Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục đạo đức học sinh trong công tác chủ nhiệm

 - Giáo dục là một quá trình liên tục, giáo dục suốt đời, giáo dục trung học cơ sở có tính chất trung gian trong hệ thống giáo dục, nhằm chuẩn bị cho học sinh, thanh niên trực tiếp bước vào đời.

 - Giáo dục đạo đức học sinh là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác chủ nhiệm.

- Đạo đức học sinh trong lớp quyết định nề nếp thi đua của lớp được nâng cao, đẩy mạnh phong trào thi đua học tốt, chuyên cần, duy trì sĩ số.

- Giáo viên chủ nhiệm là lực lượng chính trong công tác giáo dục đạo đức học sinh, là người quản lý mọi hoạt động của lớp học, là người triển khai mọi hoạt động của nhà trường đến từng học sinh.

- Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, mỗi giáo viên cần xác định nhiệm vụ chủ yếu đối với học sinh là giáo dục, giáo dưỡng. Trong quá trình giảng dạy ta không nên coi nhẹ hai nhiệm vụ đó, bởi giáo dục và giáo dưỡng mới đào tạo được một học sinh toàn diện theo yêu cầu của nền giáo dục mới.

 

doc10 trang | Chia sẻ: sangkien | Lượt xem: 6796 | Lượt tải: 5Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục đạo đức học sinh trong công tác chủ nhiệm", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.Cơ sở lý luận
 - Giáo dục là một quá trình liên tục, giáo dục suốt đời, giáo dục trung học cơ sở có tính chất trung gian trong hệ thống giáo dục, nhằm chuẩn bị cho học sinh, thanh niên trực tiếp bước vào đời.
 - Giáo dục đạo đức học sinh là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác chủ nhiệm.
- Đạo đức học sinh trong lớp quyết định nề nếp thi đua của lớp được nâng cao, đẩy mạnh phong trào thi đua học tốt, chuyên cần, duy trì sĩ số.
- Giáo viên chủ nhiệm là lực lượng chính trong công tác giáo dục đạo đức học sinh, là người quản lý mọi hoạt động của lớp học, là người triển khai mọi hoạt động của nhà trường đến từng học sinh.
- Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, mỗi giáo viên cần xác định nhiệm vụ chủ yếu đối với học sinh là giáo dục, giáo dưỡng. Trong quá trình giảng dạy ta không nên coi nhẹ hai nhiệm vụ đó, bởi giáo dục và giáo dưỡng mới đào tạo được một học sinh toàn diện theo yêu cầu của nền giáo dục mới.
2. Cơ sở thực tiễn
a.Thuận lợi:
- Trường THCS Chí Công là trường tiên tiến của huyện. Là ngôi trường cấp II duy nhất ở xã. Địa bàn đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, ban giám hiệu nhà trường, sự nhiệt tình của hội phụ huynh, giám thị cùng tâp thể giáo viên trong nhà trường.
b. Khó khăn:
- Phần lớn học sinh đang ở lứa tuổi thay đổi về tâm lý, rất hiếu động .
- Là học sinh địa bàn con em ngư dân, có trình độ dân trí thấp, phần lớn mù chữ, chuyên nghề khai thác thuỷ sản, họ có con theo học được cấp hai là đã tự mãn.
- Khi nghĩ học, lứa tuổi này các em đã tạo ra tiền dể dàng, nên không coi trọng vấn đề đạo đức
- Trong xu thế phổ cập trung học cơ sở, học sinh trong lứa tuổi này được xã hội ưu ái nên các em thường có nhiều yêu sách với giáo viên khi bị nhắc nhở, gây khó khăn cho việc giáo dục học sinh.
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã nâng cao chất lượng cuộc sống, gây ra những biến động về giá trị đạo đức: tự do ngôn luận, tính lễ phép, tính trung thực, tính chăm chỉ bị suy thoái trầm trọng so với những năm học trước.
II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức học sinh ở lớp, ở trường thông qua đó đề ra một số biện pháp giáo dục đạo đức học sinh một cách có hiệu quả.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên chủ nhiệm ở cấp trung học cơ sở. 
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên chủ nhiệm cấp trung học cơ sở, phân tích nguyên nhân, tìm ra những vấn đề liên quan đến công tác giáo dục đạo đức, từ đó đề ra một số biện pháp giáo dục đạo đức học sinh trong công tác chủ nhiệm lớp.
V.GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI.
- Nghiên cứu thực trạng và biện pháp giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên chủ nhiệm ở cấp trung học cơ sở.
VI. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU.
Từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 4 năm 2009.
B.PHẦN NỘI DUNG
I.Cơ sở lý luận:
+ Khái niệm đạo đức
- Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ người và người và con người với tự nhiên.
+ Chức năng đạo đức
- Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, đạo đức một mặt quy định bởi cơ sở hạ tầng, của tồn tại xã hội ; mặt khác nó cũng tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội đó. Vì vậy, đạo đức có chức năng to lớn , tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kềm hãm phát triển xã hội. Đạo đức có những chức năng sau:
	. Chức năng giáo dục.
	. Chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công cụ tự điều chỉnh mối quan hệ giữa người và người trong xã hội.
	. Chức năng phản ánh.
+ Vị trí và đặc điểm của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 
- Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cá nhân với chính mình.
Trong tất cả các mặt giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng. Vì Hồ Chủ Tịch đã nêu: “dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức Cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức Cách mạng thì có tài cũng vô dụng ”
Giáo dục đạo đức có ý nghĩa lâu dài, được thực hiện thường xuyên và trong mọi tình huống chứ không phải chỉ được thực hiện khi có tình hình phức tạp hoặc có những đòi hỏi cấp bách.
Trong nhà trường THCS, giáo dục đạo đức là mặt giáo dục phải được đặc biệt coi trọng, nếu công tác này được coi trọng thì chất lượng giáo dục toàn diện sẽ được nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác.
II. Những nhiệm vụ của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
+ Để hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh, công tác giáo dục đạo đức phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Hình thành cho học sinh ý thức các hành vi ứng xử của bản thân phải phù hợp với lợi ích xã hội; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo đức được quy định.
Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để đảm bảo các hành vi cá nhân được thực hiện.
Bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tính tích cực và bền vững, và các phẩm chất ý chí để đảm bảo cho hành vi luôn theo đúng các yêu cầu đạo đức.
Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức để trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá nhân và duy trì lâu bền thói quen này.
+ Yêu cầu của giáo viên làm công tác chủ nhiệm theo những tiêu chí sau:
Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng và trình độ giác ngộ cách mạng cao.
Có uy tín- đạo đức tốt.
Có tầm hiểu biết rộng.
Có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề.
Thương yêu và tôn trọng học sinh.
Có năng lực tổ chức
+ Những hoạt động của giáo viên chủ nhiệm trong năm học:
Thực hiện các loại sổ theo quy định của ngành: sổ liên lạc, sổ chủ nhiệm sổ theo dõi đạo đức học sinh 
Tổ chức sinh hoạt lớp cuối tuần, hoạt động giáo dục ngoaì giờ lên lớp, xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch thi đua, bám lớp 15 phút đầu giờ.
Kết hợp chặt chẽ với Cha mẹ học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, đoàn TNCS HCM, đội TNTP HCM và các ban ngành đoàn thể địa phương trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.
Nhận xét, đánh giá, xếp loại Hạnh kiểm và Học lực cho học sinh, đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh.
*Ưu điểm : 
Trong năm học giáo viên chủ nhiệm thực hiện đầy đủ các loại sổ sách, có lên kế hoạch hoạt động cụ thể hàng tuần, tháng, năm .
Bám lớp 15 phút đầu giờ, uốn nắn học sinh kịp thời. 
Kết hợp được nhiều hoạt động, đoàn thể trong công tác giáo dục đạo đức học sinh.
 *Tồn tại:
Còn một vài giáo viên chủ nhiệm chưa có tâm huyết với công tác này,chưa bám lớp thường xuyên, tác dụng giáo dục chưa cao, trong lớp vẫn còn học sinh chưa tiến bộ trong rèn luyện đạo đức.
Có một số học sinh rất ngoan, lễ phép với thầy cô, học giỏi nhưng lại vi phạm nội qui chung của trường, đâm chán nãn, dể bị lôi kéo bởi các học sinh chưa tốt.
Thiếu sự quan hệ thường xuyên với Cha mẹ học sinh.
*Nguyên nhân:
Công tác chủ nhiệm là một công tác khó khăn, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều cho công tác này, nhưng thực tế giáo viên chủ nhiệm còn phải lo cho công tác chuyên môn.
Một số học sinh có biều hiện sa sút về đạo đức, do gia đình có hoàn cảnh khó khăn về tình cảm( bố,mẹ không ở chung), kinh tế gia đình khó khăn phải đi làm xa nên giáo viên chủ nhiệm không thể liên hệ gia đình phối hợp giáo dục.
Việc phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã gây ra sự ỷ lại của phụ huynh và học sinh, khi bị khiển trách thì đòi nghĩ học, nên giáo viên đôi khi còn xuê xoa.
+Những biểu hiện của thực trạng đạo đức học sinh 
*Tích cực: Đa số học sinh có đạo đức tốt, biết nghe lời cha mẹ, thầy cô, nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của lớp, nội quy của trường, biết sống tốt và sống đẹp.
*Tiêu cực: Một số bộ phận không ít học sinh có biểu hiện chán nản, không thích học, thường xuyên gây mất trật tự trong lớp, nói tục, vô lễ với thầy cô, nói dối thầy cô và bạn bè, giao lưu với đối tượng xấu bên ngoài, đánh nhau có hung khí. 
*Nguyên nhân tiêu cực:
+Khách quan:
-
- Trình độ dân trí còn thấp, phụ huynh chưa thấy rõ mục đích giáo dục chung để phối hợp.
- Do sự bất ổn của gia đình, cha mẹ đi làm ăn xa các em phải ở với nội, ngoại thiếu sự quan tâm và quản lý các em.
- Cha mẹ giàu có, nuông chiều cho tiền nhiều, thiếu sự kiểm tra và giáo dục.
- Đời sống nhân dân còn khó khăn, tệ nạn xã hội nhiều, cha mẹ học sinh chưa ý thức hết vai trò giáo dục của mình.
- Thú chơi điện tử đã chiếm nhiều thời gian học tâp, làm các em vi phạm nhiều gây tình trạng nói dối.
 +Chủ quan:
- Ý thức đạo đức của học sinh chưa cao, kỷ năng vận dụng chuẩn mực đạo đức còn thấp, chưa phân định được ranh giới giữa cái xấu và cái tốt nên khi bị phê bình cứ ngỡ bị trù dập.
- Khả năng tự chủ chưa cao, khi vi phạm đạo đức sửa chữa chậm hoặc không chịu sửa chữa.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Nắm vững tình hình thực trạng của học sinh.
- Phải nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh : học bạ, số điện thoại, hoàn cảnh gia đình. để liên hệ với phụ huynh khi cấp bách.
2.Xây dựng ban cán sự lớp với tinh thần tự quản, ý thức trách nhiệm cao.
- Bầu cử những em có năng lực và được tập thể tín nhiệm.
- Báo cáo trung thực những diễn biến xảy ra hàng ngày cho giáo viên chủ nhiệm.
- Làm việc đúng lề lối quy định, đúng vị trí các chức danh.
3.Xây dựng tập thể lớp đoàn kết , vững mạnh, có tinh thần yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau
- Gần gũi, thương yêu ,trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu hướng sở thích của học sinh, giúp các em nêu ra “điều em muốn nói”.
- Tạo môi trường thân thiện để các em thấy được” mỗi ngày đến trường là một niềm vui”.
- Khiêu gợi và từng bước phát huy tinh thần làm chủ tập thể của học sinh, cùng thi đua giúp đỡ lẫn nhau.
- Biết động viên thăm hỏi kịp thời khi bạn đau ốm, hay gặp khó khăn, hoạn nạn.
4.Phối hợp tốt ba môi trường giáo dục.
- Liện hệ, trao đổi với giáo viên bộ môn, về tình hình đạo đức, nề nếp, chất lượng của lớp, để phối hợp giáo dục kịp thời.
- Trao đồi tình hình với giám thị, tổng phụ trách, tranh thủ sự giáo dục chung của trường.
- Trao đổi với ban giám hiệu, Cha mẹ học sinh để có thêm những thông tin về đối tượng mà giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu.
5.Nhiệt tình, linh động với công việc, công bằng với học sinh, khen thưởng và phê 
bình kịp thời.
-Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp thời cho ban giám hiệu về tình hình đạo đức của học sinh.
- Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin, thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ.
- Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy định, xử lý thông tin phản hồi kịp thời, có hiệu quả
- Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với Cha mẹ học sinh để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả.
- Cuối tuần khen thưởng, xử lý kịp thời, dù chỉ những tiến bộ chậm chạp.
- Luôn có lòng vị tha đối với các em, bỏ qua những lổi lầm, để tạo niềm tin và tạo cơ hội tiến bộ.
-GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trao dồi đạo đức nhà giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo.
C. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC - HIỆU QUẢ - KHẢ NĂNG PHỔ BIẾN.
* KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
+Trong thời gian đầu nhận lớp 6/3:
. Là lớp có nề nếp xếp 13 ở xuất sáng, tệ nhất.
. Nhiều em có biểu hiện vô lễ nói năng thiếu văn hoá với giáo viên, xé bài kiểm tra, xem thường kỷ luật của lớp, tự ý phê vào phiếu liên lạc những lời trách móc giáo viên chủ nhiệm, có em tự ý nghĩ học về báo gia đình vì bị giáo viên chủ nhiệm đánh mắng gây dư luận trong trường.
. Tỷ lệ khảo sát chất lượng thấp nhất toàn trường.
- Xếp đạo đức học kỳ 1:
.Tốt: 8 học sinh
. Khá: 26 học sinh( do khống chế về học tập)
. Trung bình : 6 học sinh 
+ Qua một năm thực hiện, chặt chẽ các biện pháp trên đến nay:
 - Taäp theå lôùp 6/3, tương đối có nề nếp, có vị trí thi đua lớp được cải thiện, ñoaøn keát , gaén boù, coù tinh thaàn töï quaûn, coù nhieàu tieán boä so vôùi thaùng 8 môùi nhaän lôùp.
 - Dự kiến xếp đạo đức cả năm:
.Tốt: 15 học sinh
. Khá: 20 học sinh.
. Trung bình : 4 học sinh . 
*HIỆU QUẢ - KHẢ NĂNG PHỔ BIẾN.
- Các biện pháp trên có thể sử dụng phổ biến cho giáo viên chủ nhiệm lớp cấp trung học cơ sở
- Ap dụng cho giám thị giáo d ục lại đạo đức học sinh. 
 Chí Công ngày 10 tháng 4 năm 2009
 Người viết
 TRẦN THỊ HOÀNG PHI
Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG.
 Nhất trí xếp loại.
 Chí Công ngàytháng.năm.....
 Hiệu trưởng - Chủ tịch hội đồng
Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GIÁO DỤC 
. 
 Nhất trí xếp loại..
 Liên Hương ngày.tháng..năm
 Trưởng phòng - Chủ tịch hội đồng

File đính kèm:

  • docSang_kien_kinh_nghiem_ve_Giao_duc_dao_duc_hoc_sinh.doc
Sáng Kiến Liên Quan