Đề tài Một số biện pháp phòng chống đuối nước trong học sinh

A. MỞ ĐẦU:

I. Lí do chọn đề tài:

Tai nạn thương tích trẻ em là một vấn đề nghiêm trọng trên toàn thế giới. Sự phát triển kinh tế và xã hội nhanh chóng ở Việt Nam nhất là ở Đồng Nai gần đây đã góp phần làm cho vấn đề tai nạn thương tích ngày càng nghiêm trọng, như là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong và tàn tật, nhất là ở trẻ em.

Tai nạn thương tích trẻ em ở Việt Nam:

Chỉ riêng trong năm 2007 đã có 7,894 trẻ em và người chưa thành niên tuổi từ 0-19 bị tử vong do tai nạn thương tích (TNTT). Những nguyên nhân tai nạn chủ yếu gây tử vong ở Việt Nam gồm đuối nước, tai nạn giao thông, ngộ độc, ngã, bỏng và động vật cắn. Những nguyên nhân tai nạn thương tích không gây tử vong gồm ngã, tai nạn giao thông, động vật cắn, vật sắc nhọn và bỏng. Cũng giống như những nước có thu nhập thấp và trung bình khác, những yếu tố quan trọng liên quan đến khả năng xảy ra tai nạn thương tích là tuổi, giới tính, môi trường nguy hiểm, tình trạng kinh tế xã hội, yếu tố thường có mối liên hệ với nhận thức hạn chế về nguy cơ và giám sát đối với trẻ; và tình trạng được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, điển hình là dịch vụ cấp cứu và chăm sóc trước viện. Bằng chứng ở các nước cho thấy tất cả các loại tai nạn thương tích trẻ em đều có thể phòng chống. Chiến lược can thiệp cần dựa trên sự kết hợp của nhiều biện pháp như giáo dục và đào tạo, pháp luật và thực thi, thay đổi môi trường, tăng cường sử dụng sản phẩm và thiết bị an toàn. Đây được coi là chiến lược thành công trong việc giảm thiểu gánh nặng do tai nạn thương tích ở trẻ em.

a. Tình hình về tai nạn thương tích:

Năm 2011 tại 55 tỉnh/thành phố có 1.247.209 trường hợp mắc tai nạn thương tích với tỉ suất là 1.645/100.000 người, tăng 0,16% so với năm 2010. Nhóm tuổi 15-19 có tỉ suất mắc TNTT cao nhất là 2.402/100.000 người; tiếp theo là nhóm 20-60 tuổi với tỉ suất 1.840/100.000; thấp nhất là nhóm 0-4 với tỉ suất 949/100.000 người. Tổn thương chi có tỉ lệ mắc cao nhất 33,52%. Địa điểm tai nạn: Tỉ lệ mắc TNTT trên đường đi chiếm tỉ lệ cao nhất (44,27%), chiếm tỉ lệ cao thứ hai là tai nạn thương tích tại nhà với 23,65%. TNTT tại trường học có tỉ lệ mắc thấp nhất (3,39%).

 

doc17 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 27/10/2018 | Lượt xem: 32 | Lượt tải: 1Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề tài Một số biện pháp phòng chống đuối nước trong học sinh", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng hề giảm. Chính vì vậy, chúng ta cần có các giải pháp phòng chống tai nạn thương tích trực tiếp, thiết thực và hiệu quả hơn.
Cần khẳng định rằng, vấn đề quan trọng nhất để giảm nguy cơ đuối nước ở trẻ em chính là ở các bậc làm cha, làm mẹ, bởi lơ là đối với trẻ đồng nghĩa với thảm họa đuối nước có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Các gia đình cần tạo môi trường an toàn cho trẻ bằng cách làm tường rào, lấp kín những ao hồ không cần thiết, làm nắp đậy chắc chắn cho giếng nước, lu chứa nước trong gia đình. Khi cho trẻ đi chơi gần những nơi có sông, suối, ao, hồ, tắm ở bể bơi, tắm biển, cha mẹ phải luôn để con trong tầm quan sát của mình. Ngoài việc thường xuyên giám sát con cái, cha mẹ cần chủ động dạy trẻ em biết bơi và giải quyết các tình huống nguy hiểm có thể gặp phải khi tiếp xúc với nước. 
Bên cạnh đó, cần từng bước đưa môn bơi an toàn vào trong trường học một cách rộng rãi, đẩy mạnh xã hội hoá công tác dạy bơi. Trong cộng đồng cần đẩy mạnh công tác truyền thông phòng, chống đuối nước trẻ em với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với cha mẹ, người chăm sóc trẻ.
Mọi người trong cộng đồng cũng cần tìm hiểu kiến thức, kỹ thuật sơ cứu trẻ em bị đuối nước đúng cách để áp dụng kịp thời khi xảy ra .
II. Cần trang bị kỹ năng sống cho trẻ:
Cần phải khẳng định rằng, có nhiều nguyên nhân gây ra tai nạn thương tích trẻ em. Đầu tiên, là do chính trẻ em không ý thức được mức độ nguy hiểm của môi trường, những trò chơi nguy hại mà chúng đang tham gia. Bên cạnh đó là do sự thiếu ý thức của người lớn. Bởi gia đình là nơi chăm sóc, bảo vệ, đảm bảo sự an toàn cho trẻ, nhưng trên thực tế ý thức và kiến thức của nhiều ông bố bà mẹ còn hạn chế. Thêm vào đó là những ảnh hưởng từ môi trường xã hội, từ cộng đồng như việc trẻ em bị chết do sụt lún hố cát từ các công trình xây dựng, tử vong do tham gia giao thông, do bom mìn chiến tranh còn sót lại... Đây là những cái chết có nguồn gốc từ sự thiếu ý thức của người lớn.
III. “Phổ cập” kỹ năng bơi trong trường học:
Bơi không chỉ là một môn thể thao rất tốt cho sự phát triển cơ thể một cách toàn diện, bơi lội còn là một trong những kỹ năng sống quan trọng nhất phải trang bị cho trẻ nhỏ. Nhưng một số báo cáo lại cho thấy rằng, trong các tai nạn thương tích ở trẻ em thì đuối nước đang chiếm tỷ lệ gần như cao nhất. Thực tế này đặt ra một vấn đề đáng quan tâm đó là việc đưa môn bơi lội trở thành một trong những bộ môn giáo dục trong nhà trường. Trang bị kỹ năng sống, kỹ năng tự giảm thiểu rủi ro cho bản thân là việc nên làm song song với việc trang bị kiến thức văn hóa cho tương lai của đất nước...
 	Một trong những nội dung hướng dẫn thực hiện công tác học sinh, sinh viên, ngoại khóa và y tế trường học năm học 2011 - 2012 của Bộ GD&ĐT gửi các Sở GD&ĐT ngày 25/8 là việc thí điểm dạy bơi trong các trường tiểu học bằng các hình thức phù hợp với từng địa phương.
 	Theo đó, nội dung công văn nêu rõ tích cực triển khai các hoạt động phòng chống tai nạn đuối nước cho học sinh, đặc biệt là triển khai các mô hình thí điểm dạy bơi trong các nhà trường. Điều đó cho thấy các cấp lãnh đạo đã bắt đầu có hướng nhìn kịp thời và đúng đắn. Đây sẽ là cơ sở để đưa môn bơi thành một môn học được đầu tư quan tâm đúng mức trong giáo dục.
 	Đối tượng dạy bơi tập trung vào khối 4 và mở rộng dạy cho học sinh khối 3 và 5. Bể bơi được đầu tư xây dựng tại trường học, hoặc cụm trường...
 	Tiếp theo đó, các trường cần tăng cường các biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác phòng chống tai nạn thương tích, giảm nhẹ thảm họa thiên tai và biến đổi khí hậu. Chú trọng nâng cao chất lượng công tác bảo hiểm y tế cho học sinh.
Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công tác học sinh, sinh viên, thể dục thể thao và y tế trường học. Đẩy mạnh việc triển khai thành lập bộ máy chuyên trách thực hiện công tác học sinh, sinh viên tại các sở giáo dục và đào tạo.
- Học bơi: sẽ lần lượt được nhận các tài liệu hướng dẫn học bơi, theo 5 mức: 
- Mức 1: Giải thích tại sao bơi lội lại khó với nhiều người, và đề ra cách chữa trị bệnh khó học bơi.
- Mức 2: Tập thở - kỹ năng cơ bản và quan trọng nhất của bơi lội.
- Mức 3: Tập thả nổi.
- Mức 4: Tập bơi chìm đầu (Lặn).
- Mức 5: Tập bơi ếch cơ bản.
Trong quá trình học, nếu có khó khăn, thắc mắc gì, người học sẽ được E-Bơi tư vấn, giải đáp qua mail, di động, web.
Mỗi phần thực hành thường chỉ khoảng 60 đến 90 phút tập cho mỗi kiểu bơi, tùy vào người tập bơi. 
 Chuẩn bị : 
 Nơi tập bơi - Chọn một hồ có nước cạn, tốt nhất là ngang ngực. 
 Dụng cụ : có khá nhiều loại dụng cụ hỗ trợ tập bơi có thể mua để tập càng tốt, không có cũng không sao nhưng tối thiểu cần có một kính bơi để bảo vệ mắt cũng như nhìn ngó khi tập bơi, tránh đụng chạm mọi người. 
Tự học bơi ếch 
 Nói chung bơi ếch là một sự kết hợp 3 động tác tay, chân và thở lặp lại theo chu kỳ đều đặn. Nó gần như một phản xạ tương tự như tập chạy xe đạp, ban đầu chưa quen sẽ vấp váp nhưng khi đã biết thì cả đời cũng không bao giờ quên được. 
 Để tập bơi thì quan trọng nhất là phải chiến thắng được nỗi lo sợ nước. 
Bước 1 : Tập thăng bằng trong nước 
 Hãy đứng dưới hồ cạn nước ngang ngực của mình, nín thở từ từ ngả người tới phía trước, trườn lên nằm sấp lên mặt nước  tay đưa ra phía trước, chân duỗi thẳng giữ nguyên tư thế. 
 Đừng lo lắng vì mình đang ở chỗ rất cạn, cứ để cơ thể thả lỏng nín thở đến khi hết hơi thì đứng lên. Cứ như vậy làm nhiều lần sẽ thấy cơ thể nổi lên trên mặt nước, không ngả nghiêng tròng trành là thành công hãy tiếp tục thực hành trong 15 phút. 
Bước 2: Tập động tác tay 
 Vẫn đứng ở vị trí nước cạn, hơi rùn chân xuống cho nước ngập ngang vai, tay chắp trước ngực đưa tới quạt ngang một góc 45 độ hướng xuống phía dưới chân sau đó tay lại về vị trí chắp trước ngực quạt xuống tiếp chu kỳ tay khoảng 2 giây một lần. 
 Mục đích của tay là để cho thân người nổi lên, đồng thời tiến tới, hãy thực hành trong 15 phút. 
 Lưu ý khi quạt tay hãy khép các ngón tay để tạo lực nước nhiều hơn. 
Bước 3: Tập động tác chân 
 Vẫn chọn vị trí nước cạn ngang ngực, tay vịn thành hồ để tập động tác chân. 
Như sau : Tay đu thành hồ sao cho người sấp nổi , chân rời đáy hồ đạp ra phía sau chữ V một góc rộng gấp đôi vai, khi chân thẳng khép hai bàn chân chạm nhau lại co lên đạp tiếp chu kỳ 2 giây một lần đạp chân hãy tập trong 20 phút và cảm giác nước trong lòng bàn chân của mình. 
 Lưu ý : khi đạp cần khép các ngón chân, lực nước sẽ đẩy mình đi tới chủ yếu nhờ vào động tác chân vì vậy hãy tập nhiều hơn động tác tay. Cơ đùi là một quả tim thứ 2 để vận chuyển lưu thông máu khi thực hiện co duỗi vì vậy trong bài bơi ếch thì động tác chân quan trọng nhất. 
Bước 4: tập thở nước
 Đối với người chưa biết bơi thì thở nước sẽ là bài khó nhất. Hãy nhớ nguyên tắc luôn luôn hít vào bằng miệng và thở ra bằng mũi. 
Vẫn chọn vị trí nước cạn ngang ngực hai tay vịn thành hồ bơi, nín thở từ từ co chân thả người xuống cho đầu ngập trong trước, giữ nguyên khoảng 4 giây thở ra bằng mũi,  đứng lên lấy hơi nhanh bằng miệng lại cúi thả người xuống thở đều đặn. hãy tập nhiều lần cho đến khi không còn nhầm lẫn. 
 Tập trung vào việc lấy hơi càng nhanh càng tốt, canh miệng vừa rời khỏi mặt nước là lấy hơi ngay  xong lại thả đầu ngập trong nước cho đến khi chỉ cần nửa giây có thể lấy hơi được là xem như thành công. 
Bước 5: Kết hợp động tác 
 Tuần tự động tác sẽ như sau, bạn hãy học thuộc để thực hiện : 
 " Chân đạp tay đưa tới, tay quạt nước ngẩng đầu lên... lấy hơi.... chân đạp tay đưa tới, tay quạt nước ngẩng đầu lên...lấy hơi..." 
Chu kỳ cứ để chậm rãi, 3 đến 4 giây một lần thả lỏng cơ thể. 
 Khi kết hợp sẽ dễ bị sặc nếu học chưa thuộc tuần tự động tác, vì vậy khi mới bắt đầu  nên nín hơi luôn, khi ngẩng đầu lên không nên lấy hơi, cứ thế lập lại động tác đến khi hết hơi thì ngừng để làm lại cho đến khi thành thục rồi bắt đầu lấy hơi. 
 Lưu ý : Tập bài kết hợp động tác hãy chọn bơi từ nơi sâu lên chỗ cạn, không nên hướng ra ngoài xa mà hãy đi ra bơi vào bờ.
06 Bước tập bơi cụ thể như sau:
Bước 1 :
Trước tiên bạn phải tạo cho mình cảm giác thoải mái trong nước. Chọn một địa điểm mà không có sóng và có độ sâu kha khá. Đây có thể là nơi an toàn nhất để bắt đầu tập bơi. Nếu như bạn có 1 người hướng dẫn giỏi đi kèm thì còn gì bằng, người này sẽ thông báo cho bạn biết nếu bạn bơi vào nơi không an toàn. Và lời khuyên chân thành là bạn nên nhờ 1 người biết bơi đi theo bạn, đề phòng mọi bất trắc xảy ra.
Bước 2:
Đi sâu hơn vào trong nước cho đến khi mực nước gần như là lên đến đầu của bạn. Điều này cho phép bạn trải nghiệm cách thức cơ thể của bạn làm việc dưới nước như thế nào, và luôn đảm bảo rằng bạn sẽ cảm thấy an toàn khi đặt chân xuống. Thực hành đi bộ và di chuyển cơ thể dưới nước bằng nhiều cách khác nhau. 
Bước 3: 
Đây là bước cần có sự can đảm của bạn. Hãy hít thật sâu trước khi cho đầu của bạn bị ngập nước, bây giờ là lúc bạn phải nín thở và nhắm mắt lại và bắt đầu hụp xuống nước. Đeo kính có thể giúp cho nước không vào mắt khi bạn mở mắt và bạn sẽ cảm thấy thoải mái hơn. Điều quan trọng là bạn không được để nước vào mũi. Khi bạn cảm thấy thoải mái và thuận tiện với thao tác này, hãy uốn cong đầu gối của bạn và nhún đầu vào nước. Bạn có thể thở ra trong khi đang bơi trong nước và hít thở khi nhô lên khỏi mặt nước.
Bước 4: 
Tập nổi trên mặt nước: cơ thể của chúng ta luôn nổi trên nước, vì thế bạn có thể thực hành điều này bằng cách giữ hơi thở của bạn và thư giãn cơ thể. Chân của bạn có thể sẽ nổi lên và đầu của bạn sẽ uốn cong xuống vào trong nước, nhưng cơ thể của bạn sẽ không chìm. Đây là một cách tuyệt vời để thực hành bởi vì bạn có thể nổi trên mặt nước một thời gian khá dài, mà không cần phải bơi. Chỉ cần nghỉ ngơi, và thực hành làm cách nào để di chuyển khuôn mặt của bạn lên khỏi mặt nước bất cứ khi nào bạn cần phải thở (cố gắng làm điều này mà không cần đặt chân xuống, để bạn biết rằng bạn có thể thực hiện điều này ở một nơi khác có mực nước sâu hơn). 
Bước 5: 
Hãy nhận biết rằng phần còn lại của bơi lội là cách sử dụng các phương pháp khác nhau để di chuyển cơ thể của bạn trong nước. Cơ bản nhất là phong cách bơi trực giác (gọi là "doggy paddle"), đây là cách bơi thân thuộc của hầu hết mọi người. Khi bạn cảm thấy mình nổi thoải mái trong nước rồi, hãy thử chuyển động chân và cánh tay của bạn mà không cần chạm vào mặt đất, và xem bạn có thể đẩy mình về phía trước không?
Bước 6: 
Đạp chân của bạn lên và xuống một cách nhanh chóng, và có lẽ bạn sẽ thấy mình di chuyển về phía trước mạnh mẽ hơn nữa. Khi bạn cảm thấy thoải mái với giai đoạn này, bạn đã sẵn sàng để tìm hiểu một số cách bơi khác cụ thể hơn. 
IV. Một số kỹ năng cứu người khi đuối nước:
	Nếu không thể cứu người đuối nước được do không đủ sức, . . . thì cần “kêu cứu thật to” nhờ người hỗ trợ.
Người sắp chết đuối thường rất hoảng loạn nên có một ý chí giành giật mạng sống vô cùng quyết liệt, do đó họ vùng vẫy với một sức mạnh ghê gớm và ôm cứng tất cả những gì có trong tầm tay, nhất là khi thấy có người cứu hộ xuất hiện, họ liền tìm cách ôm chặt lấy. Vì thế, việc cứu hộ sẽ vô cùng khó khăn. Phải xác định là có đủ khả năng khống chế được nạn nhân, lúc ấy mới tiếp cận nạn nhân, nếu không cả hai sẽ bị nguy hiểm tới tính mạng.
	Và thực hiện các việc làm sau:
1. Vớt người
Mặc dù có biết bơi hay không, khi gặp một người bị té xuống nước sâu,ta phải biết kêu gọi những người xung quanh tới trợ giúp. Nhưng luônluôn phải để ý tới nạn nhân và cố gắng với sáng kiến và khả năng củamình tìm tòi mọi cách để vớt họ lên. 
Trong trường hợp nạn nhân Ở GẦN BỞ, không phải lúc nào cũng có sẵn phao cứu hộ bên mình, ta có thể tận dụng một chiếc gậy, một cây sào... hoặc xa hơn một chút thì dùng một cuộn dây buộc một đầu vào một vật gì đó nổi lên được trên mặt nước như can nhựa, thùng nhựa, chai nước suối, thùng dầu ăn... đều có thể dùng cứu họ được. Ta hãy thực hiện bằng cách níu chặt lấy một thân cây, một mô đất hoặc một vật gì chắc chắn rồi némhoặc đưa vật hiện có cho nạn nhân nắm lấy và lôi vào bờ.
- Nếu có nhiều người, ta giăng một hàng người nắm tay để kéo nạn nhân vào bờ.
- Nếu có thuyền, ta chèo thuyền đến chỗ nạn nhân, ghé mạn thuyền chonạn nhân bám vào, cũng có thể đưa tay hoặc mái chèo ra cho nạn nhân nắm lấy, hoặc trong trường hợp khẩn thiết, ta buộc dây bám vào người và nhảy xuống nước cứu họ và dìu lên thuyền.
- Khi không có vật gì nơi tay mà một đứa bé đang bị ngộp ở chỗ không sâu lắm, tốt hơn hết là dùng áo của mình, quăng cho nó bám lấy và kéo vào bờ.
- Trường hợp nếu BẠN BƠI GIỎI, nạn nhân ở XA BỜ không thể dùng gậy hoặcsào, phải cởi quần áo thật nhanh, dùng miệng cắn cái áo (để hai tay không vướng víu) bơi nhanh về phía nạn nhân, đến gần cầm chạt tay áo,tung thân áo cho nạn nhân nắm lấy, rồi vừa bơi vừa kéo họ vào bờ. Nếuđược nên tự trang bị cho mình một phao cứu hộ, hoặc bất kỳ một vật gìcó thể nổi được như một trái banh da chẳng hạn.
- Nếu có dây dài, ta nên cột một đầu vào một điểm nào đó thật chắc chắntrên bờ, đầu kia buộc thật nhanh vào người bằng gút GHẾ ĐƠN (nhớ chừa một đoạn khoảng 2m để cột ngang người nạn nhân), bơi tới chỗ nạn nhân,đưa họ nắm và kéo vào bờ.
- Trong khi đó, tìm cách trấn an cho họ vững tâm tin tưởng là sẽ được cứu thoát. Theo kinh nghiệm cho thấy, lời nói trấn ancủa người cứu hộ rất quan trọng. Lời nói kịp thời của chúng ta đã cứuđược nạn nhân 50% rồi, vì họ ổn định được tâm lý và bớt uống nước.
LƯU Ý: nên nhớ rằng, giải pháp nhảy xuống nước cứu nạn nhân là giải pháp cuối cùng.Bởi vì thực tế đã có nhiều trường hợp người cứu nạn do chưa hiểu biếtvề các phương pháp cấp cứu thủy nạn, nên bị nạn nhân ôm cứng và cả haicùng chết chìm.
Một số phương pháp cấp cứu nạn nhân đuối nước:
* Phương pháp một:
Nạn nhân nằm ngửa, người cứu hộ bơi ở phía sau nạn nhân, một tay dùng để bơi, một tay vắt lên ngang ngực xốc chéo qua nách bên kia. Bơi kiểu nhái đưa họ vào bờ.
Kiểu này khiến người cứu hộ khá mệt, nhưng làm cho nạn nhân được an toàn tuyệt đối.
Điều kiện: người được cứu phải khá tỉnh táo và có biết bơi đôi chút.
Lưu ý quan trọng: không được ăn nó khi xuống bới. Bởi vì lúc nobụng mà xuống nước, máu sẽ dồn về khoang bụng để chống lại với cái lạnhcách biệt bên ngoài (chênh lệch khoảng trên dưới 10*C). Điều đó làm chonão bị thiếu máu, gây ra buồn ngủ, thậm chí bị choáng váng. Hãy cố gắngnghỉ ngơi ít nhất là 2 giờ sau khi ăn rồi mới được xuống nước bơi.
* Phương pháp hai:
Nâng cằm nạn nhân cho nằm ngửa hẳn mặt lên, như thế mũi (cơ quan hôhấp) của nạn nhân sẽ được thoát ra khỏi mặt nước. Phương pháp này dùng cho những nạn nhân có cơ thể hơi mập. Người cứu hộ có thể dùng tay còn lại để bơi vào bờ cho nhanh.
* Phương pháp ba:
Từ phía sau, người cứu hộ dùng tay nắm ngay chùm tóc phía trên trán, giựt ngửa đầu nạn nhân ra đằng sau. Phương pháp này dùng để cứu các bạn nữ rất có lợi.
* Phương pháp bốn:
Nắm cổ áo, nếu nạn nhân còn mặc đầy đủ quần áo mà ta lại không có thời gian cởi ra kịp dưới nước.
* Phương pháp năm:
Nếu nạn nhân đã bất tỉnh thật sự, ta có thể dùng hai tay ta nâng đầu nạn nhân nổi lên mặt nước, bơi ngửa bằng 2 chân và kéo vào bờ.
* Phương pháp sáu:
Nếu nạn nhân có trọng lượng nhẹ hơn ta và đã bất tỉnh. Ta có thể bơi ngửa, dùng ngực để đỡ đầu nạn nhân, hai tay xốc dưới nách cho nạn nhânnằm sải với tư thế thoải mái. Hai chân đạp kiểu nhái đưa nạn nhân vào bờ.
2. Xóc nước - Hô hấp nhân tạo :
Khi chúng ta đưa được nạn nhân vào bờ mà nạn nhân đã bị bất tỉnh, thì hãy xem thử họ có còn thở hay không. Nếu như họ còn thở thì chỉ cần xóc nước. Nếu hết thở thì làm hô hấp nhân tạo ngay. Muốn xóc nước thì ta làm như sau : Đưa nạn nhân lên cao rồi xóc vài cái cho nước trào ra, dùng tay móc những vật lạ mà họ đã nuốt phải ra khỏi miệng để tránh bị nghẽn đường hô hấp.
Hô hấp nhân tạo :
Phương pháp thổi ngạt miệng qua miệng :
- Cách xử trí: Đặt nạn nhân ở nơi thoáng mát, nới lỏng quần áo, dây nịt, cà vạt . . . Nếu có thể thì đặt nạn nhân nằm ngửa trên một mô đất cao, hay bàn ghế, giường . . . , để chúng ta đỡ cúi gập người khi thao tác. Nếu trong miệng và cổ họng nạn nhân có vướng vật gì, hãy vấn vải vào đầu ngón tay và móc sạch ra, sau đó lau miệng nạn nhân cho sạch. Phương pháp thao tác : Kéo đầu nạn nhân ngửa về phía sau, kéo hoặc đẩy hàm dưới để cho miệng nạn nhân mở ra. Sau đó dùng bản tay vừa đẩy trán nạn nhân vừa bịt mũi họ lại bằng ngón trỏ và ngón giữa. Bàn tay kia dùng banh hàm nạn nhân và kéo miệng cho mở ra. Sau đó cần hít vào đầy lồng ngực, đoạn há miệng rộng rồi áp sát vào miệng nạn nhân. Thổi hơi thật mạnh cho đến khi thấy lồng ngực của nạn nhân phồng lên, mấy hơi đầu cần thổi thật mạnh. Sau đó nghiêng đầu lắng tai nghe hơi thở trở ra. Lặp lại động tác trên với nhịp độ 12 lần trong một phút đối với người lớn và 20 lần một phút đối với trẻ em.
Phương pháp thổi ngạt và xoa bóp tim:
Ta quỳ cạnh nạn nhân, hai tay thẳng, hai bàn tay chồng lên nhau đặt lên lồng ngực nơi xương ức nạn nhân. Đè tay ép lồng ngực nạn nhân xuống rồi từ từ buông ra, làm theo chu ky : khoảng thời gian từ 14 - 15 giây, chúng ta ép ngực nạn nhân khoảng 15 lần và thổi ngạt 2 lần. Sau mỗi 4 chu kỳ chúng ta kiểm tra mạch và hơi thở của nạn nhân một lần.
3. Ủ ấm - Chống choáng :
Khi nạn nhân vào bờ mà còn tỉnh táo, hoặc sau khi xóc nước và làm hô hấp nhân tạo, nạn nhân đã tỉnh lại, hãy thay quần áo khô cho họ, dùng chăn để ủ ấm và cho họ uống trà nóng hay cà phê nóng.
4. Biện pháp hữu hiệu khi không biết bơi có thể sống sót:
 Với phương pháp này, người không biết bơi, khi rơi xuống nước vẫn có thể sống sót nhờ thực hiện 4 bước sau đây:
- Bình tĩnh và nhắm mắt, ngậm miệng, nín thở (có thể lấy tay bịt mũi) để phổi không bị sặc nước, trở thành cái phao cứu sinh đẩy người nổi dần lên. 
- Tiếp tục thả lỏng người để nước đẩy lên sát mặt nước trở về tư thế bập bênh bán an toàn, đầu nổi sát mặt nước, chân ở phía nước sâu.
- Dùng tay hoặc chân làm mái chèo, quạt nước đẩy đầu nhô khỏi mặt nước hoặc cũng có thể quạt nước xiên, đẩy người bơi đi dễ dàng bởi trong nước người trở nên nhẹ hơn so với trên cạn.
- Khi chuyển động lên xuống, tới trước hãy nhớ trên mặt nước, há miệng to thở vào nhanh và sâu, dưới mặt nước ngậm miệng, thở ra từ từ bằng mũi, hoặc bằng mồm. 
V. Những khó khăn: 
 	Việc thí điểm dạy bơi trong các trường tiểu học kể cả các trường trung học đã được thực hiện và cho thấy những hiệu quả tích cực. Nhưng hiện nay, việc đưa bơi lội vào dạy thí điểm trong trường tiểu học và các trường trung học là một việc làm hết sức khó khăn: Hệ thống cơ sở vật chất cho dạy bơi trong các trường tiểu học không có; đội ngũ giáo viên thể dục chuyên trách còn thiếu và yếu về chuyên môn thể dục thể thao, đặc biệt là phương pháp dạy bơi cho học sinh...
 	Những năm gần đây, tại các bể bơi ở các nhà văn hóa huyện, thị xã, thành phố ngành thể thao và Nhà Văn hóa thiếu nhi cũng đã quan tâm tổ chức được một số lớp dạy bơi cho các em nhỏ, một số gia đình cũng đã quan tâm dạy bơi cho con em, nhưng số lượng trẻ em biết bơi hàng năm còn rất ít. Số còn lại các em nhỏ tự tập bơi ở các ao, hồ, sông suối gần nhà, điều này luôn tiềm ẩn nhiều hiểm nguy
 	Một khó khăn phổ biến hiện nay được nhiều trường thừa nhận là thiếu người để dạy bơi. Mặc dù, trường nào cũng có ít nhất một giáo viên thể dục, nhưng không phải ai cũng được đào tạo để có thể dạy học sinh bơi.
C. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:
	- Phối hợp các Ngành Thể dục thể thao và Du lịch tạo điều kiệt tốt nhất việc đào tạo cấp tốc các huấn luyện viên bơi lội phục vụ cho ngành Giáo dục trong công tác phổ cập bơi lội cho các trường.
	- Phối hợp các Ngành Lao động thương binh xã hội tuyên truyền sâu rộng trong nhận dân việc phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em.
	- Ngành giáo dục phát động các trường phổ biến rộng rãi về việc phòng chống tai nạn thương tích, có từng chuyên đề cụ thể trong nhà trường.
	- Các trường học phối hợp các mạnh thường quân, nhà tài trợ và Hội cha mẹ học sinh hỗ trợ và tạo điều kiện cho học sinh học bơi trong chương trình ngoại khoá của nhà trường
D. THAM KHẢO:
	- Cập nhật thông tin:	+ www.lamchame.com/
	+ www.baomoi.com
	+ hdnd.dongnai.gov.vn/
	+ vietbao.vn
	+ dantri.com.vn/	
	NGƯỜI THỰC HIỆN 
 	Lê Minh Thông

File đính kèm:

  • docmot_so_bien_phap_phong_chong_duoi_nuoc_trong_hoc_sinh_6955.doc
Sáng Kiến Liên Quan