Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tiếp sức cho học sinh chưa hoàn thành môn Toán Lớp 5

1. Thuận lợi:

 - Cơ sở vật chất của nhà trường ngày càng tăng trưởng phục vụ cho việc dạy học đảm bảo theo đổi mới.

 - Đội ngũ giáo viên phần đa trẻ, khoẻ, nhiệt tình năng nổ, có tâm huyết và trách nhiệm với nhiệm vụ được phân công.

 - Đa số học sinh chăm ngoan, nổ lực trong học tập. Việc đánh giá theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT thuận lợi cho học sinh chậm tiến bộ, các em không còn tâm lý tự ti, mặc cảm mà có sự cố gắng vươn lên. Cùng với sự hợp tác giúp đỡ của các bạn trong nhóm, các biện pháp tiếp sức của giáo viên các em đã có sự tiến bộ.

 - Phụ huynh đã có sự nhận thức sâu sắc đến công tác giáo dục con em trên địa bàn.

2. Khó khăn:

 a/Về học sinh:

 - Một số học sinh khả năng tiếp thu bài còn chậm, vận dụng thực hành luyện tập còn hạn chế nên chưa hoàn thành môn học.

 - Tính tự giác của một số học sinh trong học tập chưa cao, chưa nhận thức đúng đắn về động cơ và mục đích học tập, các em còn ham chơi, lười học.

 - Trong một lớp học có học sinh chưa hoàn thành dẫn đến tiến độ học tập cả lớp chậm lại, giáo viên dành nhiều thời gian kèm cặp làm ảnh hưởng đến những học sinh khác.

 - Theo quy định hiện nay giáo viên không ra bài tập về nhà cho học sinh, nên việc tự học bài ở nhà của một số học sinh hầu như không có, nếu có thì cũng chỉ học qua loa.

 b/Về phía giáo viên:

 - Giáo viên ít có kinh nghiệm trong việc vận dụng mô hình trường học mới nên vẫn còn lúng túng trong công tác giảng dạy. Khi lên lớp giáo viên thường quen sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, việc vận dụng phương pháp đổi mới trong dạy học vẫn chưa linh hoạt.

 - Giáo viên chưa có kĩ năng đánh giá học sinh theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT.

c/Về phụ huynh học sinh

 - Một số phụ huynh học sinh không quan tâm đến việc học của con em mình, phó thác cho nhà trường và thầy cô giáo. Do đó, các em học sinh thường không có ý thức trong học tập, thậm chí các em không hề xem bài hay học bài ở nhà.

 

doc17 trang | Chia sẻ: thuydung3ka2 | Ngày: 03/03/2022 | Lượt xem: 439 | Lượt tải: 2Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tiếp sức cho học sinh chưa hoàn thành môn Toán Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng khó khăn trở ngại về mặt tâm lí. 
Biện pháp thứ hai: Hình thành khả năng tự học ở học sinh.
 	Theo cách dạy truyền thống các em đến trường chỉ nhận được lượng kiến thức duy nhất từ thầy cô. Những kết luận bài học đều do thầy cô cung cấp. Cách dạy học như thế tạo cho học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ động. Chính vì thế chưa hình thành khả năng tự học ở học sinh.
Do đó, muốn hình thành cho học sinh kĩ năng tự học thì tôi phải lựa chọn, phối hợp nhiều hình thức giảng dạy như: cá nhân, nhóm, cả lớp. Các em được thực sự cùng nhau trao đổi, tìm tòi khám phá kiến thức qua các hoạt động học tập để tìm ra lời giải hoặc để hiểu bài; chỗ nào chưa rõ thì hỏi cô giáo hoặc bạn trong nhóm để có thêm gợi ý giải thíchHS tiến bộ rõ về sự tự tin cũng như mạnh dạn hơn trong giao tiếp; các em có sự chia sẻ giúp đỡ nhau trong học tập, kĩ năng tự học và tự đánh giá được nâng lên; các em có cơ hội phát biểu, nêu vấn đề còn thắc mắc và hiểu được bài học. Đặc biệt chú trọng đến phương pháp dạy học nêu vấn đề để các em tìm cách giải quyết, với học sinh còn chậm, giáo viên tiếp sức gợi mở để tìm ra phương án.
Tôi phải chăm chút từng đối tượng học sinh nhất là học sinh chưa hoàn thành theo hướng cá thể hóa dạy học. Tôi thường xuyên đi đến từng nhóm, từng học sinh để giúp đỡ các em, mối thân thiện sẽ hình thành từ đây và các em sẽ bộc lộ những suy nghĩ, hiểu biết của mình với giáo viên. Tôi luôn yêu cầu cao đối với bản thân và xác định các yếu tố quyết định sự thành công của giờ học là phương pháp dạy của người thầy và cách học của trò.
Chẳng hạn, dạy bài Diện tích hình tam giác:
Đường cắt
1
2
A
E
B
C
H
D
1
2
GV yêu cầu HS lấy ra 2 hình tam giác bằng nhau, cắt 1 hình tam giác theo một đường cao rồi ghép lại thành một hình chữ nhật 
-Yêu cầu HS so sánh diện tích một hình tam giác với diện tích hình chữ nhật vừa tạo ra (HS nhận ra diện tích hình tam giác bằng 1/2 diện tích hình chữ nhật), 
- Yêu cầu HS nhắc lại cách tính diện tích hình chữ nhật, so sánh cạnh đáy hình tam giác với chiều dài hình chữ nhật, chiều cao hình tam giác với chiều rộng hình chữ nhật.
-Từ cách tính diện tích hình chữ nhật suy ra cách tính diện tích hình tam giác.
a x h
2
S=
Sau bước này GV mới cho HS rút ra công thức tính diện tích hình tam giác
Phải tạo không khí lớp học sinh động từ khâu giới thiệu bài, hình thành bài mới như thế nào để lôi cuốn các em tham gia hoạt động một cách tích cực.
 	Tôi cũng rèn cho các em biết cách sắp xếp và sử dụng đồ dùng học tập như thế nào cho nhanh, chính xác. Tôi luôn nghiên cứu bài dạy đề ra mục tiêu cho sát, rõ về kiến thức, kĩ năng, thái độ không chung chung quá nặng so với trình độ học sinh. Xây dựng cho mình kế hoạch bài dạy sát với trình độ của học sinh, làm sao cho tất cả học sinh đều làm việc như vậy các em sẽ tập trung chú ý vào bài giảng của thầy cô. Đầu tiết học tôi thường kiểm tra kiến thức cũ có liên quan đến bài mới rồi từ đó dần dắt vào bài mới để các em dễ nắm được bài.
Biện pháp thứ ba: Kiểm tra đánh giá mức độ kiến thức ở các lớp dưới, có kế hoạch bổ sung những kiến thức mà các em bị hỏng.
 Kiến thức các lớp dưới là nền tảng để tiếp thu các kiến thức lớp trên. Do vậy tôi đã tiến hành kiểm tra, phân loại đối tượng học sinh, lên kế hoách bổ sung các kiến thức liên quan ở các lớp dưới. Các kiến thức cần ôn tập bổ sung tôi chia làm các nội dung sau: 
 - Kĩ năng tính toán. - Kĩ năng đổi đơn vị đo.
 - Các quy tắc, công thức tính chu vi diện tích các hình đã học.
 - Kĩ năng giải các dạng toán điển hình...
 Ngay từ những ngày đầu năm học, tôi thường xuyên theo dõi kết quả học tập của các em với nhiều hình thức kiểm tra để nắm được số lượng học sinh chưa hoàn thành môn toán. Từ đó có phương pháp giúp đỡ, tiếp sức cho thích hợp đối với từng đối tượng. Nếu giáo viên không phát hiện kịp thời thì các em dần dần hỏng kiến thức rồi các em sẽ chán học.
Biện pháp thứ tư: Chia đối tượng học sinh chưa hoàn thành ra từng nhóm nhỏ có đặc điểm gần giống nhau. 
 	Sau khi nắm được đối tượng học sinh chưa hoàn thành môn Toán, tôi không áp dụng cách giúp đỡ, tiếp sức một cách chung chung cho tất cả các đối tượng mà tôi tiến hành phân chia các em ra thành nhiều nhóm nhỏ có đặc điểm gần giống nhau và có phương pháp giúp đỡ, tiếp sức cho từng nhóm. 
- Nhóm 1: Học sinh lơ là thiếu tập trung trong giờ học.
 Các em này có khả năng tiếp thu được kiến thức. Nhưng các em còn ham chơi và hiếu động nên không tập trung trong giờ học dẫn đến các em chưa nắm được kiến thức. 
- Nhóm 2: Học sinh chưa biết cách giải bài toán có lời văn
 Các em này có khả năng tính toán được nhưng kĩ năng giải toán có lời văn còn hạn chế hoặc còn nhầm lẫn giữa các dạng toán. 
- Nhóm 3: Học sinh tính toán chậm.
 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do tư duy các em phát triển chậm, bị hỏng các kiến thức, kĩ năng của các lớp trước, không nắm được quy tắc thực hiện tính, quên bảng cửu chương...
Biện pháp thứ năm: Giáo viên lựa chọn phương pháp thích hợp tiến hành giúp đỡ,tiếp sức đối với từng nhóm nhỏ: 
 a/ Đối với nhóm 1: Các em lơ là thiếu tập trung.
Để các em có ý thức tốt tập trung nghe giảng, ở giờ học trên lớp giáo viên cần thường xuyên nhắc nhở quan tâm đến các em, gọi các em phát biểu, làm bài với câu hỏi, yêu cầu vừa sức với các em. Cần động viên khen ngợi khi thấy các em có tiến bộ. Bên cạnh đó giáo viên cần tạo cho không khí lớp học thoải mái bằng các hình thức trò chơi, câu đố có liên quan đến bài học.
 Khi dạy bài “Mét khối” giáo viên có thể cho học sinh chơi trò chơi Rung chuông vàng ở bài tập 2 (a.Viết các số đo sau dưới dạng số đo có đơn vị là đề-xi-mét khối: 1cm3 ; 5,216m3; 13,8m3; 0,22m3.
b. Viết các số đo sau dưới dạng số đo có đơn vị là xăng-ti-mét-khối:
1dm3; 1,969dm3; dm3; 19,54dm3 )
 	Học sinh suy nghĩ rồi ghi kết quả vào bảng con, giáo viên nhận xét khen ngợi những học sinh giải đúng.
	Đến cuối tiết học tôi quan tâm đến đối tượng này xem các em có nắm được kiến thức hay chưa? Nếu chưa nắm được tôi cần chú ý nhiều hơn ở tiết ôn luyện cho đến khi các em nắm được kiến thức mới thôi. Dần dần sẽ thúc đẩy được động cơ học tập của các em, nếu chúng ta không quan tâm, các em sẽ chán học dẫn đến không nắm được kiến thức.
 	Vào các tiết ôn luyện ở cuối mỗi mạch kiến thức tôi thường tổ chức cho các em chơi các trò chơi mà các em thích như trò chơi hái hoa dân chủ đểgiúp các em ôn tập và hệ thống hoá lại kiến thức đã học.Trong trò chơi này mỗi bông hoa tôi ghi tên một quy tắc tính đã học. Sau đó cho một số em lên bảng hái và nêu to cho cả lớp nghe quy tắc tính có tên trong bông hoa mà mình đã hái. Giáo viên nhận xét khen ngợi những em nêu đúng động viên khuyến khích những em nêu chưa được về ôn lại và cố gắng ở lần sau.
 b/ Đối với nhóm 2: Học sinh hạn chế giải bài toán có lời văn
 	 Để khắc phục được tình trạng này tôi cần phải lưu ý các em nhiều hơn trong hoạt động giải toán có lời văn. Ngay từ những bài đầu cần tập cho các em cách phân tích bài toán chỉ ra những yếu tố bài toán đã cho và những yếu tố cần phải tìm và mối quan hệ giữa các yếu tố này, từ đó hướng dẫn các em lập kế hoạch giải bài toán một cách khoa học, dễ hiểu. Nếu làm tốt bước này ngay từ đầu thì khi gặp những bài toán có lời văn cơ bản các em có thể giải một cách thuận lợi hơn.
 * Với dạng bài tập này học sinh thường mắc phải những sai lầm sau:
 + Một số em không hiểu đề bài, đọc đề toán mà không tóm tắt được bài toán cho biết gì? Bài toán yêu cầu tìm gì? (do đề toán dài, thực lực của một số em còn yếu)
 + Một số em không biết phân tích bài toán theo hướng đi lên, từ cái cần tìm đến cái đã cho để lập kế hoạch giải toán.
 +Học sinh không nắm được mối liên hệ của các phép tính trong một bài toán giải. Có những em tìm ra được điều kiện để giải bài toán song lại không biết sử dụng nó cho bước tiếp theo mà chỉ dựa vào yếu tố bài toán cho phần đầu, giải một phần bài toán theo quán tính (ví dụ: thấy hình chữ nhật cho chiều dài, chiều rộng thì tính diện tích, hay hình hộp chữ nhật cho chiều dài, chiều rộng và chiều cao thì tính thể tích) rồi bỏ ngõ bài toán.
 + Nhiều em biết các bước làm song việc vận dụng các kiến thức thực tế cũng như cách giải các dạng toán điển hình vào một phần của bài toán còn nhiều lúng túng(do các em thiếu kiến thức thực tế, việc vận dụng một cách tổng hợp nhiều kiến thức trong một bài toán hạn chế).
 * Biện pháp khắc phục:
 + Hướng dẫn HS đọc kĩ đề bài, tóm tắt bài toán, nắm chắc những dữ liệu bài toán cho, những yêu cầu cần tìm.
 + Phân tích bài toán theo hướng đi lên, muốn có cái cần tìm này thì cần phải biết thêm cái gì, và để tìm cái tiếp theo phải làm như thế nào, cần sử dụng dạng toán nào để giải quyết. Cứ như vậy cho đến khi định hướng được cách giải bài toán đó.
 + Lập kế hoạch giải bài toán
 + Đối chiếu các đơn vị đo xem đã phù hợp chưa, đổi đơn vị đo nếu có.
 + Trình bày bài giải.
Ví dụ: Hướng dẫn HS giải bài toán sau: 
 Một bể nước dạng hình hộp chữ nhật có kích thước trong lòng bể là: chiều dài 2m, chiều rộng 1,5m và chiều cao 1m. Khi bể không có nước, người ta mở vòi cho chảy vào bể, mỗi giờ được 0,5m3 . Hỏi sau mấy giờ bể sẽ đầy nước?
-Đầu tiên cho HS đọc kĩ đề toán( ít nhất 3 lần)
-Cho HS tóm tắt bằng cách chỉ ra những dữ liệu bài toán cho, những yêu cầu cần tìm.
+Hướng dẫn HS phân tích:
 Hỏi HS: -Nếu cứ mỗi giờ vòi chảy được 0,5m3, muốn biết sau mấy giờ vòi chảy đầy bể cần biết gì? (Cần biết lượng nước có trong bể).
Muốn biết lượng nước trong bể cần tính gì? ( thể tích của bể)
-Nêu cách tính thể tích của hình hộp chữ nhật? ( Lấy chiều dài nhân với chiều rộng rồi nhân với chiều cao, cùng đơn vị đo)
-Nhắc HS lưu ý các số đo phải cùng một đơn vị.
 +Hướng dẫn HS lập kế hoạch giải:
Gọi HS nêu các bước giải:
-Dựa vào phân tích bài toán, theo em bước 1 cần tìm gì? (thể tích của bể )
-Khi đã biết thể tích của bể bước tiếp theo em tính gì ? (Số giờ để vòi chảy đầy bể) 
GV chốt: B1: Tính thể tích của bể.
 B2: Tính số giờ để vòi chảy đầy bể. 
Chẳng hạn trong tiết ôn luyện tuần 21 khi hướng dẫn học sinh giải bài tập 2: 
Một người thợ gò một cái thùng tôn không nắp dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài 6dm, chiều rộng 4dm và chiều cao 9dm. Tính diện tích tôn dùng để làm thùng( không tính mép hàn) (SGK trang 110) tôi yêu cầu các em phân tích, tóm tắt bài toán bằng cách đưa ra các câu hỏi:
- Bài toán cho biết gì? ( Bài toán cho biết một cái thùng tôn không nắp có chiều dài 6dm, chiều rộng 4dm, chiều cao 9dm
- Bài toán yêu cầu gì? ( Bài toán yêu cầu tính diện tích tôn dùng để làm thùng?)
- Thùng không nắp thì có mấy mặt? ( Thùng không nắp có 5 mặt bao gồm 4 mặt bên và 1 mặt đáy.))
Sau đó tôi tiếp tục đặt câu hỏi để giúp các em lập kế hoạch giải toán theo mô hình phân tích bài toán như sau: 
 Giáo viên hỏi: Học sinh trả lời:
Có diện tích xung quanh rồi, ta 
cần tính thêm yếu tố nào nữa? - Tính diện tích một mặt đáy thùng tôn
- Muốn tính diện tích tôn làm thùng - Tính diện tích xung quanh thùng tôn
Trước hết ta phải tính cái gì? 
-Bài toán yêu cầu làm gì? - Tính diện tích tôn dùng để làm 
 thùng 
 Từ sơ đồ trên tôi yêu cầu học sinh giải theo thứ tự từng bước từ trên xuống. ( Tính DT một mặt đáy thùng tôn- Tính DT xung quanh thùng tôn- Tính DT tôn dùng để làm thùng tôn đó.
 Với đối tượng học sinh chưa hoàn thành nếu các em không giải được các bài toán hợp thì GV tách bài toán đó ra làm hai hoặc ba bài toán đơn, cho HS giải từng bài toán đơn rồi sau đó gộp các bài toán đơn thành một bài toán hợp và yêu cầu HS giải.
Trong các tiết ôn luyện có dạng toán giải tôi cũng yêu cầu các em tự tóm tắt và lập sơ đồ như thế, sau khi các em lập xong sơ đồ tôi sẽ xem xét chỉnh sửa (nếu cần thiết). Cứ làm kiên trì như thế các em sẽ nắm được cách giải các bài toán có lời văn và giải một cách thành thạo. 
c/ Đối với nhóm 3: Học sinh tính toán chậm.
 Đây là một trong những đối tượng tương đối khó, giáo viên cần phải tốn nhiều thời gian và công sức nhất, khi học chính khóa cũng như lúc giúp đỡ, tiếp sức thêm.
 Giáo viên cần thường xuyên ôn tập và hệ thống hóa kiến thức kỹ năng cho các em. Khi chưa nắm rõ kiến thức các em thường ghi nhớ một cách máy móc. Dần dần giúp các em nắm chắc các quy tắc tính, các bước tính khi thực hiện. Bên cạnh đó giáo viên cần khéo léo sắp xếp cho các em học sinh yếu ngồi cạnh một học sinh khá tạo điều kiện cho các em có thể giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn. Sự có mặt kịp thời của giáo viên trước những khó khăn của học sinh yếu khi làm bài có tác dụng nâng cao niềm tin cho các em trong học tập. 
 Trong tiết học, giáo viên cần tạo điều kiện cho các em phát biểu nhiều lần bằng cách nêu những câu hỏi, đưa những bài tập vừa sức các em làm được để tạo niềm tin trong học tập cho các em đã làm được những bài tập đó, giáo viên nên khen ngợi kip thời và tăng dần bài tập ở mức học sinh trung bình có thể làm được. Như vậy là tôi đã giao việc cho các em từ mức dễ đến mức vừa sức.
Đối với các tiết ôn luyện của mỗi tuần tôi thường đưa ra các bài tập có dạng tương tự nhau để các em luyện cho quen dạng bài. Sau mỗi mạch kiến thức tôi lại hệ thống hoá lại các kiến thức cơ bản để các em dễ nhớ. Đối với những bài có kiến thức dễ lẫn sau khi các em đa năm được từng dạng tôi sẽ ra mỗi bài tập ở mỗi dạng yêu cầu các em làm rồi giúp các em rút ra điểm khác nhau của mỗi bài để các em khắc sâu và ghi nhớ cách làm của mỗi dạng.
Ví dụ: Khi dạy phép chia số thập phân là phép tính mà các em thường sai nhiều, bởi đối với từng dạng bài thì có cách thực hiện khác nhau.
Cách khắc phục là khi ôn luyện, tiếp sức tôi cho các em làm cùng lúc cả 4 dạng: Chia một số thập phân cho một số tự nhiên, chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên mà thương tìm được là một số thập phân, chia một số tự nhiên cho một số thập phân, chia một số thập phân cho một số thập phân để dễ dàng rèn kĩ năng tính và nhấn mạnh sự khác biệt. Cụ thể:
 Đặt tính rồi tính: 5,28 : 4; 882 : 36; 702 : 72; 8,216 : 5,2
Đối với dạng toán về tỉ số phần trăm các em cũng dễ lẫn giữa dạng 2 và dạng 3. Để khắc phục tôi cũng làm tương tự cho các em làm cùng lúc hai dạng bài này chẳng hạn: “tìm 20% của 100” và “ 20% của một số là 100, tìm số đó?”
 Khi giúp đỡ tiếp sức cho nhóm này tôi đặc biệt rèn cho các em kĩ năng tính toán, bởi có tính toán được thì các em mới có thể làm được các dạng toán khác. Cụ thể tôi sẽ giúp các em thực hiện đặt tính, sau đó thực hiện tính. Khi các em đã tính được kết quả các phép tính mà tôi đưa ra, tôi sẽ hướng dẫn các em cách thử lại kết quả đó để các em tự kiểm tra xem mình đã làm đúng chưa.
Biện pháp thứ sáu: Phối kết hợp với cha mẹ học sinh.
 Sau một thời gian giảng dạy, tôi nắm được một số học sinh chưa hoàn thành môn Toán của lớp mình. Ngoài việc họp tất cả cha mẹ phụ huynh học sinh, tôi tiến hành mời cha mẹ học sinh theo từng thời điểm của từng nhóm để trao đổi cặn kẽ về đặc điểm của từng nhóm học sinh. Từ việc trao đổi từng nhóm riêng lẻ tôi và phụ huynh học sinh có điều kiện bàn bạc để tìm ra nhiều biện pháp khắc phục những hạn chế của các em.
 Hàng tháng tôi thường xuyên liên lạc với gia đình học sinh để báo cáo kết quả học tập cũng như những biểu hiện thất thường của học sinh để cho phụ huynh nắm mà có biện pháp cụ thể đối với các em.
 Biện pháp thứ bảy: Sử dụng hình thức khen thưởng, động viên học sinh. 
 Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn động viên, khuyến khích học sinh. Đặc biệt quan tâm đến sự tiến bộ của đối tượng học sinh chưa hoàn thành, trân trọng sự tiến bộ của các em dù là rất ít. Sử dụng các hình thức khen thưởng như: Khen trước lớp, khen trước toàn trường. Ngoài ra ở lớp, tôi còn lập quỹ khen thưởng, trích quỹ thưởng cho những học sinh có sự tiến bộ rõ rệt tháng sau hơn tháng trước. Trong năm học này, việc thực hiện đánh giá học sinh theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT mang tính nhân văn sâu sắc. Các em có cơ hội được nhà trường khen thưởng, đó là động lực lớn thúc đẩy sự nổ lực phấn đấu vươn lên ở học sinh.
 Không những thế, tôi luôn động viên gia đình học sinh đặt mục tiêu khen thưởng ở nhà và theo dõi sự tiến bộ của con em để khen kịp thời. 
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Qua nghiên cứu và thực hiện một số biện pháp để giúp đỡ, tiếp sức cho các em chưa hoàn thành môn Toán của lớp mình phụ trách, tôi nhận thấy các em có tiến bộ rõ rệt. Đa số các em biết cách tính toán và tỉ lệ các em thực hiện tính đúng kết quả các phép tính mà giáo viên đưa ra là rất cao. Đa số các em đã biết cách giải những bài toán có lời văn cơ bản. Những em hay lơ là thiếu tập trung trong giờ học nay các em đã hào hứng tham gia một cách sôi nổi, càng ngày các em chưa hoàn thành môn học thể hiện rõ nét tiến bộ của mình. 
Theo thống kê kết quả bài kiểm tra định kì cuối học kỳ I, năm học 2014- 2015 như sau:
Sĩ số
 Điểm 9 - 10
 Điểm 7 – 8
 Điểm 5 - 6
 Điểm < 5
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
29
17
58,6
6
20,7
6
20,7
0
0
 Từ các bảng số liệu trên cho ta thấy qua nghiên cứu và thực hiện số học sinh đạt yêu cầu cơ bản tăng từ 75,9 % lên 100% , không có học sinh chưa hoàn thành môn Toán ( giảm 21,1% so với đầu năm). Đặc biệt các em rất tự tin, hứng thú trong học tập. Điều này cho ta thấy một số biện pháp giúp đỡ, tiếp sức cho học sinh chưa hoàn thành môn Toán đã mang lại kết quả tương đối khả quan. Nhiều em vào đầu năm học rất nhút nhát hay trốn học nay em có tiến bộ rất nhiều có thể tự học được bài.
PHẦN III: PHẦN KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa của sáng kiến:
Việc nghiên cứu những biện pháp để giúp đỡ, tiếp sức cho học sinh chưa hoàn thành môn Toán ở trong nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác nâng cao chất lượng dạy học. Qua thời gian thực hiện, tôi rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân, đó là: 
Giúp các em khắc phục, vượt qua những khó khăn trở ngại về mặt tâm lí. Giáo viên phải tạo được cho các em sự thích thú khi đi học, ham thích học toán
 Phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học nhằm hình thành khả năng tự học của học sinh. 
 Kiểm tra đánh giá mức độ kiến thức ở các lớp dưới, có kế hoạch bổ sung những kiến thức mà các em bị hỏng.
Phân chia đối tượng học sinh yếu ra từng nhóm nhỏ có đặc điểm gần giống nhau.
Giáo viên lựa chọn phương pháp thích hợp tiến hành giúp đỡ, tiếp sức đối với từng nhóm nhỏ. 
Phải thường xuyên kết hợp với cha mẹ của các em trong quá trình giúp đỡ học sinh chư hoàn thành. 
 Sử dụng hình thức khen thưởng, động viên học sinh đúng mức, kịp thời. 
2. Những kiến nghị đề xuất: Để duy trì được kết quả và áp dụng dạy học trong những năm tiếp theo, tôi có một số kiến nghị như sau :
- Về phía phụ huynh: Cần quan tâm đến việc học của con em, ngay từ đầu năm học các bậc phụ huynh phải giúp các em hình thành thói quen và nề nếp tự học ở nhà. Nhắc nhở con em đến lớp cần chuẩn bị đầy đủ dụng cụ học tập, sách vở để các em có điều kiện học tốt .
-Tạo mọi điều kiện để con em đi học chuyên cần, thường xuyên trao đổi với giáo viên chủ nhiệm để nắm bắt tình hình học tập của con em mình. Đặc biệt cha mẹ học sinh thực sự vào cuộc tham gia giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện và đánh giá con em mình.
- Về phía giáo viên: Phải thực sự quan tâm yêu thương gần gũi và tạo không khí vui để học giúp các em chưa hoàn thành yêu thích môn học. Vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp dạy học tích cực để các em có cơ hội phát triển kiến thức của mình. Cần tăng cường rèn kĩ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động học tập. 
- Về phía nhà trường: Tăng cường hơn nữa việc tổ chức các chuyên đề, hội thảo về công tác phụ đạo, tiếp sức giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành môn học. 
 Qua nhiều năm tận tụy với nghề, hết lòng yêu nghề, mến trẻ. Thực hiện phương châm “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Kết hợp với kinh nghiệm của bản thân và sự chia sẻ của bạn bè đồng nghiệp, bản thân luôn hoàn thành tốt việc giúp đỡ, tiếp sức cho học sinh chưa hoàn thành trong môn Toán. Để vận dụng vào thực tế dạy học rộng rãi trong các trường học, kính mong các cấp lãnh đạo, quý thầy cô đóng góp ý kiến để sáng kiến kinh nghiệm đầy đủ hơn nhằm mang tính khả thi cao.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_tiep_suc_cho_hoc_sinh.doc
Sáng Kiến Liên Quan