Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học địa lý

Tích hợp là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lý luận dạy học các bộ môn.

 Trong từ điển Tiếng Việt chưa có từ “tích hợp”, còn trong từ điển Anh - Việt “tích hợp” (Integration) được hiểu là: Sự hợp lại, hoặc bổ sung thành một hệ thống thống nhất; sự hợp nhất; sự hoà hợp với môi trường.

Vận dụng nghĩa, “tích hợp trong giáo dục” được hiểu theo 2 nghĩa:

- Sự gắn kết các nội dung của một số môn học để tạo thành một thể thống nhất mới như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học trái đất,

- Sự bổ sung vào thành thể thống nhất theo nghĩa làm thêm một việc nào đó khi tiến hành làm việc chính. Ví dụ, trên cơ sở thực hiện các nội dung môn học đã có, bổ sung thêm các yêu cầu của giáo dục môi trường, giáo dục dân số sức khoẻ sinh sản,

Khái niệm tích hợp được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kỳ khai sáng (thế kỉ XVIII) dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hoà, cân đối. Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có. Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ 400 năm nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một môn học, thí dụ : lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục môi trường . vào nội dung các môn học Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân,.

 

doc49 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 29/07/2015 | Lượt xem: 5468 | Lượt tải: 146Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học địa lý", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thức cần phải làm rõ trước khi xem video thì có thể học sinh rất khó để phát hiện ra kiến thức địa lí có liên quan đến nội dung bài học.
 Hiện nay, theo quan điểm dạy học hiện đại, chính bản thân các đoạn video chứa đựng rất nhiêù kiến thức địa lí có thể khai thác, vì vậy cách thức thứ ba vẫn được coi là tối ưu nhất, GV nên tăng cường sử dụng nhằm phát huy hơn nữa tính tích cực học tập của học sinh. Trong quá trình sử dụng, giáo viên cần lưu ý khâu định hướng nội dung cần tìm hiểu trước khi học sinh xem video nhằm đem lại hiệu quả chủ động nhận thức cao hơn cho học sinh.
Ví dụ: Bài 15 (SGK Địa lí lớp 12) - Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai. Khi dạy phần 2. Một số thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống, GV sử dụng đoạn video về hoạt động cuả một cơn bão xuất hiện trên Biển Đông, đổ bộ vào Việt Nam. 
Trước khi xem, GV định hướng về những vấn đề cần giải quyết, như bão thường xuất hiện ở đâu, hướng di chuyển của bão, ảnh hưởng của bão đến kinh tế - xã hội nước ta như thế nào, biện pháp phòng chống ra sao
Sau khi xem đoạn video đó HS sẽ giải quyết được những vấn đề trên. Bên cạnh đó HS sẽ ý thức được một trong những nguyên nhân gây lũ quét, ngập lụt là do bão và qua đó GV sẽ giáo dục được HS ý thức bảo vệ rừng, HS có thói quen theo dõi dự báo thời tiết
Tuy nhiên, khó khăn của giáo viên trong việc thiết kế một nguồn mutilmedia bao gồm các đoạn video do thiếu nguồn tư liệu nên quá trình mutilmedia hóa nội dung còn yếu. Bài giảng điện tử chỉ mới dừng lại ở mức độ mượn các slide thay cho nền bảng chữ phấn, sử dụng một số hiệu ứng để mô phỏng một số quá trình đơn giản. Do đó, việc thực hiện bài giảng trên máy tính vẫn chưa phát huy được nhiều khả năng của công nghệ thông tin trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy.
2.3. Sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint (soạn giáo án điện tử)
Sử dụng Power Point để soạn thảo các bài giảng điện tử cho phép tạo ra một tập hợp các slide theo cấu trúc logic của bài giảng. Mỗi slide thường chứa đựng trên đó một đơn vị kiến thức cần truyền thụ của bài giảng. Việc liên kết các file dữ liệu của hầu hết các chương trình trên Windows đã cho PowerPoint khả năng sử dụng thêm các công cụ khác để phục vụ cho tiến trình dạy học, như vẽ biểu đồ, đồ thị, xử lí số liệu Các hiệu ứng tác động lên các đối tượng trên các slide như hiệu ứng xuất hiện các dòng văn bản, các hình vẽ, ảnh chụpkhả năng trình diễn các hình ảnh, đoạn video, ghi âm lời thuyết minh, đã làm cho hoạt động dạy học diễn ra phù hợp với logic của quá trình nhận thức đồng thời làm cho thế giới quan được tái tạo lại một cách có chọn lọc và sinh động, kích thích hứng thú, tăng cường sự chú ý và niềm tin của HS trong quá trình hoạt động nhận thức.
 Soạn giáo án điện tử
 Những nội dung đưa vào chương trình và SGK đã được chọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, sắp xếp theo logic khoa học và logic sư phạm, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính giáo dục, tính phổ thông của chương trình. Tuy nhien thời gian trong mỗi tiết dạy là có hạn (45 phút), vì vậy cần có sự lựa chọn thích hợp cho từng bài dạy, từng tiết học để có được giáo án điện tử thích hợp nhằm đạt được mục tiêu bài học là HS nắm được bản chất của hiện tượng địa lí và liên hệ thực tiễn.
 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử
 Xác định mục tiêu bài học, lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng nội dung trọng tâm.
 Multimedia hóa từng đưn vị kiến thức
 Xây dựng thư viện tư liệu
 Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
 Các dạng giáo án điện tử cụ thể
 Dạng 1: Giáo án điện tử không sử dụng bảng, toàn bộ nội dung bài giảng được trình chiếú trên máy.
 Ưu điểm: Đối với những bài có lượng kiến thức lớn, nhiều khái niệm, nhiều thuật ngữ cần giải thíchkhi sử dụng dạng này sẽ tiết kiệm thời gian; HS dễ ghi bài và nắm được kiến thức cơ bản.
 Hạn chế: HS sẽ học tập một cách thụ động: nhìn chép, hạn chế việc rèn luyện kĩ năng địa lí, HS lười suy nghĩ, lâu dần có thói quen ỷ lại và chán học; GV sẽ mất nhiều thời gian cho soạn bài vì phải đưa toàn bộ kiến thức cần thiết lên các slide và khó phân loại được đối tượng HS, nhất là phát hiện HS giỏi bộ môn.
 Kết luận: GV hạn chế sử dụng dạng giáo án điện tử này vì hiệu quả giờ dạy thấp vì hạn chế rèn luyện kĩ năng địa lí cho HS.
 Dạng 2: Sử dụng giáo án điện tử kết hợp với viết bảng để ghi các tiêu đề, HS làm bài tập, GV giải nghĩa, phân tích. Các slide là hệ thống kênh hình (Bnr đồ, biểu đồ, bảng số liệu), kiến thức cơ bản, hệ thống câu hỏi, phiếu học tập, thông tin phản hồi.
 Ưu điểm: Đối với những bài có lượng kiến thức lớn, nhiều khái niệm, nhiều thuật ngữ cần giải thíchkhi sử dụng dạng này sẽ tiết kiệm thời gian; HS dễ ghi bài và dễ nắm được kiến thức cơ bản; lôi cuốn được một số HS tích cực học tập, chủ động, sáng tạo trong tìm tòi, phát hiện kiến thức; rèn luyện được một số kĩ năng địa lí.
 Hạn chế: Số đông HS vẫn học tập thụ động, không tập trung suy nghĩ, từ đó dễ làm cho HS lười biếng, ỷ lại, chán họcmức độ rèn luyện kĩ năng địa lí chưa cao. GV cũng phải mất khá nhiều thời gian để đưa lượng kiến thức, thông tin lên giáo án nhưng lại không chủ động trong mỗi tiết dạy do năng lực HS khác nhau. GV cũng sẽ khó khăn trong phân loại năng lực HS để phát hiện HS giỏi 
 Kết luận: GV cũng nên hạn chế sử dụng dạng thứ 2 này vì hiệu quả giờ dạy không cao và vẫn làm hạn chế việc rèn luyện kĩ năng địa lí cho HS.
 Dạng 3: Sử dụng giáo án điện tử kết hợp với viết bảng để ghi các tiêu đề, các kiến thức cơ bản, HS làm bài tập, GV giải nghĩa, phân tích. Các slide là hệ thống kênh hình (Bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu, phim), phiếu học tập, thông tin phản hồi. Ở dạng này không trình chiếu hệ thống câu hỏi
 Ưu điểm: Đối với những bài dạy cần tổ chức sinh hoạt nhóm lớn (3 - 4 nhóm) HS phải tập trung học tập, có sự chuẩn bị bài chu đáo để giải quyết mọi vấn đề theo hướng dẫn của GV ở trên lớp; HS hiểu bài, dễ dàngnắm được kiến thức cơ bản; lôi cuốn HS trong học tập, HS tích cực, chủ động để giải quyết vấn đề; rèn luyện được kĩ năng địa lí cho HS; GV chủ động trong bài dạy, phân loại được đối tượng HS, phát hiện được HS giỏi bộ môn. 
 Hạn chế: Một số ít HS năng lực yếu sẽ ngại tham gia sinh hoạt nhóm, lười tư duy vì phần làm việc theo nhóm GV sẽ cung cấp thông tin phản hồi.
 Kết luận: GV sử dụng hình thức này sẽ có hiệu quả trong việc đổi mới PPDH, động viên được HS học tập; tuy nhiên trong quá trình dạy học cần để ý đến đối tượng HS ngại khó, lười học tránh tình trạng bỏ rơi HS.
 Dạng 4: Sử dụng giáo án điện tử kết hợp với viết bảng. Yêu cầu về chuẩn kiến thức được thể hiện trên bảng, các slide là hệ thống kênh hình (Bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu, phim), phiếu học tập.
 Ưu điểm: Phát huy được tính tích cực của HS trong học tập, không có HS bị bỏ rơi (mọi HS đều có thể tham gia giải quyết vấn đề), rèn luyện kỹ năng địa lí với mức độ cao, HS sẽ nắm chắc kiến thức cơ bản, qua đó HS sẽ hứng thú với bộ môn Địa lí. GV có điều kiện để nâng cao năng lực chuyên môn, chủ trong hơn trong dạy học, có nhiều kinh nghiệm hơn trong PPDH. Không mất nhiều thời gian cho soạn giáo án điện tử.
 Hạn chế: Ở những lớp có tỉ lệ HS khá giỏi nhiều sẽ dễ thực hiện hơn, đối với những lớp có tỉ lệ HS yếu kém nhiều GV sử dụng dạng này sẽ khó đạt được kết quả như mong muốn. GV phải có sự chuẩn bị cho mọi tình huống xảy ra trong quá trình HS giải quyết vấn đề.
 Kết luận: Dạng này được coi là tối ưu nhất trong quá trình ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả của việc đổi mới PPDH, đảm bảo được yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng cho HS. Khi sử dụng dạng này GV lưu ý, để tăng tính hấp dẫn cho bài dạy GV có thể sử dụng thêm một số kiến thức thực tế, ảnh, tư liệu, video
 Những vấn đề cần lưu ý khi sử dụng giáo án điện tử trong dạy học môn Địa lí 
 Lưu ý khi soạn giáo án điện tử 
 Nắm vững đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của bộ môn. 
 Bám sát chương trình dạy học và SGK. Căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức cơ bản, trọng tâm qua đó đảm bảo được chuẩn kiến thức, kĩ năng.
 Nắm vững năng lực HS, phân loại đối tượng HS để trong mỗi bài dạy, GV chủ động về PPDH.
 Trong thực tế không phải bài nào cũng có thể sử dụng giáo án điện tử, chúng ta cần phải biết chọn lọc các bài có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin đạt hiệu quả cao. Vì vậy ngay từ đầu năm học giáo viên bộ môn phải có kế hoạch về việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy cho những bài nào? chương nào? khối nào? từ đó giáo viên sẽ chủ động trong quá trình tìm kiếm tư liệu, thiết kế bài giảng điện tử. 
 Trong các slide không dùng màu sắc lòe loẹt, không dùng những kí hiệu, hình ảnh... dễ làm phân tâm HS. 
 Lưu ý khi trình chiếu giáo án điện tử
 GV không nặng về biểu diễn, không dùng quá nhiều kiểu hiệu ứng, chỉ nên chọn hiệu ứng đơn giản. GV tuyệt đối không được lạm dụng CNTT vào giảng dạy, cần tránh khuynh hướng ứng dụng CNTT một cách hình thức, nặng về trình diễn, lớp học thụ động bị cuốn theo các hiệu ứng làm loãng đi trọng tâm của bài học, không phải tiết học nào cũng phải ứng dụng CNTT, các hiệu ứng CNTT phải đưa vào đúng nơi, đúng lúc, phù hợp với tình huống sư phạm đặt ra.
 Các slide khi trình chiếu cần có thời gian đủ để HS quan sát, phân tích, phát hiện, nhận xét.
 Nên có slide trắng để khi GV chuyển sang nội dung khác, HS không bị ảnh hưởng bởi nội dung hoặc kênh hình không liên quan.
2.4. Ứng dụng CNTT phục vụ giảng dạy
 Khai thác internet
 Internet là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn thế giới. Đê các máy tính có thể liên lạc được với nhau thì mỗi máy phải có một địa chỉ riêng biệt, gọi là địa chỉ IP.
 Hiện nay, các Website về khoa học Địa lí cũng như một số Website về kinh tế - xã hội của thế giới và Việt Nam rất phổ biến trên mạng internet. Việc tra cứu các thông tin từ các trang Website này sẽ làm phong phú và đa dạng thêm nguồn thông tin sử dụng trong dạy học địa lí ở trường phổ thông.
 Ví dụ: 
 1) Bài 9 (SGK Địa lí lớp 11) tiết 1 - Tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế Nhật Bản.
 Phần 1. Điều kiện tự nhiên. GV sẽ khai thác thông tin trên internet về thảm họa sóng thần ở Nhật Bản vào tháng 3/2011 để minh họa về thiên tai ở Nhật Bản.
 2) Bài 14 (SGK Địa lí lớp 12) Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
 Phần 1.a. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng. GV khai thác thông tin từ internet về thực trạng rừng Việt Nam đang suy giảm nhanh cả về diện tích, cả về chất lượng rừng, nhất là đối với rừng tự nhiên
 Như vậy, việc khai thác internet để lấy thêm thông tin nhằm làm cho bài dạy thêm sinh động, hấp dẫn. Qua đó sẽ lôi cuốn được HS trong học tập đồng thời sẽ giáo dục kĩ năng sống cho HS.
 Tuy nhiên trong quá trình khai thác internet để làm phong phú thêm bài dạy, GV cần lưu ý: 
 Cần bám sát mục tiêu bài dạy; thông tin khai thác phải đảm bảo tính chính xác, tính phù hợp và có tính giáo dục; thông tin đưa vào sử dụng phải có chọn lọc, không nên đưa quá nhiều thông tin trong một bài dạy, dễ làm loãng nội dung cơ bản; GV không nên quá lệ thuộc vào internet.
 GV hướng dẫn HS khai thác thông tin trên internet, chú ý vào một số địa chỉ cần thiết, có liên quan đến bài học, đến việc học tập bộ môn Địa lí.
 Vẽ biểu đồ
 Biểu đồ là một loại đồ họa dùng để biểu hiện một cách trực quan SLTK về quá trình phát triển của hiện tuợng, cấu trúc hiện tượng, mối quan hệ giữa thời gian và không gian của các hiện tượng.
 Trong dạy và học Địa lí , hệ thống biểu đồ có sức hấp dẫn về mặt hình thức và giúp GV, HS dễ dàng xem các giá trị so sánh. Mỗi loại biểu đồ có những chức năng thể hiện đối tượng, những đặc tính riêng của mình nên mỗi loại biểu đồ có khả năng tốt hơn cho việc thể hiện một đặc điểm nào đó của sự vật hiện tượng.
 Công việc này GV thường làm trong quá trình soạn bài (soạn giáo án điện tử) ít khi sử dụng trong quá trình lên lớp vì tốn khá nhiều thời gian và đôi lúc không quá cần thiết. GV phải biết lựa chọn thời điểm để tạo biểu đồ ở trên lớp, không nên nặng về phô trương làm mất thời gian, nhất là trong các tiết thực hành.
 Thiết kế giáo án E-learning. 
 E-learning là một phương pháp hiệu quả và khả thi, tận dụng tiến bộ của phương tiện điện tử, Internet để truyền tải các kiến thức và kĩ năng đễn những người học là cá nhân hoặc tổ chức ở bất kì nơi nào trên thế giới tại bất kì thời điểm nào. Với các công cụ đào tạo truyền thông phong phú, cộng đồng người học online và các buổi thảo luận trực tuyến, E-learning giúp mọi người mở rộng cơ hội tiếp cận với các khóa học và đào tạo nhưng lại giúp giảm chi phí.
 Ưu điểm nổi bật E-learning
 Người học không cần phải di chuyển đến bất kì đâu. 
 Dễ sử dụng: chỉ cần có bộ trình duyệt Internet; có định dạng HTML và được thiết kế để có thể tải về nhanh và giúp bạn tiến hành việc học một cách nhanh chóng; giao diện thiết kế đào tạo trực tuyến đã được kiểm nghiệm và chứng minh với hướng dẫn từng bước và dễ dàng. Phần trợ giúp hữu ích và hiệu quả: rất nhiều thông tin trợ giúp có trong các khóa học trực tuyến, hoặc do đội ngũ nhân viên quản trị cung cấp.
 Tương tác: các bài tập mô phỏng cho phép học viên thực hành những kiến thức mà mình đang học, giúp cho học viên ghi nhớ được khối lượng kiến thức nhiều hơn; cung cấp các phương pháp học khác nhau thông qua các bài tập bằng phương tiện nghe nói, biểu đồ hiển thị, các bài kiểm tra và các bài tập có thể in ra được với các file định dạng PDF có thể tải xuống để luyện tập thêm. 
 Tự học và thuận tiện: học với tốc độ tùy chọn, nhanh chóng và tiết kiệm thời gian. Tập trung vào những kiến thức mà bạn cần, bỏ qua những kiến thức bạn đã biết hoặc không cần thiết hoặc các phần lặp lại bạn luôn luôn kiểm soát được không gian, thời gian và phương thức học với cách tiếp cận không hạn chế 24 giờ/ngày, 7 ngày/tuần, 365 ngày/năm.
 Tuy nhiên chúng ta cần nhìn vào thực tế Việt Nam hiện nay: Cơ sở vật chất (trang thiết bị dạy học, đường truyền, công cụ hỗ trợ) các trường học ở Việt Nam còn rất nghèo nàn. Học sinh chưa có thói quen tự học và làm việc theo nhóm, chưa có tính độc lập, còn phụ thuộc nhiều vào giáo viên, chưa tự giác trong học tập Khả năng áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy của đa số giáo viên ở tất cả các bậc học còn hạn chế mặc dù đã có các dự án và công cụ hỗ trợ cho giáo viên soạn bài giảng.
 Để tổ chức một lớp học bằng E-learning đòi hỏi GV tốn nhiều thời gian và công sức hơn cách dạy học truyền thống, nhưng hiện nay đồng lương của GV vẫn ít ỏi, phải dạy thêm nhiều nên không có thời gian đầu tư cho giảng dạy.
 Cách học truyền thống vẫn sẽ phải là phương thức chủ yếu và phổ biến bởi nó phù hợp với tất cả các người học và gắn liền với thói quen mỗi người từ khi còn nhỏ, nên với cách học truyền thống người học cảm thấy an toàn hơn khi được nghe giảng trực tiếp, được giải quyết vấn đề trực tiếp với GV. Đối với GV cũng có thể quan sát được thái độ học tập và khả năng học tập của mỗi HS thông qua tiếp xúc trực tiếp. Còn đối với mô hình đào tạo trực tuyến không phải phù hợp với tất cả mọi người, nó chỉ phù hợp với những người có kiến thức về tin học nhất định, thực sự có nhu cầu và tự giác học.
 Qua những vấn đề nêu trên thì chúng ta nhận thấy, giáo án E-learning không phù hợp với HS trung học. Trong khi chúng ta đang tiến đến một mục đích là lấy HS làm trung tâm, GV đóng vai trò người tổ chức, hướng dẫn HS tìm tòi, khám phá để tìm ra bản chất của sự vật hiện tượng địa lí.
 Sử dụng một số phần mềm khác trong dạy học Địa lí bậc THPT 
 Encarta Reference Library (thư viện tham khảo điện tử): Là phần mềm tra cứu. Encarta là bộ bách khoa toàn thư số hóa đa phương tiện của hãng phần mềm lớn nhất thế giới, Microsoft. Encarta được cập nhập và phát hành đều đặn hằng năm. Hệ thống bản đồ trên Encarta rất phong phú, có thể phóng to, thu nhỏ dễ dàng, thuận tiện.
 Phần mềm PC FACT: Là phần mềm tra cứu, trong đó chứa dựng các bản đồ và tư liệu địa lí, giúp GV có thêm nhiều thông tin trong dạy học Địa lí
 Phần mềm MapInfo: Là phần mềm dành cho quản lí thông tin và dữ liệu bản đồ. Trong dạy học địa lí, phần mềm này ch phép phóng to, thu nhỏ bản đồ, lọc các đối tượng địa lí trên bản đồ thành các nhóm, loại bỏ các đối tượng không cần thiết, giữ lại các đối tượng chủ yếu sử dụng trong nội dung bài học hoặc chồng xếp các lớp bản đồ để tạo ra một bản đồ mới, thích hợp cho bài dạy. 
 Phần mềm Violet: Phần mềm Violet là phần mềm giúp giáo viên tự soạn được các bài giảng điện tử sinh động hấp dẫn, hỗ trợ việc trình chiếu trên lớp và giảng dạy E-learning qua mạng. So với các sản phẩm tương đương của nước ngoài, Violet phù hợp giáo viên Việt Nam. Violet có sẵn rất nhiều mẫu bài tập thường dùng trong SGK như: trắc nghiệm, ghép đôi, ô chữ, kéo thả, điền khuyết, xếp chữ,... Tích hợp công cụ tìm kiếm Google và YouTube để tìm kiếm các tư liệu tranh ảnh và phim, người dùng sẽ sử dụng như một chức năng của Violet rất nhanh chóng và thuận tiện. 
3. Những vấn đề cần lưu ý khi sử CNTT trong dạy học Địa lí
3.1. Đối với GV và HS
 Đối với GV: 
 Soạn giáo án đầy đủ, đảm bảo theo yêu cầu về chuẩn kiến thức và kĩ năng (giáo án Word và giáo án điện tử); chú trọng việc khai thác kênh hình trong SGK. Thường xuyên sử dụng internet để cập nhật thông tin, nhằm làm phong phú bài dạy, kích thích tính tòm mò, thích khám phá của HS. 
 Lập thư viện điện tử.
 Phải quan tâm đến năng lực, trình độ của HS để lựa chọn PPDH thông qua ứng dụng CNTT có hiệu quả nhất. Hướng dẫn HS chuẩn bị tốt bài cũ, bài mới; tăng cường kiểm tra đánh giá, động viên HS học tập.
 Đối với HS
 Có sự chuẩn bị bài cũ bài mới theo hướng dẫn của GV.
 Tập trung nghe giảng, chủ động tư duy sáng tạo; mạnh dạn bày tỏ quan điểm của mình trước tập thể.
 Coi trọng việc tự học, sưu tầm tài liệu, cập nhật thông tin thực tiễn
3.2. Đối với tổ, nhóm chuyên môn
 Tăng cường sinh hoạt chuyên môn theo chủ đề, sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.
 Xây dựng thư viện điện tử cấp tổ, nhóm chuyên môn; thiết kế bài giảng theo hướng ứng dụng CNTT.
 Tăng cường dự giờ rút kinh nghiệm.
3.3. Đối với Trường và cấp trên
 Trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các điều kiện khác cho dạy học, như thời gian, kinh phí, 
 Trong kiểm tra, đánh giá GV, cấp trên cần dựa trên quan điểm đổi mới PPDH, tránh nguyên tắc cứng nhắc.
III. Kết luận 
 CNTT đã giúp GV giải quyết khó khăn một cách nhẹ nhàng, giúp HS học tập hứng thú hơn bao giờ hết. Mỗi giờ học địa lí đối với các em thật là một giờ học vui, lí thú như được đi du lịch, được giải trí bằng phim ảnh. CNTT đã giúp GV đứng lớp thoải mái, không mất thời gian treo tranh, dán ảnh. 
 Với HS chỉ cần được xem phim một lần duy nhất, không cần ôn, HS vẫn nhớ mãi nội dung bài học.
 Sử dụng phim ảnh trong bài dạy GV đã thấy HS hào hứng như thế nào trong các tiết học, các em chờ đợi tiết học, về nhà chuẩn bị tốt hơn, tích cực học tập hơn bao giờ hết.
 Nói tóm tại, sử dụng CNTT trongđổi mới PPDH là một việc làm hữu ích, thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
 Trong nội dung chuyên đề “ứng dụng CNTT trong dạy học” người viết chỉ đề cập đến một số hình thức sử dụng CNTT trong soạn, giảng bộ môn Địa lí, người viết không nặng về kỹ thuật ứng dụng CNTT. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 1. Báo Giáo dục Thời đại.
 2. Cao Thị Thặng, “Nghiên cứu và thử nghiệm bước đầu một số chủ đề tích hợp liên môn Vật lý, Hóa học, Sinh học ở trường trung học cơ sở”, Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Phổ thông, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.
 3. Nguyễn Minh Phương, Chuyên đề : Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015.
 4. Xavier Roegiers (1996), “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển năng lực ở nhà trường”, (Đào Trọng Quang và Nguyễn Ngọc Nhị dịch), Nhà xuất bản Giáo dục.
PGS.TS Nguyễn Đức Vũ: Phương tiện dạy học Địa lí ở trường THPT
Lữ Đức Hào: Làm việc với biểu đồ và đồ thị trong EXCEL 2003
Cục Nhà giáo và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục: Tài liệu tham khảo phục vụ kì thi nâng ngạch GVTH cao cấp năm 2011.
Bộ Giáo dục và Đào tạo: Sách giáo khoa địa lí lớp 10, 11, 12 (nâng cao,cơ
bản)
Tư liệu tham khảo trên mạng internet - google
Tư liệu, tin bài của đồng nghiệp cung cấp

File đính kèm:

  • docTai_lieu_tham_khao_SKKN_dia_li.doc
Sáng Kiến Liên Quan