SKKN Xây dựng hiệu quả kế hoạch phong trào nghiên cứu khoa học kỹ thuật trong học sinh tại trường Trung học Phổ thông Chuyên Thoại Ngọc Hầu

Nội dung sáng kiến (Tiến trình thực hiện, thời gian thực hiện, biện pháp tổ chức )

- Tiến trính thực hiện:

Nghiên cứu khoa học là một công việc không dễ dàng. Nhưng với kiến thức sâu sắc

và niềm đam mê cộng với môi trường học tập và nghiên cứu thuận lợi, chúng ta hoàn toàn

tin tưởng rằng hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường phổ thông nói chung và

trường chuyên nói riêng sẽ mang lại thành quả tốt đẹp; và cũng là cách đổi mới phương

pháp dạy tốt nhất như mong muốn của ngành giáo dục và toàn xã hội.

Để xây dựng kế hoạch cho phong trào Nghiên cứu khoa học trong học sinh thành

công, bản thân đã chắt lọc những thuận lợi và khó khăn trong những năm xây dựng phong

trào Nghiên cứu khoa học trong học sinh từ năm 2015 đến nay, từ đó lựa chọn những giải

pháp khả thi và hiệu quả nhất và kết quả đã mang lại những thành tựu cho phong trào

Nghiên cứu khoa học trong học sinh tại trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu như ngày

hôm nay.

- Thời gian thực hiện:

Từ tháng 03/2018 đến nay.

- Biện pháp tổ chức:

Trãi qua những công đoạn như sau:

+ Xây dựng Kế hoạch (đính kèm một kế hoạch cụ thể cho năm học 2018 – 2019)

pdf10 trang | Chia sẻ: thuydung3ka2 | Ngày: 04/03/2022 | Lượt xem: 193 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Xây dựng hiệu quả kế hoạch phong trào nghiên cứu khoa học kỹ thuật trong học sinh tại trường Trung học Phổ thông Chuyên Thoại Ngọc Hầu", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 
PHỤ LỤC II: MẪU BÁO CÁO KẾT QUẢ SÁNG KIẾN 
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO AG 
TRƯỜNG THPT CHUYÊN 
THOẠI NGỌC HẦU 
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
 An Giang, ngày 25 tháng 01 năm 2019 
BÁO CÁO 
Kết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kỹ thuật, quản lý, tác nghiệp, 
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng 
I- Sơ lược lý lịch tác giả: 
- Họ và tên: Phạm Hữu Tâm Nam, nữ: Nam 
- Ngày tháng năm sinh: 21/09/1961 
- Nơi thường trú: 10/5 Phan Liêm – Phường Mỹ Xuyên – Tp.Long Xuyên – An Giang 
- Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu 
- Chức vụ hiện nay: Phó Hiệu trưởng 
- Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ 
- Lĩnh vực công tác: Xây dựng hiệu quả kế hoạch một phong trào trong nhà trường phổ 
thông. 
II- Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị: Nêu tóm tắt tình hình đơn vị, những thuận lợi, 
khó khăn của đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ 
- Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị: 
Trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu là một trường trọng điểm của tỉnh với nhiệm 
vụ đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự phát triển của tỉnh An Giang và cả nước. 
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang, Sở Giáo 
dục và Đào tạo, cấp ủy, Hội Cha Mẹ học sinh, cũng như ban ngành tỉnh đã đầu tư về cơ sở 
vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học 
và ứng dụng Công nghệ thông tin trong xã hội ngày càng phát triển. Đồng thời với sự quan 
tâm của Ban giám hiệu, trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu đã có những chuyển biến 
tích cực: trường lớp khang trang, cảnh quan nhà trường xanh sạch đẹp hơn. Nhà trường 
tích cực đổi mới phương pháp dạy học thông qua phong trào áp dụng các sáng kiến kinh 
nghiệm, giải pháp công nghệ của giáo viên được chú trọng và có tác dụng thúc đẩy chất 
lượng giáo dục của nhà trường. 
2 
- Tên sáng kiến/đề tài giải pháp: 
Xây dựng hiệu quả kế hoạch phong trào Nghiên cứu khoa học kỹ thuật trong học 
sinh tại Trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu. 
- Lĩnh vực: Xây dựng hiệu quả kế hoạch một phong trào trong nhà trường phổ thông 
III- Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến: 
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến: 
Nghiên cứu khoa học trong học sinh cấp Trung học nhằm tạo sân chơi bổ ích cho 
học sinh, khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn 
cuộc sống; tạo cơ hội cho học sinh được chia sẻ các ý tưởng khoa học với bạn bè trong và 
ngoài nước, góp phần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học cho học sinh trong các 
trường phổ thông nói chung và trường chuyên nói riêng. 
Mặt khác, nghiên cứu khoa học góp phần đổi mới phương pháp dạy học trong các 
trường phổ thông, nâng cao chất lượng giáo dục. 
Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta hiện nay, để khoa học, công nghệ 
đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, các nhà nghiên cứu, những người làm công 
tác khoa học, nhất là giáo viên tại các trường THPT chuyên phải là lực lượng nòng cốt 
trong việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó vào mọi lĩnh vực của đời 
sống xã hội. 
 Tuy nhiên trên thực tế, nền giáo dục nước ta trong những năm qua đã thể hiện sự 
bất cập: nặng về truyền đạt tri thức và xem nhẹ giáo dục tự học, tự nghiên cứu của học 
sinh, đặc biệt trong nghiên cứu khoa học. Trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu cũng 
không phải là một ngoại lệ. Đây chính là điểm hạn chế của chúng ta và nếu không có giải 
pháp đúng đắn thì những mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đều khó có thể trở thành 
hiện thực. 
Nghiên cứu khoa học từ học sinh trong các trường THPT chuyên hiện nay có thể 
nói là một chủ đề mang tính tiềm năng nhưng còn nhiều điều hạn chế. Tính tiềm năng ở 
chỗ học sinh THPT chuyên là một lực lượng trẻ, đầy nhiệt huyết, dám nghĩ dám làm, có 
thời gian và một sự sáng tạo không ngừng được phát triển dưới mái trường phổ thông. Vấn 
đề còn hạn chế ở đây là do học sinh chưa nhận thức được những lợi ích từ nghiên cứu khoa 
học; chúng ta chưa tạo điều kiện về thời gian, điều kiện về cơ sở vật chất để các em thực 
hiện những ý tưởng đã học được từ sách vở vào thực tiễn cuộc sống. Đặc biệt, thiếu sự 
3 
hướng dẫn, gợi mở của thầy cô để các em mạnh dạn phát huy sáng tạo, nhất là trong nghiên 
cứu khoa học. 
Nhận ra những vấn đề còn thiếu trong giáo dục toàn diện cho học sinh, Ban giám 
trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu từ hai năm qua đã chú trọng hơn đến công tác nghiên 
cứu khoa học cho học sinh. Nhà trường đã xác lập định hướng, kế hoạch cụ thể cho công 
tác nghiên cứu khoa học đối với học sinh; như xin Sở GDĐT, vận động Sở nội vụ và hội 
cha me học sinh học tập và tham quan nghiên cứu khoa học tại Đại học Khoa học tự nhiên 
Thành phố Hồ Chí Minh và các trường có thế mạnh về NCKH trong cả nước, nhằm tạo 
hứng thú và trãi nghiệm thực tế cho học sinh trong vấn đề NCKH. 
Cùng với Hướng dẫn số 6348/BGDĐT-GDTrH ngày 25 tháng 9 năm 2012 của Bộ 
Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn tổ chức cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học 
sinh trung học; Căn cứ Hướng dẫn số 34/HD-SGDĐT của Sở GDĐT An Giang ngày 27 tháng 
8 năm 2013 về việc tổ chức cuộc thi nghiên cứu khoa học (NCKH) cho học sinh trung học năm 
học 2013-2014 và những năm sau này, Ban giám hiệu đẩy mạnh hơn công tác hướng dẫn 
học sinh làm đề tài NCKH. 
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến: 
Thực tiễn cho thấy, hoạt động Nghiên cứu khoa học cùng với chất lượng đào tạo là 
một trong hai nhiệm vụ quan trọng đối với bất cứ một trường học. Phải khẳng định rằng, 
hoạt động nghiên cứu khoa học luôn đi đôi và gắn liền với chất lượng đào tạo. Việc nhận 
thức đúng và tham gia có hiệu quả vào hoạt động nghiên cứu khoa học là con đường ngắn 
và hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo tại trường học. 
Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta như hiện nay, để khoa học công 
nghệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, các nhà nghiên cứu, những người làm 
công tác khoa học, nhất là giáo viên tại các trường chuyên phải là lực lượng nòng cốt trong 
việc hướng dẫn nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó vào hoạt động giảng 
dạy và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, 
mỗi trường luôn muốn tự làm mới mình, muốn không bị lạc hậu trước xu thế phát triển 
ngày càng sâu và rộng của quá trình hội nhập, muốn luôn đổi mới, sáng tạo và đảm bảo 
chất lượng đào tạo cần phải coi trọng hoạt động nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình 
đào tạo của mình.... Để làm được điều đó thì mỗi nhà giáo phải thực hiện cùng lúc hai 
nhiệm vụ song hành là giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Nhà trường phải là nơi để các 
em học sinh biến những ý tưởng, niềm đam mê khoa học thành những sản phẩm thực tế 
cuộc sống. 
Để làm được điều đó thiết nghĩ cần những giải pháp đồng bộ như sau: 
4 
- Về phía nhà trường: 
Nâng cao nhận thức cho CBGV về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động NCKH và 
là một sứ mệnh của trường chuyên. 
Ban Giám hiệu trường tạo điều kiện tốt nhất cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh 
thường xuyên đi nghiên cứu thực tế cả trong và ngoài tỉnh, tiếp cận thực tế sưu tầm tư liệu, 
số liệu góp phần làm rõ những vấn đề thực tiễn đặt ra. Ban Giám hiệu quan tâm chỉ đạo và 
thể hiện vai trò tiên phong gương mẫu trong hoạt động nghiên cứu khoa học, vừa định 
hướng dẫn dắt vừa khích lệ, động viên cán bộ, giáo viên, học sinh tích cực chủ động tham 
gia các đề tài khoa học. 
Tăng cường tổ chức các hình thức sinh hoạt khoa học phong phú trong học sinh 
như: câu lạc khoa học vật lý, câu lạc bộ Robot, v.v. Đây là hình thức hóa sinh hoạt khoa 
học, tạo môi trường khoa học sinh động, mở ra nhiều kênh trao đổi thông tin, tạo điều kiện 
cho học sinh học tập, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động khoa học. 
Nhà trường cần vận động các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất nhằm hỗ trợ cho 
giáo viên và học sinh nghiên cứu khoa học. Khen thưởng xứng đáng và khích lệ những 
nghiên cứu khoa học đạt giải cấp tỉnh và toàn quốc gia hoặc những giải pháp khoa học giải 
quyết thực tiễn cuộc sống và học tập. 
Nhà trường cần tạo nhiều thời gian và môi trường thuận tiện cho cho giáo viên và 
học sinh nghiên cứu khoa học. Nghĩa là thời gian học tập của các em không chỉ là những 
1. Tăng 
cường 
tuyên 
truyền
2. Có kế 
hoạch tổ 
chức NCKH
3. Thường 
xuyên tổ 
hội thảo 
NCKH
4. Động 
viên, khích 
lệ NCKH 
trong GV, 
HS
5. Vận 
động 
nguồn lực 
và khen 
thưởng cho 
NCKH
5 
giờ lý thuyết suôn mà cần nhiều thời gian hơn nữa trong thí nghiệm thực hành. Bên cạnh 
đó, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh thí nghiệm chứng minh, thu thập số liệu nếu có 
yêu cầu và khả năng cho phép của nhà trường. 
- Về phía giáo viên: 
Mỗi giáo viên tự rèn luyện tư duy nghiên cứu khoa học, tự tìm tòi để nâng cao trình 
độ chuyên môn nghiệp vụ từ chính môn mình đang giảng dạy. Biết ứng dụng công nghệ 
thông tin làm phương tiện dạy và học; không ngừng cập nhật thông tin để cải tiến phương 
pháp giảng dạy phù hợp và hiệu quả. 
Khi hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, giáo viên chú ý lựa chọn hình thức, 
nội dung sao cho phù hợp với khả năng chuyên môn, với điều kiện thời gian và kinh phí 
hiện có. 
Từ những vấn đề cụ thể đặt ra cần giải quyết trong giảng dạy, trong quá trình tiếp 
thu kiến thức của học sinh, giáo viên hình thành dần khái niệm và quy trình nghiên cứu 
khoa học nhằm tạo nền tảng vững chắc về sau cho các em học sinh. Giáo viên luôn đặt vấn 
đề và gợi ý cho học sinh giải quyết vấn đề đặt ra trên nền tảng kiến thức sẵn có của các em. 
Cần luôn động viên và khích lệ các em tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo giải quyết những 
vấn đề đặt ra cho dù đó là những giải pháp ngây ngô, chưa hoàn thiện, nhưng từ đó sẽ ấp ủ 
niềm say mê khoa học của các em. 
- Về học sinh: 
Học sinh phải cố gắng học hỏi, tìm tòi, chủ động và phát huy tính sáng tạo trong 
học tập và trong nghiên cứu. 
Các em cần tham gia các câu lạc bộ khoa học do nhà trường tổ chức. Xem hoạt động 
NCKH là một động lực nhằm hoàn thiện tri thức mà các em đã được tiếp thu từ thầy cô, từ 
sách vở. Xem việc NCKH là một trãi nghiệm thật sự cho bước đường học tập và nghiên 
cứu sau này của chính các em. 
Các em có thể ghi nhớ câu danh ngôn: “Nghịch cảnh và khó khăn có thể khiến cho 
con người trở nên thông minh, dù không thể làm cho con người trở nên giàu có”. Và con 
đường NCKH luôn ghồ ghề không bằng phẳng, nhưng nó đem lại cho các em niềm hân 
hoan và hạnh phúc mỗi khi đạt được thành công. 
6 
3. Nội dung sáng kiến (Tiến trình thực hiện, thời gian thực hiện, biện pháp tổ chức) 
- Tiến trính thực hiện: 
Nghiên cứu khoa học là một công việc không dễ dàng. Nhưng với kiến thức sâu sắc 
và niềm đam mê cộng với môi trường học tập và nghiên cứu thuận lợi, chúng ta hoàn toàn 
tin tưởng rằng hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường phổ thông nói chung và 
trường chuyên nói riêng sẽ mang lại thành quả tốt đẹp; và cũng là cách đổi mới phương 
pháp dạy tốt nhất như mong muốn của ngành giáo dục và toàn xã hội. 
Để xây dựng kế hoạch cho phong trào Nghiên cứu khoa học trong học sinh thành 
công, bản thân đã chắt lọc những thuận lợi và khó khăn trong những năm xây dựng phong 
trào Nghiên cứu khoa học trong học sinh từ năm 2015 đến nay, từ đó lựa chọn những giải 
pháp khả thi và hiệu quả nhất và kết quả đã mang lại những thành tựu cho phong trào 
Nghiên cứu khoa học trong học sinh tại trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu như ngày 
hôm nay. 
- Thời gian thực hiện: 
Từ tháng 03/2018 đến nay. 
- Biện pháp tổ chức: 
Trãi qua những công đoạn như sau: 
+ Xây dựng Kế hoạch (đính kèm một kế hoạch cụ thể cho năm học 2018 – 2019) 
Giai đoạn 
thực hiện 
Nội dung 
Thực hiện 
Tổ chức 
Thực hiện 
Tuyển chọn 
Đề tài 
Giai đoạn 1 
Tháng 3/2018 
Lên kế hoạch và phát 
động thi “Ý tưởng khoa 
học kỹ thuật trong học 
sinh”. 
Đây là giai đoạn khởi 
đầu tìm ý tưởng thực 
hiện NCKHKT trong 
học sinh với số lượng 
học sinh đăng ký không 
hạn chế. 
- BGH phát động 
phong trào đến toàn thể 
học sinh về việc tìm ý 
tưởng NCKHKT. 
- ĐTN, GVBM, GVCN 
tuyên truyền, vận động 
và khuyến khích học 
sinh tham gia. 
- BGH thành lập Hội 
đồng chấm chọn ý 
tưởng KHKT (bao 
gồm: BGH, TTCM, 
GV có hướng dẫn HS 
- BGH tổ 
chức chấm 
chọn những ý 
tưởng hay, 
thiết thực và 
khả thi nhằm 
dự thi cấp 
Trường và 
cấp Tỉnh 
(có thể lựa 
chọn từ 15 
đến 20 đề tài). 
7 
thực hiện đề tài KHKT 
từng đoạt giải). 
Giai đoạn 2 
Từ tháng 
4/2018 đến 
5/2018 
Tổ chức thi “Ý tưởng 
KHKT trong học sinh” 
Lựa chọn giáo viên 
hướng dẫn học sinh thực 
hiện đề tài NCKHKT. 
Gồm 3 biện pháp: 
- Học sinh có thể tự 
chọn giáo viên hướng 
dẫn đề tài NCKHKT. 
- BGH có thể chọn giáo 
viên phù hợp hướng 
dẫn học sinh thực hiện 
đề tài NCKHKT. 
- Có thể lựa chọn giáo 
viên bên ngoài (tại các 
trường Đại học, Sở 
ngành, ,,,) 
Lựa chọn 
giáo viên 
hướng dẫn 
(GVHD) từ 
15 đến 20 đề 
tài trong giai 
đoạn 1. 
Giai đoạn 3 
Từ tháng 
5/2018 đến 
9/2018 
Lựa chọn đề tài 
NCKHKT dự thi cấp 
Tỉnh năm học 2018 - 
2019 
BGH thành lập Hội 
đồng chấm chọn đề tài 
KHKT cấp trường để 
dự thi cấp tỉnh (từ 
những đề tài đã lựa 
chọn trong giai đoạn 
2). 
Hội đồng 
chấm chọn sẽ 
chọn ra đủ số 
lượng đề tài 
theo qui định 
của Sở. 
Giai đoạn 4 
Từ tháng 
9/2018 đến 
11/2018 
GVHD và học sinh tiếp 
tục hoàn chỉnh đề tài 
KHKT đã được lựa 
chọn trong giai đoạn 3 
chuẩn bị dự thi cấp tỉnh. 
- BGH tạo điều kiện 
cho GVHD và học sinh 
hoàn chỉnh đề tài 
NCKHKT (như hỗ trợ 
tiết dạy theo qui định, 
cung cấp điều kiện và 
kinh phí trong khả 
năng của trường). 
- Tạo điều kiện cho 
GVHD và HS tham 
quan học tập NCKHKT 
tại một số trường trọng 
điểm. 
Giai đoạn 5 
Từ tháng 
10/2018 
BGH, GVHD, HS thực 
hiện đề tài tham quan 
học tập NCKHKT tại 
- BGH vận động xã hội 
hóa hoặc từ mạnh 
thường quân. 
8 
một số trường trọng 
điểm (nếu có điều kiện) 
- Kinh phí hoạt động 
khoa học của trường 
(nếu có thể). 
Giai đoạn 6 
Từ tháng 
11/2018 đến 
tháng 3/2019 
GVHD và học sinh tiếp 
tục hoàn thiện đề tài 
KHKT đã được lựa 
chọn dự thi cấp Toàn 
quốc (nếu có). 
- Sở GDĐT, BGH tạo 
điều kiện cho GVHD 
và học sinh hoàn chỉnh 
đề tài NCKHKT (như 
hỗ trợ tiết dạy theo qui 
định, cung cấp điều 
kiện và kinh phí trong 
khả năng của Sở và 
trường). 
Giai đoạn 7 
tháng 03/2019 
GVHG và học sinh dự 
thi cấp Toàn quốc tại 
địa điểm do Bộ GDĐT 
qui định. 
Có quyết định từ Sở 
GDĐT để thực hiện. 
Có quyết định 
từ Sở GDĐT 
để thực hiện. 
+ Triển khai thực hiện: 
Bản thân trực tiếp triển khai Kế hoạch cho phong trào Nghiên cứu khoa học trong 
học sinh nhằm thu hút sự quan tâm của học sinh và cả những đam mê của giáo viên trong 
việc hướng dẫn các em thực hiện đề tài đã đăng ký. 
Thường xuyên theo dõi tiến độ thực hiện của các dự án (đề tài) nhằm giải quyết 
những khó khăn phát sinh của chính học sinh và cả giáo viên hướng dẫn thực hiện đề tài 
như: kinh phí, tài liệu, cần thu thập số liệu và những minh chứng cho đề tài và cả những 
lời khuyên của các chuyên gia (tại các trường Đại học) nhằm tư vấn thêm ý tưởng cho các 
đề tài. 
Vận động các nguồn lực từ xã hội hóa để cho học sinh và giáo viên hướng dẫn vào 
vòng dự thi cấp tỉnh giao lưu học tập tại các trường có nhiều thành tích trong Nghiên cứu 
khoa học trong học sinh để học sinh và giáo viên hướng dẫn có thể học thêm nhiều kinh 
nghiệm trong việc xây dựng các dự án có chất lượng. Và từ năm 2015 đến nay, trường đã 
tổ chức đước 03 chuyến đi giao lưu học tập tại các trường như: Trường Chuyên Thăng 
Long – Đà Lạt, Trường Chuyên Lê Quí Đôn – Nha Trang, Trường Chuyên Lê Quí Đôn – 
Vũng Tàu từ nguồn hoạt động và xã hội hóa. 
9 
Tổ chức Hội đồng khoa học của nhà trường để chấm chọn những đề tài có chất 
lượng, ý tưởng hay dự thi cấp tỉnh vào thàng 12/2018 do Sở GDĐT tổ chức. 
IV- Hiệu quả đạt được: Những điểm khác biệt trước và sau khi áp dụng sáng kiến; Lợi 
ích thu được khi sáng kiến áp dụng:.......(số liệu cụ thể kèm theo căn cứ, cơ sở để xác định, 
đánh giá). 
- Kế hoạch đã xây dựng và thực nghiệm tại trường THPT Chuyên Thoại Ngọc hầu 
từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2018 – 2019. 
- Kết quả cho kế hoạch này, trường đạt được những thành tích cụ thể như sau: 
 + Năm học 2015 – 2016 có 16 đề tài dự thi cấp trường, 08 đề tài dự thi cấp 
tỉnh, 02 đề tài đạt giải Nhất cấp tỉnh – 01 đề tài đạt giải Nhì cấp tỉnh – 03 đề tài đạt giải 
Ba cấp tỉnh. 
 + Năm học 2016 – 2017 có 24 đề tài dự thi cấp trường, 08 đề tài dự thi cấp 
tỉnh, 01 đề tài đạt giải Nhất cấp tỉnh – 01 đề tài đạt giải Nhì cấp tỉnh – 03 đề tài đạt giải 
Ba cấp tỉnh. 
 + Năm học 2017 – 2018 có 56 đề tài dự thi cấp trường, 08 đề tài dự thi cấp 
tỉnh, 03 đề tài đạt giải Nhất cấp tỉnh – 02 đề tài đạt giải Nhì cấp tỉnh – 01 đề tài đạt giải 
Ba cấp tỉnh. Đặc biệt có 01 giải dự thi cấp Quốc gia năm 2018. 
 + Năm học 2018 – 2019 có 52 đề tài dự thi cấp trường, 08 đề tài dự thi cấp 
tỉnh, 02 đề tài đạt giải Nhất cấp tỉnh – 01 đề tài đạt giải Nhì cấp tỉnh – 04 đề tài đạt giải 
Ba cấp tỉnh. Đặc biệt có 01 giải dự thi cấp Quốc gian năm 2019. 
V. Mức độ ảnh hưởng: Khả năng áp dụng giải pháp: trong phạm vi toàn quốc, tỉnh, 
huyện,... (nêu lĩnh vực, địa chỉ mà giải pháp có thể áp dụng, những điều kiện cần thiết để 
áp dụng giải pháp đó). 
Nêu rõ về việc giải pháp đã được áp dụng, kể cả áp dụng thử trong điều kiện kinh tế - kỹ 
thuật tại cơ sở và mang lại lợi ích thiết thực; ngoài ra có thể nêu rõ giải pháp còn có khả 
năng áp dụng cho những đối tượng, cơ quan, tổ chức nào: 
Khả kế hoạch này có thể áp dụng cho tất cả các trường THPT. 
10 
VI- Kết luận: Khẳng định lại tính sáng tạo, tính mới, khả thi, hiệu quả và phạm vi ảnh 
hưởng của sáng kiến. 
Kết luận: Nghiên cứu khoa học là một công việc không dễ dàng. Nhưng với kiến 
thức sâu sắc và niềm đam mê cộng với môi trường học tập và nghiên cứu thuận lợi, chúng 
ta hoàn toàn tin tưởng rằng hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường phổ thông nói 
chung và trường chuyên nói riêng sẽ mang lại thành quả tốt đẹp; và cũng là cách đổi mới 
phương pháp dạy tốt nhất như mong muốn của ngành giáo dục và toàn xã hội. 
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật. 
Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến Người viết sáng kiến 
 HIỆU TRƯỞNG 
 Đặng Thị Kim Phượng Phạm Hữu Tâm 

File đính kèm:

  • pdfskkn_xay_dung_hieu_qua_ke_hoach_phong_trao_nghien_cuu_khoa_h.pdf
Sáng Kiến Liên Quan