Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học bằng vật thật trong tiết làm quen với môi trường xung quanh cho trẻ 3 – 4 tuổi

1. Cơ sở lí luận

Đất nước ta đang trên đường đồi mới và phát triển. Đảng và Nhà nước luôn đề cao sự nghiệp giáo dục nước nhà, vì vậy nhiệm vụ quan trọng mà Đảng đã nêu. “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, chúng ta cần chăm sóc giáo dục ngay từ thủa ấu thơ. Với nhiệm vụ này người giáo viên cần nâng cao vai trò trách nhiệm của mình, nhất là giáo viên mầm non.

Như chúng ta đã biết thông thường trong các tiết dạy cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh thì giáo viên sử dụng tranh ảnh, mô hình để minh hoạ và trẻ khám phá qua đó.

Ví dụ: Khi cho trẻ tìm hiểu 1 số loại quả trẻ được biết mùi vị, hình dáng.qua tranh minh hoạ, có loại quả trẻ được biết vì ở nhà được ăn, nhưng có những loại quả xa lạ với trẻ mà trẻ chỉ được biết qua tranh ảnh, sách báo.Do vậy giáo viên cần tạo điều kiện cho trẻ được tiếp cận với cách giảng dạy theo hình thức đổi mới như: CNTT, đặc biệt là sử dụng những đồ dùng là vật thật có sẵn ở địa phương.nhằm giúp trẻ tiếp thu và mở rộng vố hiểu biết, từ đó giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.

 

doc9 trang | Chia sẻ: thuphuong25 | Ngày: 11/10/2021 | Lượt xem: 493 | Lượt tải: 1Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học bằng vật thật trong tiết làm quen với môi trường xung quanh cho trẻ 3 – 4 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cho trẻ làm quen với bộ môn môi trường xung quanh có vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ, đặc biệt là đối với trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi. Thông qua môn học trẻ được khám phá một thế giới của riêng mình, khám phá môi trường xung quanh. Trẻ được cung cấp vốn kiến thức sơ đẳng về thế giới xung quanh mình, không những phát triển nhận thức mà trẻ còn được rèn luyện óc quan sát, tri giác, khả năng ghi nhớ, chú ý, tư duy và tưởng tượng...Khám phá môi trường xung quanh nhằm củng cố hệ thống hoá kiến thức, mở rộng vốn hiểu biết về thế giới xung quanh trẻ, qua đó làm giàu vốn từ của trẻ.Trẻ được khám phá thế giới xung quanh mình, những điều trẻ chưa biết hoặc đã biết nhưng chưa cụ thể. Trẻ được trải nghiệm thông qua các tiết học và trực tiếp khám phá chúng. Biết được tên, đặc điểm, mùi vị, công dụng...các đối tuợng mà trẻ khám phá. Hơn thế môn học còn giáo dục lễ giáo, giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng cho trẻ.
Năm học 2019 – 2020 tôi được ban giám hiệu phân công vào lớp mẫu giáo bé, đối với nhóm trẻ đa số là mới ra lớp, nhận thức còn hạn chế, vốn hiểu biết mới chỉ là sơ đẳng, thêm vào nữa là các cháu nhút nhát, lạ lẫm. Các kĩ năng quan sát, ghi nhớ còn hạn chế, khả năng nhận thức chậm do vậy việc truyện đạt kiến thức cho trẻ ở lứa tuổi này gặp rất nhiều khó khăn. Một việc vô cùng quan trọng là trong quá trình giúp trẻ nhận biết về thế giới xung quanh tôi quan sát và thấy được rằng khi cho trẻ khám phá bằng những vật liệu vốn có trong tự nhiên đã giúp trẻ lĩnh hội kiến thức nhanh hơn và có hiệu quả hơn. Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài.“Một số phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học bằng vật thật trong tiết làm quen với môi trường xung quanh cho trẻ 3 – 4 tuổi”, nhằm tìm ra phương pháp giúp trẻ lĩnh hội kiến thức nhanh nhất chính xác nhất và hiệu quả nhất.
Trong quá trình tìm hiểu, khảo sát trực tiếp trên trẻ và khi sử dụng 1 số biện pháp trong tiết dạy cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh tôi đã nhận thấy các phương pháp như: Dùng hình ảnh qua tranh minh hoạ hay qua băng đĩa chưa giúp trẻ nhận thức sâu sắc về đối tượng hay sự vật mà trẻ cần khám phá, hoặc trẻ nhận thức được đặc điểm của sự vật, hiện tượng nhưng chưa sâu sắc, chưa kích thích được trí tượng tượng, tìm tòi và khả năng ghi nhớ của trẻ về sự vật, hiện tượng đó còn hạn chế.
Đề tài này đã giúp tôi tìm ra cho mình một phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học hợp lí, có kết quả trên trẻ và đặc biệt giúp trẻ lĩnh hội kiến thức nhanh và phát triển các mặt: Tư duy, trí nhớ, tượng tượng, tăng vốn từ và phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
Khi nghiên cứa đề tài tôi đã gặp không ít khó khăn trong việc lựa chọn nội dung có phù hợp với lứa tuổi hay không? Những đồ dùng tôi sử dụng trong quá trình nghiên cứa đã an toàn với trẻ chưa? Hay những đồ dùng mà sử dụng để trẻ khám phá có phong phú và sẵn có ở địa phương không? Cũng có những sự vật, đồ vật không thể dùng vật thật để khám phá? Chính những lí lo trên đã giúp tôi quyết tâm thực hiện nghiên cứa đề tài này.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Cơ sở lí luận
Đất nước ta đang trên đường đồi mới và phát triển. Đảng và Nhà nước luôn đề cao sự nghiệp giáo dục nước nhà, vì vậy nhiệm vụ quan trọng mà Đảng đã nêu. “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, chúng ta cần chăm sóc giáo dục ngay từ thủa ấu thơ. Với nhiệm vụ này người giáo viên cần nâng cao vai trò trách nhiệm của mình, nhất là giáo viên mầm non.
Như chúng ta đã biết thông thường trong các tiết dạy cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh thì giáo viên sử dụng tranh ảnh, mô hình để minh hoạ và trẻ khám phá qua đó.
Ví dụ: Khi cho trẻ tìm hiểu 1 số loại quả trẻ được biết mùi vị, hình dáng...qua tranh minh hoạ, có loại quả trẻ được biết vì ở nhà được ăn, nhưng có những loại quả xa lạ với trẻ mà trẻ chỉ được biết qua tranh ảnh, sách báo..Do vậy giáo viên cần tạo điều kiện cho trẻ được tiếp cận với cách giảng dạy theo hình thức đổi mới như: CNTT, đặc biệt là sử dụng những đồ dùng là vật thật có sẵn ở địa phương...nhằm giúp trẻ tiếp thu và mở rộng vố hiểu biết, từ đó giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.
2. Thực trạng của vấn đề
a. Khó khăn:
Khi tiến hành nghiên cứu đã đi đến quyết định thực hiện đề tài này tôi đã gặp một số khó khăn:
- Nhóm trẻ 3- 4 tuổi đa số là lần đầu ra lớp, chưa qua nhà trẻ nên còn nhút nhát, nhận thức về sự vật, hiện tượng còn hạn chế.
- Phương tiện dạy học của cô, đồ dùng cho trẻ khám phá chưa phong phú, đa dạng về chủng loại và mầu sắc.
- Bên cạnh đó, lớp học có tỉ lệ trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ, vẫn còn một số trẻ mới còn rụt rè chưa hòa nhập với trẻ cũ, còn hay khóc, chưa có nề nếp thói quen, trẻ chưa say mê, hào hứng đi học, đặc biệt là đầu năm học, trẻ chưa tập trung chú ý nghe cô mà còn hay khóc, còn nhút nhát không tích cực hoạt động, hiệu quả nề nếp còn thấp.
- Nhiều phụ huynh còn chưa nắm được những phương pháp giáo dục khoa học và đổi mới.
b. Thuận lợi:
- Bên cạnh những khó khăn trên tôi có rất nhiều thuận lợi
+ Lớp học thoáng mát sạch sẽ, gọn gàng được trang trí có kế hoạch, đầy đủ các góc, có sân chơi bằng phẳng, có cây xanh bóng mát và khu vệ sinh sạch sẽ.
+ Được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường
+ Bản thân là một giáo viên có chuyên môn, yêu nghề mếm trẻ, nhiệt tình trong công việc, chịu khó tìm tòi học hỏi qua đồng nghiệp, sách báo và CNTT.
+ Nắm được định hướng đổi mới trong phương pháp giảng dạy.
+ Bản thân tự trang bị cho mình phương tiện dạy học tốt: Máy tính.
3. Các biện pháp đã tiến hành
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng những phương pháp, biện pháp sau:
3.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Tôi nghiên cứu kỹ nội dung, phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh trong sách giáo dục mầm non 3 - 4 tuổi chương trình mới, trên ti vi chương trình VTV2, trên mạng.
Nghiên cứu cơ sở tâm sinh lý của trẻ
Nghiên cứu cơ sở giáo dục mầm non mới
3.2. Phương pháp điều tra thực tiễn:
Qua khảo sát thực tế trên lớp tại các giờ cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh nhiều trẻ nhận biết được sự vật, hiện tượng một cách đơn giản, qua loa và không nhớ hết những đặc điểm của sự vật. Hình ảnh về sự vật đó không lưu lại trong trí nhớ của trẻ, vì vậy trẻ không hứng thú khi khám phá chúng. Điều tra thực tế trong các tiết học đầu năm cho tôi kết quả sau:
Tổng số trẻ điều tra 35 trẻ:
Nội dung
Tỉ lệ
Trẻ hứng thú khám phá
65%
Trẻ Nhận thức rõ đặc điểm đồ vật, sự vật
30%
Trẻ nhận thức chậm
45%
Không nhớ đặc điểm
25%
 Từ đó tôi chú ý hơn nhiều đến hình thức sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào nhằm giúp trẻ khám phá và lĩnh hội kiến thức tốt mà gây được hứng thú khám phá của trẻ. Tôi thường xuyên sử dụng đồ dùng, học liệu là vật thật, cho trẻ sờ, ngắm và nếm mùi vị của đối tượng, kích thích tính tìm tòi, tưởng tượng của trẻ.
3.3. Phương pháp dạy học thực tiễn
a. Dạy trẻ trên tiết học
* Nhóm dùng lời:
Tôi sử dụng lời nói rõ ràng, mạch lạc, lô gíc, chậm rãi để cung cấp kiến thức cho trẻ bởi đối tượng trẻ lớp tôi là trẻ 3- 4 tôi, ngôn ngữ còn đang hình hành, có trẻ vẫn còn ngọng. Vì thế lời nói của cô cần chính xác, nội dung cần cung cấp đầy đủ, súc tích.
Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát quả chuối cô cho trẻ ngắm và cung cấp kiến thức cho trẻ đặc điểm của quả chuối như: Đây là quả chuối, quả chuối có màu vàng, quả chuối dài, chuối chín ăn rất ngọt,...
* Đồ dùng trực quan:
Đây là nhóm phương pháp chủ yếu của đề tài nghiên cứu. Những tiết học trước khi cung cấp kiến thức cho trẻ đơn thuần cô thường dùng tranh, ảnh, mô hình. Giờ tôi sử dụng đồ dùng là vật thật có sẵn đã chuẩn bị từ trước để cung cấp kiến thức cho trẻ, trẻ khám phá nhanh hơn, hứng thú hơn.
+ Ví dụ 1: Khi cho trẻ làm quen 1 số loại hoa như hoa cúc tôi chuẩn bị 1 lọ hoa cúc có cả bông to và cả nụ, nhiều màu khác nhau. Tôi cho từng trẻ quan sát, sờ cánh hoa, ngửi mùi của hoa, và phân biệt màu sắc...
Hình ảnh minh họa tiết dạy khám phá: Hoa Hồng, Hoa cúc
+ Ví dụ 2: Khi cho trẻ trò chuyện về 1 số loại phương tiện giao thông tôi sưu tầm những chiếc ô tô, tàu hoả, máy bay đồ chơi cho trẻ quan sát. Những đồ dùng đó kích thích hứng thú của trẻ và hình thành biểu tượng cho trẻ sâu sắc hơn.
Hình ảnh minh họa tiết khám phá phương tiện giao thông
* Trò chơi:
Trong tiết học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh thì trò trơi nhằm giúp củng cố, hệ thống hoá kiến thức, những trò chơi làm tăng thêm sự hứng thú trong tiết học của trẻ. Tôi cũng tổ chức các trò chơi trong tiết học nhưng sử dụng bằng những vật thật để trẻ trải nghiệm một cách chính xác hơn về sự vật, đồ vật.
+Ví dụ: Trò chơi chơi chiếc túi kì diệu trong tiết học làm quen 1 số loại quả. Trong tiết học trẻ được tri giác về loại quả đó, được sờ, được nếm vị của quả, thì trong trò chơi để nhận ra được quả mà mình tìm thấy trong túi cần ở trẻ 1 trí nhớ thật tốt, điều đó kích thích trí nhớ, sự tưởng tượng và kĩ năng nhận biết của trẻ, lúc này trẻ cần phát huy hết khả năng của mình để nhận ra loại quả đó.
* Sử dụng giáo án điện tử:
Đây là phương pháp hỗ trợ trong tiết học sử dụng đồ dùng là vật thật. Khi cho trẻ quan sát đồ dùng, trẻ tri giác đồ vật thì ngoài biện pháp quan sát trực tiếp thì hình thức cho trẻ quan sát qua trình chiếu sẽ giúp trẻ hiểu thêm về đồ vật đó.
+Ví dụ: Trong tiết học trò chuyện về các loại rau, tôi cho trẻ quan sát các loại rau quen thuộc mà trẻ thường được ăn ở lớp hoặc ở nhà như rau bắp cải, rau xu hào.Tôi mở rộng thêm kiến thức cho trẻ bằng cách quan sát trên trình chiếu, những vườn rau được các cô nông dân đang chăm sóc, hình ảnh các bác cấp dưỡng chế biến những món ăn từ rau xanh các bé đang khám phá...
b. Dạy trẻ ở mọi lúc, mọi nơi
* Hoạt động ngoài trời:
Trong các giờ hoạt động ngoài trời trẻ được tìm hiểu thêm về sự vật hiện tượng, vì thế ngoài kiến thức trẻ được biết trong tiết học chính thì những đồ dùng là vật thật vẫn được sử dụng một cách có hiệu quả trong các giờ hoạt động ngoài trời.
+Ví dụ 1: Hoạt động ngoài trời quan sát đồ dùng xây dựng thì tôi đã chuẩn bị một số đồ dùng nghề xây dựng như: Cái bay, cái xô, cái bàn xoatrẻ được củng cố thêm kiến thức cho mình mà hơn thế trẻ được khám phá lâu hơn, ghi nhớ sâu sắc hơn.
Một số đồ dùng nghề xây dựng
Ví dụ 2: Khi trẻ tham quan nhà bếp và quan sát cô cấp dưỡng nấu ăn trẻ được trực tiếp nhìn thấy các loại rau, thấy các đồ dùng nấu ăn của cô cấp dưỡng, trẻ còn được giáo dục vệ sinh trong ăn uống.
* Trong giờ ăn:
Giờ ăn là thời điểm trẻ không chỉ được củng cố kiến thức của môn học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh mà còn được học nhiều môn khác như: Văn học, toán...
+Ví dụ 1: Trước giờ ăn trẻ rửa tay, trong quá trình rửa tay trẻ được biết để tay dưới vòi nước, nước dựng trong xô, trẻ biết đặc điểm cái xô, cái chậu, miếng xà phòng...
Trong khi rửa tay trẻ phát triển ngôn ngữ qua bài thơ:
“Miếng xà phòng nho nhỏ”.
+ Ví dụ 2: Khi ăn cơm trẻ được củng cố kiến thức về cái bát, cái thìa, cái muôi, ngoài ra trẻ còn được học tay phải cầm thìa, tay trái giữ bát...
Khi ăn cơm thì phải biết mời các cô và bạn trong lớp cơm rơi vãi biết nhặt vào đĩa và lau tay vào khăn..
 Hình ảnh giờ ăn
d. Một số biện pháp khác: Kết hợp với phụ huynh
- Để nâng cao chất lượng trong quá trình truyền đạt kiến thức cho trẻ cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường. Sự kết hợp này là vô cùng cần thiết bởi tôi nhận thấy cần phải cho phụ huynh biết được những khó khăn, vất vả của cô giáo và cần có sự giúp đỡ của phụ huynh. Vì vậy ngay từ đầu năm học tôi đã chủ động khích lệ sự tham gia trong mọi hoạt động của phụ huynh nhằm giúp đỡ cho quá trình nhận thức của các cháu được chu đáo hơn. Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về phương pháp cung cấp kiến thức cho trẻ ở nhà của các bậc phụ huynh, những đồ dùng trong gia đình, những sự vật, đồ vật, hiện tượng được phụ huynh sử dụng đa số bằng những vật thật có trong gia đình. Tôi cũng khuyến khích phụ huynh ở nhà trao đổi với trẻ nhiều về đồ vật, sự vật đó không những cung cấp kiến thức mà còn làm tăng vốn từ của trẻ, giúp phát triển ngôn ngữ mạch lac, phát triển tư duy, trí nhớ một cách sâu sắc nhất.
4. Hiệu quả của SKKN
Tôi áp dụng SKKN của mình tại lớp mẫu giáo bé C3 trường mầm non Gia Thượng.
Kết quả đạt được như sau:
Nội dung điều tra
Khảo sát đầu năm
Khảo sát giữa năm
dự kiến cuối năm
Trẻ hứng thú
60%
78%
96%
Trẻ nhận thức rõ đặc điểm
25%
70%
92%
Trẻ nhận thức chậm
47%
25%
10%
Không nhớ đặc điểm
30%
6%
0%
 Sau khi áp dụng biện pháp sử dụng đồ dùng dạy học bằng vật thật trong tiết học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh đã cho thấy:
- Trẻ nhận thức về sự vật, hiện tượng nhanh hơn
- Thích tìm tòi, khám phá sự vật, hiện tượng nhiều hơn
- Khả năng ghi nhớ, tập trung, chú ý nâng cao hơn
- Trẻ có kĩ năng sử dụng đồ dùng, đồ chơi thuần thục hơn
- Hứng thú trong các hoạt động
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Ý nghĩa của SKKN:
Việc thực hiện quá trình nghiên cứu đề tài SKKN trên đã cho thấy việc sử dụng đồ dùng là vật thật trong tiết học cho trẻ làm quen với môi trường xunh quanh nói riêng và những môn học khác nói chung đã đem lại những kết quả đáng khích lệ. Những đồ dùng, đồ vật đó đem lại cho trẻ những hiểu biết đầu tiên, những kiến thức sơ đẳng về sự vật, hiện tượng và hơn thế còn giúp trẻ phát triển tư duy, ghi nhớ có chủ đích, phát triển thẩm mỹ và cả nhân cách cho trẻ. Việc sử dụng phương pháp dùng vật thật trong tiết học cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn học liệu luôn được quan tâm hàng đầu trong quá trình giáo dục trẻ mẫu giáo.
2. Bài học kinh nghiệm:
Với những biện pháp và kết quả đã đạt được bản thân tôi tự rút ra bài học cho mình như sau:
Ngay từ đầu năm học cần nắm rõ đặc điểm tâm sinh lí của trẻ
Sưu tầm những đồ dùng, đồ chơi có chất lượng cả về hình thức lẫn nội dung.
Tham khảo thêm ý kiến đóng góp của ban giám hiệu, tổ chuyên môn và đồng nghiệp trên lớp của mình.
Thường xuyên cho trẻ khám phá đối tượng ở mọi lúc mọi nơi nếu có điều kiện.
Gần gũi hơn nữa với trẻ để giúp trẻ khám phá sự vật, hiện tượng một cách chính xác và hiệu quả.
3. Một số đề xuất:
Tôi muốn đề xuất Phòng giáo dục tạo điều kiện để giáo viên tham gia dự các tiết mẫu về phương pháp sử dụng đồ dùng là vật thật trong các tiết học để giáo viên có cơ hội nâng cao hiểu biết cho mình và rút kinh nghiệm cho tiết dạy của mình.
Đầu tư thêm trang thiết bị, những đồ dùng, đồ chơi có chất lượng để trẻ khám phá tốt nhất.
Trang bị thêm tài liệu về cách nghiên cứu các đồ dùng, đồ chơi là vật thật để sử dụng vào tiết học có hiệu quả cao.
Nhà trường cần tạo môi trường cảnh quan học tập vui chơi có ích như vườn hoa, vườn cây ăn quả....
Trên đây là một số kinh nghiệm được rút ra trong quá trình công tác của bản thân tôi và đang thực hiện tại lớp mẫu giáo bé C3 trường mầm non Gia Thượng. Tôi xin mạnh dạn trình bày với các bạn đồng nghiệp mong được sự đóng góp của các đồng chí trong ban giám hiệu và các bạn để từ đó bản thân tôi rút ra được nhiều kinh nghiệm sâu sắc hơn khi cho trẻ khám phá môi trường xung quanh.
 Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngọc Thụy, ngày 12 tháng 3 năm 2020
Trịnh Thị Nhung

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_phuong_phap_su_dung_do_dung_day.doc
Sáng Kiến Liên Quan