quyền địa phương; tham mưu đưa công tác giáo dục đạo đức học sinh vào tiêu chí xây dựng, bình chọn “Gia đình văn hóa”; có đánh giá nhận xét của chính quyền địa phương về “sinh hoạt hè” của học sinh; tạo được sự hỗ trợ tích cực của các lực lượng ngoài nhà trường thành quá trình khép kín trong công tác giáo dục học sinh. 
2.Đối với phòng giáo dục
 Tổ chức nhiều hơn các hội thảo chuyên đề cho giáo viên ngữ văn trong năm theo từng chủ đề cụ thể để giáo viên có dịp gặp gỡ, trao đổi với nhau những kinh nghiệm trong giảng dạy, bàn luận tìm ra các giải pháp tối ưu, tích cực giúp học sinh học tốt hơn bộ môn và cùng giáo dục đạo đức cùng như KNS cho học sinh có hiệu quả hơn.
 Có sự tham mưa với cấp trên để có chế độ đãi ngộ hợp lý với giáo viên dạy .
 Đầu tư thêm nhiều loại sách tham khảo văn, tiếng việt cả cho giáo viên và học sinh, các trang thiết bị, đồ dùng trực quan, đặc biết là đầu tư công nghệ thông tin để hỗ trợ tích cực cho giáo viên ngữ văn.
3.Đối với sở giáo dục
 Quan tâm sát sao, hiệu quả đến chất lượng giáo dục ở địa phương, đầu tư cơ sở vật kịp thời phục vụ cho việc dạy và học.
 Trên đây là một số kinh nghiệm được rút ra từ thực tế giảng dạy. Tuy nhiên những kinh nghiệm này vẫn chỉ mới dừng lại ở quan điểm cá nhân. Tôi rất mong có sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô chỉ đạo chuyên môn để việc giảng dạy môn ngữ văn và giáo dục đạo đức KNS cho học sinh ngày càng có hiệu quả thiết thực hơn. Hy vọng trong những năm tiếp theo phòng giáo dục sẽ có nhiều hoạt động thiết thực để chúng tôi tiếp tục được học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình.
 Tôi xin chân thành cảm ơn! 
 Qu¶ng Sơn, ngµy th¸ng n¨m 2016
 Người viết
 TrÇn ThÞ Thanh V©n
IV.TÀI LIỆU THAM KHẢO – PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Muốn viết được bài văn hay – Nguyễn Đăng Mạnh ( chủ biên)
2.Bí quyết giỏi văn – Vũ Ngọc Khánh
3. Nâng cao ngữ văn THCS – Tạ Đức Hiền, Nguyễn Kim Hoa, Lê Thuận An – NXB Hà Nội
4.Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu lỳ III ( 2004 – 2007 ) môn ngữ văn – quyển 1, 2 – NXB Giáo dục
5.“Phương pháp dạy học ngữ văn ở trường THCS theo hướng tích hợp và tích cực” Đoàn Thị Kim Nhung - - NXB Đại học quốc gia TPHCM
6.Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn ngữ văn trung học sơ sở , năm học 2010-2011– NXB Giáo dục Việt Nam 
7.Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc phát động phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013.
8. Chỉ thị số 3339/2010/CT-BGDĐT ngày 16/8/2010 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về “ Nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục phổ thông năm học 2010 – 2011”.
9. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 710/QĐ-TTg  ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ).
10.“Gia đình giáo dục” Thiên Giang (2001), , Nxb Tp. Hồ Chí Minh.
11.“Mười cách thức rèn kỹ năng sống cho trẻ vị thành niên”,Nguyễn Thị Oanh (2006), Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
12. “Tài liệu tập huấn cho Tập huấn viên về Kĩ năng sống cho trẻ em” Ths tâm lí Đinh Đoàn – – tài liệu của tổ chức World vision ( Tổ chức Tầm nhìn thế giới).
13. “Tài liệu tập huấn Xây dựng câu lạc bộ, tăng cường Kĩ năng sống cho học sinh “– Tài liệu của dự án PTGDTHCS II.
MỤC LỤC
I.PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1.Lý do chọn đề tài
1
2.Mục đích nghiên cứu
2
3.Thời gian địa điểm
3
4. Đóng góp mới về mặt thực tiễn
3
II. PHẦN NỘI DUNG
1.Chương 1 Tổng quan
4
1.1. Cơ sở lí luận
4
1.2. Cơ sở thực tiễn
6
2.Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu
2.1.Thực trạng
9
Khảo sát (thống kê)
9
Đánh giá ( phân tích)
9
2.2. Các giải pháp
10
Bồi dưỡng nâng cao nhận thức
10
Luyện kỹ năng thực hành
13
Tăng cường cơ sở vật chất
21
Kiểm tra đánh giá
21
Phê phán, rút kinh nghiệm
22
Biểu dương, tuyên truyền...
22
Khuyến khích bằng vật chất...
22
2.3. Kết quả
23
Tiêu chí đánh giá
23
Kết quả sau khi đánh giá
23
2.4. Bài học kinh nghiệm
23
Bài học chung
23
Bài học riêng
24
Bài học thành công
24
Bài học chưa thành công
25
III. PHẦN KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
Kết luận
25
Kiến nghị
26
Với cấp Trường
26
Với cấp Phòng
28
Với cấp Sở
28
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
30
V.NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN

File đính kèm:

  • docsang kien kinh nghiem_12406362.doc
Sáng Kiến Liên Quan