Sáng kiến kinh nghiệm Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chỉ đạo hoạt động của nhà trường

 Ngày nay, khi công nghệ thông tin (CNTT) càng phát triển thì việc phải ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, nhiều đơn vị đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ở một số trường học nước ta còn rất hạn chế. Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực CNTT mang lại, chúng ta nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ hiệu quả cho công việc của mình, mục đích của mình.

 Hơn nữa, đối với giáo dục và đào tạo, CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới “xã hội học tập”. Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT. Bộ giáo dục và đào tạo cũng yêu cầu “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn”.

Thế giới bước vào kỷ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực: Sản xuất, thương mại, quốc phòng.

 

doc13 trang | Chia sẻ: lacduong21 | Ngày: 08/12/2020 | Lượt xem: 272 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chỉ đạo hoạt động của nhà trường", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
pháp tốt hơn nữa trong công tác quản lý.
Điểm mới và sự cần thiết chọn SK CTKT:
Với sáng kiến CTKT này chưa có ai nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu của sáng kiến này là về lĩnh vực CNTT. Với sáng kiến CTKT này nhằm giải quyết vấn đề đưa CNTT vào nhà trường góp phần thực hiện kế hoạch đẩy mạnh CNTT giai đoạn 2011 – 2015.
Hiện nay không chỉ ngành giáo dục mà ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật đều triển khai, áp dụng rộng rãi mô hình quản lý và triển khai hiệu quả công việc bằng Email điện tử và đăng tải công khai thông tin trên website.
Đối với đơn vị nhà trường rất cần thiết áp dụng việc ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học, sử dụng hộp thư điện tử thông qua trang thông tin điện tử của nhà trường để triển khai nhiệm vụ công tác hàng tuần, hàng tháng đến các tổ chức đoàn thể, các bộ phận, các tổ trưởng chuyên môn của nhà trường, và tới toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường.
Đối với cán bộ giáo viên và nhân viên rất cần thiết sử dụng hộp thư điện tử, website để cập nhật thông tin từ các cấp quản lý; Cập nhật kế hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ công tác từ phía lãnh đạo nhà trường, các bộ phận, tổ có liên quan.
Mục đích nghiên cứu:
Nhằm giúp đỡ cán bộ giáo viên nhà trường làm việc nhanh, hiệu quả trong công tác thực hiện nhiệm vụ giáo dục, cũng như công tác giảng dạy. Tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên có cơ hội giao lưu trao đổi kinh nghiệm trong công tác, cũng như kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.
Rèn luyện cho cán bộ giáo viên có kỹ năng trong công tác truy cập Internet để tìm kiếm thông tin, cũng như tìm kiếm các tư liệu phục vụ nhiệm vụ công tác giáo dục, công tác giảng dạy bộ môn. Rèn luyện cho bản thân không ngừng học tập nâng cao trình độ, kinh nghiệm trong công tác khai thác, ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin. 
Trong quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu sẽ hiểu rõ hơn về CNTT, từ đó vận dụng vào giảng dạy hiệu quả hơn. Xác định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy. Đề xuất một số giải pháp nhằm đáp ứng tốt việc ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học đạt kết quả cao.
Đối tượng nghiên cứu:
Là cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong đơn vị nhà trường.
Nghiên cứu hệ thống Email điện tử được cấp từ hệ thống Email có tên miền của Phòng, của Sở và của Bộ Giáo dục Đào tạo.
Nghiên cứu hệ thống Website của trường và hộp thư điện tử của cán bộ, giáo viên và nhân viên từ hệ thống Email có tên miền: thso2lienthuy.edu.vn
Phạm vi áp dụng của sáng kiến CTKT:
Tại trường Tiểu học số 2 Liên Thủy thuộc phòng Giáo dục và Đào tạo Lệ Thủy.
Kế hoạch nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu áp dụng trong vòng 03 năm. Bắt đầu từ năm học 2010 - 2011 tại trường Tiểu học số 2 Liên Thủy.
Năm học 2011 - 2012 triển khai rộng rãi đến toàn thể cán bộ giáo viên hệ thống trang thông tin điện tử của trường với tên miền: thso2lienthuy.edu.vn.
PHẦN II: NỘI DUNG
Thực trạng:
Do sự nhận thức của một bộ phận CB, GV và NV còn hạn chế về vai trò của CNTT nên ngại áp dụng, không vượt qua được những khó khăn bước đầu. Một số cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường chỉ thấy mặt trái của CNTT, thấy một số hiện tượng tiêu cực của giới trẻ trong xã hội là đổ lỗi cho CNTT.
Suy nghĩ rằng việc ứng dụng CNTT trong nhà trường là không thể, bởi với đồng lương nhà giáo thì không biết lúc nào mua được máy tính, không biết khi nào trường có máy chiếu và các cơ sở hạ tầng CNTT khác. 
Việc ứng dụng CNTT vào quản lý còn phụ thuộc nhiều vào “ý thích” của cán bộ quản lý, của một số giáo viên, chưa có sự chỉ đạo mang tính pháp lý cùng với sự hỗ trợ thích hợp về cơ sở vật chất,...của các cấp quản lý.
Trong những năm học trước tại Trường TH số 2 Liên Thủy, nhất là từ năm học 2008 – 2009 trở về trước, khi việc ứng dụng CNTT vào quản lý nhà trường còn rất ít, chủ yếu là dùng máy tính soạn thảo một số văn bản, in ấn tài liệu. Nhiều công việc khác như tra cứu văn bản; soạn thảo văn bản, kế hoạch hàng tuần, hàng tháng; thống kê, tổng hợp báo cáo; phải làm thủ công nên mất nhiều thời gian và nhân lực nhưng đôi khi kết quả vẫn có sự nhầm lẫn ngoài mong muốn. 
Thực tế khi không ứng dụng CNTT vào quản lý tôi thấy ở trường TH số 2 Liên Thủy có những hạn chế như sau:
Việc tra cứu văn bản, nhất là các văn bản, các kế hoạch ban hành cách đây đã lâu thì việc tìm các văn bản này trong tập hồ sơ lưu trữ là một vấn đề không đơn giản, phải mất khá nhiều thời gian nếu cần ngay các văn bản này để giải quyết công việc thì không thể đáp ứng được.
Để phục vụ thống kê báo cáo phải huy động một lực lượng lớn CBGV, CNV ở nhiều bộ phận khác nhau. Đơn cử như báo cáo chất lượng giảng dạy của giáo viên thì phải huy động hết giáo viên trong trường, các tổ trưởng chuyên môn, bộ phận văn phòng để tổng hợp, lãnh đạo phải kiểm tra lại thông tin báo cáo. Nếu các báo cáo này cần phân loại theo giới tính, lớp, mônthì còn đòi hỏi nhân lực và thời gian nhiều hơn. Tuy số lượng tham gia đông, thời gian nhiều, nhưng nhiều khi số liệu lại không khớp giữa các môn, các khối làm ảnh hưởng đến tổng hợp báo cáo của toàn trường thiếu độ chính xác.
Công tác thống kê kế hoạch đầu năm học, thống kê chất lượng giữa kỳ, cuối năm việc so sánh chất lượng học tập và giảng dạy giữa các lớp, giữa các giáo viên , giữa các năm học không thể thực hiện được, việc đánh giá mang nặng cảm tính, đánh giá chung chung nên khó có thể có các quyết định quản lý để điều chỉnh mang tính kịp thời, thuyết phục.
Là một trường mới đưa dạy học Tin học cho học sinh bắt đầu từ năm học 2009 -2010, với 6 lớp gồm 153 học sinh lớp 3, 4 và 5. Chính vì thế mà điều kiện được tiếp xúc với CNTT của các em học sinh không những mới mẽ mà còn rất hạn chế. 
Đội ngũ giáo viên: Đa số là giáo viên có tuổi đời cao nên trình độ Tin học, kỹ năng sử dụng máy tính và các phương tiện hỗ trợ còn hạn chế, kết quả thống kê tháng 9/2009: Tổng số CB, GV, NV: 17 đồng chí ( Không tính GVHĐ ); Trong đó số CB,GV, NV có chứng chỉ A và B: 9 đạt tỷ lệ 52,9% ( A = 1; B = 8 ); Mặc dù đã có chứng chỉ nhưng kỹ năng sử dụng máy vẫn rất hạn chế do không thường xuyên rèn luyện, không tranh thủ thời gian để học tập nâng cao tay nghề, hoặc do điều kiện không có máy để rèn luyện. Một số người sử dụng máy do thiếu kiến thức bảo quản máy nên chất lượng máy tính và các thiết bị nhanh xuống cấp, hư hỏng ảnh hưởng đến quá trình sử dụng.
 Tại thời điểm tháng 9 năm 2009 số lượng giáo viên soạn bài trên máy chưa có, việc sử dụng thiết bị dạy học có liên quan như máy chiếu đa năng, máy chiếu hắt chỉ đầu tư vào một số tiết phục vụ thao giảng hoặc kiểm tra toàn diện ở trường.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho việc dạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế: Năm học 2009 – 2010 toàn trường chỉ có 9 máy vi tính, trong đó Hiệu trưởng 1 máy; Kế toán văn phòng 1 máy; Chuyên môn và các hoạt động khác 1 máy, phòng Tin học 6 máy. 
Với một thực trạng như thế việc đưa CNTT vào công tác quản lý nhà trường không chỉ là một nhu cầu tất yếu mà còn bảo đảm sự tồn tại và phát triển của nhà trường trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của giáo dục và đào tạo.
2. Các biện pháp, giải pháp thực hiện:
2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho mọi cán bộ, giáo viên và nhân viên thấy rõ hiệu quả và yêu cầu mang tính tất yếu của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua việc triển khai các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành về ứng dụng CNTT trong dạy học; thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ khối, hội thảo chuyên đề; thông qua dự giờ thăm lớp và qua việc triển khai các cuộc thi kỹ năng sử dụng vi tính các tiết dạy có ứng dụng CNTT do trường tổ chức. 
Phát động sâu rộng phong trào sử dụng CNTT trong dạy học và đề ra chỉ tiêu cụ thể về số tiết dạy học có ứng dụng CNTT đối với mỗi giáo viên để chính họ có kế hoạch bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, đặc biệt là đối với đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay. 
2.2- Nâng cao trình độ Tin học cho đội ngũ
	Nhà trường, Công đoàn làm tốt công tác động viên CB, GV và NV tham gia các lớp học tập để có chứng chỉ Tin học do các Trung tâm dạy nghề mở, đây vừa là yêu cầu nâng cao trình độ vừa đáp ứng việc đẩy mạnh CNTT trong nhà trường.
 Nhà trường bố trí giáo viên Tin học sắp xếp thời gian bồi dưỡng cho giáo viên kỹ năng sử dụng máy và một số thao tác soạn thảo văn bản tạo điều kiện cho giáo viên học tập nâng cao trình độ Tin học, đồng thời bố trí sắp xếp để mọi cán bộ giáo viên được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng CNTT do nhà trường tổ chức.
Bố trí sắp xếp và đầu tư trang thiết bị tin học, phòng máy tính, kết nối mạng Internet để cán bộ giáo viên có điều kiện truy cập, khai thác sử dụng Internet tìm kiếm thông tin, tư liệu giảng dạy thông qua website Sở, phòng, Bộ GD&ĐT và các đơn vị bạn.
2.3- Bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT
Muốn ứng dụng CNTT vào giảng dạy hiệu quả thì ngoài những hiểu biết căn bản về nguyên lý hoạt động của máy tính và các phương tiện hỗ trợ, đòi hỏi giáo viên cần phải có kỹ năng thành thạo (thực tế cho thấy nhiều người có chứng chỉ hoặc bằng cấp cao về Tin học nhưng nếu ít sử dụng thì kỹ năng sẽ mai một, ngược lại chỉ với chứng chỉ A –Tin học văn phòng nhưng nếu bạn chịu khó học hỏi, thực hành thì việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy sẽ chẳng mấy khó khăn). Nhận thức được điều đó, nhà trường cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên thông qua nhiều hoạt động, như: 
- Tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng sử dụng máy tính và sử dụng các phần mềm soạn giảng, hướng dẫn hàng ngày lấy thông tin từ các trang website, các bước soạn một bài trình chiếu, các phần mềm thông dụng, cách chuyển đổi các loại phông chữ, cách sử dụng một số phương tiện như máy chiếu, chụp ảnh, cách thiết kế đề kiểm tra,... 
- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề để trao đổi về kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong giảng dạy. 
- Định hướng cho giáo viên luôn có ý thức sưu tầm tài liệu hướng dẫn ứng dụng CNTT hiệu quả, bộ phận chuyên môn nghiên cứu chọn lọc photo phát cho giáo viên (bằng cách làm này nhà trường sẽ có nhiều tài liệu hay, dễ dàng cho giáo viên sử dụng như: tài liệu hướng dẫn soạn giáo án powerpoint, hướng dẫn sử dụng máy chiếu, hướng dẫn thiết kế bài giảng điện tử,...) 
- Động viên giáo viên tích cực tự học tập, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng chia sẻ, luôn cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp; lãnh đạo nhà trường phải là bộ phận kết nối, là trung tâm  tạo ra một môi trường học hỏi chuyên môn tích cực. 
- Tích cực tham gia các cuộc thi ứng dụng CNTT do các cấp tổ chức. Bởi vì khi tham gia bất cứ cuộc thi nào yêu cầu sản phẩm cũng đòi hỏi người tham gia  cuộc thi phải có sự đầu tư nhiều hơn về thời gian, công sức, chất xám và cả việc phải học hỏi ở những người giỏi hơn. Như vậy, vô hình chung cả việc rèn kỹ năng, tự học và học hỏi đồng nghiệp đều được đẩy mạnh. 
Để làm được điều đó, BGH đặc biệt là các phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn phải luôn quan tâm sâu sát, đi đầu gương mẫu, cùng học hỏi- cùng làm với giáo viên thì mới hiểu được họ yếu ở điểm nào, gặp khó khăn ở khâu nào, cần giúp đỡ gì? Nói đi đôi với làm luôn được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để thúc đẩy phong trào phát triển. 
Phát huy khả năng chính đội ngũ và nhà trường là tự chủ động sử dụng và khai thác  websile của nhà trường, Phòng GD&ĐT đặc biết hộp thư nội bộ của cán bộ, giáo viên và nhân viên tại địa chỉ 
- Tham gia sử dụng “nguồn học liệu mở” về đề thi, giáo án, tài liệu tham khảo, tài nguyên dùng chung trên websile Sở, phòng và các đơn vị bạn. 
- Đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên trên mạng Internet phục vụ công tác quản lý và giảng dạy của CBGV thông qua bồi dưỡng, tập huấn, cung cấp địa chỉ hoặc mở liên kết với trang web của trường. 
- Tăng cường việc khai thác sử dụng hệ thống thư điện tử để tăng tiện ích, hiệu quả trong trao đổi cập nhật thông tin. Yêu cầu mỗi cán bộ giáo viên lập và đăng ký một địa chỉ mail cố định với nhà trường. Để việc tham gia có chất lượng, nhà trường cần lên kế hoạch cụ thể từ khâu chọn cử giáo viên, tổ chức tập huấn, trao đổi kinh nghiệm, động viên tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho giáo viên.
2.4- Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT 
Xây dựng 1 phòng học tin học từ 6 máy ( năm học 2009 – 2010 ) lên 21 máy ( năm học 2012 – 2013 ), 02 máy chiếu đa năng, 1 máy chiếu hắt. 
Xây dựng hệ thống mạng nội bộ do nhà trường hợp đồng lắp đặt (Mạng Lan) , thiết lập 01 máy chủ kết nối 32 máy tính trong toàn trường. Thiết lập 01 trang Web nội bộ, bố trí WiLess (Kết nối mạng không dây) đặt tại phòng Hiệu trưởng nhà trường , ở bất kỳ vị trí nào trong khu vực nhà trường CB, GV, NV cũng có thể truy cập Internet miễn phí. Tại lớp học khi thực hiện các tiết dạy có hỗ trợ CNTT giáo viên có thể liên kết đến các trang Website để phục vụ tốt cho bài giảng.
Khuyến khích CBGV mua máy vi tính, kết nối Internet. Kết quả đến tháng 4/2013 toàn trường có 22/24 CB, GV, NV có máy vi tính, máy in; có 20 CB, GV, NV kết nối Internet. 
2.5- Xây dựng kế hoạch đẩy mạnh ứng dụng CNTT giai đoạn 2011 – 2015 và quy chế hoạt động của trang thông tin điện tử của trường ( có kế hoạch và quy chế cụ thể, trong phạm vi sáng kiến này bản thân tôi chỉ trao đổi một số nội dung cần thiết ): 
Mục tiêu tổng quát của kế hoạch đẩy mạnh CNTT giai đoạn 2011 – 2015: Tiếp tục đẩy mạnh CNTT vào quản lý nhà trường và phục vụ công tác dạy học đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục đào tạo. Trong 5 năm tới, CNTT của nhà trường phải được phát triển cả về số lượng và chất lượng, phát triển mạnh các ứng dụng nhằm đưa CNTT thực sự là công cụ chủ yếu giúp nhà trường cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; hiện đại hóa các khâu, các công việc quản lý, dạy học; góp phần đưa nhà trường hội nhập sâu rộng và vận dụng được mọi tiến bộ của nền giáo dục hiện đại vào sự nghiệp của Ngành nói chung, nhà trường nói riêng, giúp toàn ngành vượt lên, tiếp cận, đuổi kịp và vượt chất lượng của nền giáo dục và đạo tạo các đơn vi các tỉnh có nền giáo dục phát triển trong khu vực miền Trung và cả nước.
Để phát huy hiệu quả Website trong chỉ đạo mọi hoạt động của trường góp phần đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý chỉ đạo, nhà trường đã quy định cụ thể cho các tổ chức đoàn thể, cá nhân trong khai thác sử dụng trang thông tin điện tử như việc gửi đăng kế hoạch tuần, tháng, kỳ; Việc tuy cập thông tin thực hiện tối thiểu 2 lần/ngày.v.v.v.
Kết quả đạt được:
Về phía đội ngũ: Nâng cao nhận thức về tin học và ứng dụng CNTT trong nhà trường cho cán bộ, giáo viên và nhân viên. Đến nay 100% CB, GV, NV đã có trình độ Tin học từ chứng chỉ A trở lên, đặc biệt 100% giáo viên đều soạn bài bằng máy tính. 100% CB, GV và NV đều sử dụng thành thạo hộp thư nội bộ để chia sẽ và trao đổi kinh nghiệm cho nhau; Trên 50% giáo viên soạn bài bằng giáo án điện tử, trong dự giờ thao giảng 100% giáo viên đều sử dụng CNTT. 100% gia đình CB, GV & NV đều có máy tính có nối mạng ( 50% máy xách tay ).
Về phía nhà trường: Điều kiện CSVC không ngừng được đầu tư và tăng trưởng, đến nay toàn trường có: 32 máy tính, trong đó có 5 máy xách tay, toàn bộ đều được nối mạng. Phòng máy có 21 máy, 2 máy chiếu đa năng và 1 máy chiếu hắt.v.v.v
Đến nay việc thực hiện kế hoạch đẩy mạnh CNTT giai đoạn 2011 – 2015 cơ bản hoàn thành giai đoạn 1. 
Hoạt động trang thông tin điện tử của trường: Công tác thông tin chỉ đạo của nhà trường đều thông qua website của trường đã trở thành nền nếp, do vậy thời gian dành cho hội họp giảm nhiều tiết kiệm được quỹ thời gian cho việc làm chuyên môn và tổ chức các hoạt động khác. Đến nay số lượt người truy cập gần 100 000 lượt, bình quân hàng ngày có trên 150 người truy cập.
Về tính thân thiện mà CNTT đã mang lại cho nhà trường:
CNTT tạo môi trường làm việc khoa học, vui vẻ, phấn khởi trong nhà trường (xử lý công việc nhanh , chính xác) 
CNTT giúp cán bộ quản lý, cán bộ giáo viên (CBGV) trường TH số 2 Liên Thủy giảm được sức ép về công việc, chia sẽ thông tin (Hỗ trợ giờ dạy , Thống kê phổ cập , , xử lý các loại báo cáo , quản lý chất lượng , hỗ trợ tự học, học ngoại ngữ vv) 
CNTT mang đến cho giáo viên và học sinh sân chơi trí tuệ, tăng tính tích cực khả năng tự học cho học sinh (Trong mỗi giờ học ; câu lạc bộ văn học , học Tiếng Anh qua mạng Internet , giải toán trên mạng Internet ) 
CNTT giúp CBGV , học sinh tự hào về trường về quê hương (Như có trang website của trường, các giờ dạy có hỗ trợ CNTT, hệ thống Email nội bộ , truyền thống quê hương , gương người tốt việc tốt được đưa lên, tự hào về cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT của trường).
Đối với cán bộ quản lý: (Ngoài các nội dung thân thiện trên còn có thêm)
CNTT giúp CBQL có cái nhìn tổng quát, có tầm nhìn, học hỏi được nhiều, làm việc khoa học.
CNTT giúp người quản lý thấy được nhiều sự việc thông qua việc phân tích, xử lý số liệu kết hợp cùng quan sát thực tiễn, nhờ vậy đánh giá chính xác, công bằng các việc làm của giáo viên và học sinh từ đó thúc đẩy nhà trường phát triển trong thế ổn định. 
PHẦN III: KẾT LUẬN
Những kết luận và bài học kinh nghiệm:
Để ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý các hoạt động giáo dục, bản thân người quản lý phải có một số vốn kỹ năng về vi tính giúp cho việc soạn thảo, lấy tư liệu, hoặc thiết kế được dễ dàng. 
Việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lý và giảng dạy ban đầu là một bài toán khó với các nhà quản lý, nhưng qua một thời gian không dài, kết quả đã cho thấy hiệu quả tích cực khi CNTT mang lại cho cả đội ngũ thầy và trò không gian mới nhiều hứng thú trong lớp học. Với sự hỗ trợ của máy tính và một số phần mềm dạy học cùng các thiết bị đi kèm, giáo viên có thể tổ chức tiết học một cách sinh động, các bài giảng không chỉ mang hơi thở cuộc sống hiện đại gần gũi hơn với học sinh mà còn giúp cả người dạy và người học được tiếp xúc với các phương tiện hiện đại, làm giàu thêm vốn kinh ngiệm hiểu biết của mình. 
Tuy nhiên, nhà trường cũng xác định rõ: Việc ứng dụng CNTT không đồng nhất với đổi mới phương pháp dạy học, CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận lợi cho triển khai tích cực hiệu quả công việc chứ không phải là điều kiện đủ của đổi mới phương pháp làm việc. Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến quá trình công tác giáo dục. Để đội ngũ đạt chuẩn về trình độ, kỹ năng sử dụng tin học, mạng Internet thì điều kiện tiên quyết là việc khai thác CNTT phải đảm bảo các yêu cầu phục vụ thiết thực, sát đáng trong công việc, không lạm dụng quá vào công việc khác như vui chơi, giải trí, lang thang, du ngoạn trên mạng. 
Đề xuất – Kiến nghị
Việc ứng dụng CNTT vào công tác giáo dục đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên. Do đó, để đẩy mạnh việc ứng dụng và phát triển CNTT trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục có hiệu quả, cần có sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất của các cấp, sự chỉ đạo đồng bộ của ngành, của mỗi nhà trường và đặc biệt là sự nỗ lực học hỏi, rút kinh nghiệm của bản thân mỗi cán bộ giáo viên trong công tác này.
Trên đây là những kinh nghiện của bản thân tôi đúc rút được trong quá trình chỉ đạo ứng dụng CNTT vào công tác quản lý nhà trường. Những kinh nghiệm này còn mang tính cá nhân, chủ quan của bản thân. Tôi rất mong được sự góp ý của lãnh đạo cấp trên, sự trao đổi của đồng nghiệp để các kinh nghiệm này được hoàn chỉnh hơn, áp dụng được rộng rải hơn. /. 
MỤC LỤC
Mục
Nội dung
Trang
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1
Lý do chọn sáng kiến cải tiến kỹ thuật
1 - 2
2
Điểm mới và sự cần thiết chọn SK CTKT
3 - 4
3
Mục đích nghiên cứu
4
Đối tượng nghiên cứu
5
Phạm vi áp dụng của sáng kiến CTKT
6
Kế hoạch nghiên cứu
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
1
Thực trạng
4 - 6
2
Các biện pháp, giải pháp thực hiện
6
2.1
Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên:
6
2.2
Nâng cao trình độ Tin học cho đội ngũ
6
2.3
Bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT
7 - 8
2.4
Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT
8
2.5
Xây dựng kế hoạch đẩy mạnh ứng dụng CNTT giai đoạn 2011 – 2015 và quy chế hoạt động của trang thông tin điện tử của trường
9
3
Kết quả đạt được
9 - 10
PHẦN III: KẾT LUẬN
1
Những kết luận và bài học kinh nghiệm
11
2
Đề xuất – Kiến nghị
11 - 12
MỤC LỤC
13

File đính kèm:

  • docUng_dung_CNTT_trong_quan_ly_chi_dao_truong_hoc.doc
Sáng Kiến Liên Quan