Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8

PHẦN I. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài, thuận lợi và khó khăn

Từ lâu, dạy học theo kiểu “đọc – chép” được coi là một phương pháp dạy học để truyền tải kiến thức cho học sinh và được sử dụng phổ biến ở nhiều trường trong cả nước. Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều cuộc hội thảo và cũng đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực hơn nhưng hiện tại không ít giáo viên vẫn sử dụng cách dạy học theo kiểu “đọc – chép”

Do một số bài học của chương trình có lượng kiến thức nhiều, trong một tiết học chỉ có 45 phút, mà đã mất 10 đến 15 phút ổn định tổ chức, kiểm tra bài cũ, dặn dò học, làm bài tập ở nhà Như vậy, chỉ còn khoảng 30 phút để giảng bài mới nên giáo viên chọn cách “đọc – chép”.

 

doc31 trang | Chia sẻ: binhthang88 | Ngày: 20/11/2017 | Lượt xem: 1158 | Lượt tải: 23Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ên.
Củng cố : Giáo viên gọi học sinh lên bảng trình bày nội dung sơ đồ tư duy mà các em đã thực hiện. Gọi một vài em đã vẽ sơ đồ tư duy bằng phần mềm www.mind-map.com dùng USB gắn vào máy tính trình chiếu và thuyết trình trước lớp cho các bạn theo dõi nội dung bài học. Giáo viên nhận xét đánh giá cho điểm và dặn dò học sinh chuẩn bị bài học lần sau.
Lưu ý khi đặt câu hỏi cho học sinh trả lời giáo viên nên hỏi những câu liên quan đến sự thông hiểu để học sinh vận dụng khi làm bài bài kiểm tra. Khi học sinh trả lời giáo viên nên động viên khuyến khích và có thể hỏi tiếp những câu có liên quan đến kiến thức của bài học cũ để học sinh vừa học kiến thức mới, vừa ôn tập kiến thức cũ đã học.
Ví dụ minh họa : Sơ đồ tư duy ôn tập Vật lý 8 chương 1 để chuẩn bị kiểm tra 1 tiết
Sơ đồ tư duy, là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,
Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh). Có thể vận dụng sơ đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì...
Giáo viên có thể tổ chức một số hoạt động khác sau đây khi sử dung sơ đồ tư duy trong dạy học vật lý:
Hoạt động 1: Lập sơ đồ tư duy : Mở đầu bài học, giáo viên có thể cho học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm hay cá nhân với các gợi ý của giáo viên.
Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy :  Cho một vài học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập. Qua hoạt động này vừa biết rõ việc hiểu kiến thức của các em vừa là một cách rèn cho các em khả năng thuyết trình trước đông người, giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn, đây cũng là một trong những điểm cần rèn luyện của học sinh hiện nay.
Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện sơ đồ tư duy : Tổ chức cho học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư duy về kiến thức của bài học. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư duy về hình thức, từ đó dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm của bài học.
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy : Giáo viên cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức bài học thông qua một sơ đồ tư duy do giáo viên đã chuẩn bị sẵn (vẽ ở bảng phụ hoặc ở bìa), hoặc sơ đồ tư duy mà các em vừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện. Giáo viên có thể giới thiệu sơ đồ tư duy khác của học sinh chuẩn bị ở nhà bằng phần mềm mind – map (vì sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học sinh có chung 1 kiểu sơ đồ tư duy, Giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức – nếu cần). 
Khi học sinh đã thiết kế sơ đồ tư duy và tự “ghi chép” phần kiến thức như trên là các em đã hiểu sâu kiến thức và biết chuyển kiến thức từ sách giáo khoa theo cách trình bày thông thường thành cách hiểu, cách ghi nhớ riêng của mình.
Ví dụ minh họa : Sơ đồ tư duy của 2 hoc sinh nhưng nội dung bài học vẫn giống nhau)
Có thể tóm tắt một số hoạt động dạy học trên lớp với sơ đồ tư duy:
Hoạt động 1: học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm hay cá nhân với gợi ý của giáo viên.
Hoạt động 2: học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập. 
Hoạt động 3: học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư duy về kiến thức của bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
Hoạt động 4: củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc một sơ đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó. 
Lưu ý: Sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học sinh có chung một kiểu sơ đồ tư duy, Giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức, góp ý thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức (nếu cần).
Sử dụng sơ đồ tư duy sẽ dễ dàng hơn trong việc phát triển ý tưởng, tìm tòi xây dựng kiến thức mới. Nhờ sự liên kết các nét vẽ cùng với màu sắc thích hợp và cách diễn đạt riêng của mỗi người, Sơ đồ tư duy giúp bộ não liên tưởng, liên kết các kiến thức đã học trong sách vở, đã biết trong cuộc sống để phát triển, mở rộng ý tưởng. Sau khi học sinh tự thiết lập sơ đồ tư duy kết hợp việc thảo luận nhóm dưới sự gợi ý, dẫn dắt của giáo viên dẫn đến kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, tự nhiên.
Có thể tóm lược sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý như sau:
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kiến thức mới giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả 100% học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Với sản phẩm độc đáo “kiến thức và hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng ngày của học sinh và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh học sinh khi chứng kiến thành quả lao động của học sinh của mình. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Trước đây, các tiết ôn tập chương một số giáo viên cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ, và cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tài liệu, chứ không phải do học sinh tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét. Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý bước đầu tạo một không khí sôi nổi, hào hứng của cả thầy và trò trong các hoạt động dạy học của nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đẩy mạnh triển khai.
Sơ đồ tư duy một công cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, bảng phụ, bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy, hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy. Với trường có điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt có thể cài vào máy tính phần mềm Mindmap cho giáo viên và học sinh sử dụng, bằng cách vào trang web www.download.com.vn gõ vào ô “tìm kiếm” cụm từ Mindmap, ta có thể tải về bản demo ConceptDraw MINDMAP 5 Professional, phần mềm này không hạn chế số ngày sử dụng và việc sử dụng nó cũng khá đơn giản.
Phần III. KẾT QUẢ,BÀI HỌC VÀ KIẾN NGHỊ 
1. Kết quả đạt được 
Qua một năm thực hiện đề tài SNKN “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý 8’’để chấm dứt việc đọc chép và nhìn chép theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo” tôi nhận thấy tiết học đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều so với cách dạy truyền thống là đọc chép hoặc một tiết dạy chỉ sử dụng bằng bài giảng điện tử cho học sinh nhìn chép.
Thực tế qua các tiết dự giờ thao giảng do Sở GD&ĐT và phòng GD&ĐT tổ chức hoặc dự giờ giáo viên ở trường, chúng tôi thấy giáo viên thường sử dụng tài liệu ôn tập in sẵn cho học sinh và các em chỉ ngồi nghe giáo viên hoặc các bạn thuyết trình minh họa. 
Xem phim mãi, thảo luận một cách thụ động máy móc, xem bài giảng điện tử mãi học sinh dần dần cũng không còn cảm hứng say mê học tập mà chỉ ngồi nghe thầy cô, bạn bè nói xong hết tiết học các em cũng chẳng còn nhớ bao nhiêu vì bản thân các em cũng ít được tham gia trực tiếp vào quá trình dạy học.
Sử dụng sơ đồ tư duy trong giờ dạy Vật lý sẽ bắt buộc tất cả 100% học sinh đều phải động não, sáng tạo và chỉ trong một tờ giấy các em có thể trình bày nội dung của bài học. Học sinh sẽ tự khám phá và khi tạo được một tác phẩm đẹp, ý tưởng hoàn chỉnh được giáo viên và các bạn ngợi khen sẽ phấn khởi rất nhiều.
Các em khác cũng sẽ cố gắng tự hoàn thiện mình và mỗi học sinh có một tính cách, một ý tưởng rất khác nhau khi trình bày sơ đồ tư duy của mình nhưng điều quan động là các em biết cách tự ghi chép đầy đủ nội dung bài học để học ở nhà có thể trinh bày trước tập thể lớp và ghi nhớ lâu kiến thức bài học.
100% học sinh lớp 7 và lớp 8 do tôi giảng dạy đều biết cách thực hiện sơ đồ tư duy môn Vật lý. Nhiều em sử dụng thành thạo phần mềm mind – map và ứng dụng vào môn học khác. Lúc đầu các em vẽ sơ đồ tư duy chưa quen theo cách ghi ký tự ở từng nhánh, nhưng dần dần học sinh đã đạt yêu cầu tốt hơn. Đặc biệt học sinh lớp 8 chỉ cần 2 sơ đồ tư duy tổng kết ,còn học sinh lớp 7 cần 3 sơ đồ tổng kết và thêm mỗi bài học một sơ đồ tóm tắt kiến thức bài học là tác phẩm do tự tay mình thiết lập nên giống như các bức tranh sinh động nhiều màu sắc hấp dẫn đẹp mắt ,các em có thể tự ôn tập thi học kì dễ dàng.
2. Bài học kinh nghiệm 
Môn Vật lý cũng như nhiều môn học khác đòi hỏi sự chăm chỉ trong quá trình học tập. Sự đầu tư thời gian và công sức để học là một trong những nhân tố quan trọng làm nên thành công.
Để học sinh yêu thích học Vật lý thì cần có sự quan tâm đúng mức của xã hội. Một dân tộc có truyền thống tôn sư trọng đạo,thông minh,ham học hỏi, vươn lên sáng tạo trong học tập ,nhanh chóng tiếp thu cái mới tiến bộ của thế giới thì sẽ có những học sinh yêu thích học Vật lý và các môn học khác.
Giáo viên dạy môn Vật lý trước hết phải có lòng yêu nghề và có kiến thức sâu về chuyên môn. Dạy vô cảm thì hậu quả học trò học vô cảm. Vì vậy các thầy cô cần phải dạy học trò không bằng trái tim mà cả khối óc nữa. Dạy bằng trái tim là để truyền sự rung cảm. Dạy bằng khối óc là để truyền đạt tri thức.Làm cho học sinh thấy được học vật lý áp dụng khoa học kĩ thuật mới hiện đại vào xây dựng đất nước có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của quốc gia dân tộc.Cần cho học sinh thấy học Vật lý không có giới hạn mà là học suốt đời như các môn học khác. Các em có thể học bất cứ lúc nào nếu muốn miễn là lòng đam mê với khoa học là không có giới hạn.Làm cho học sinh thấy được học Vật lý có lợi cho nghề nghiệp của mình sau này.  
Khi dạy học các thầy cô không nên quá cứng nhắc về phương pháp, mà phải có sự linh hoạt trong từng bài giảng. Không dạy theo kiểu “thầy đọc trò chép”, vì hậu quả của nó là đến khi đi thi học trò sẽ “chép hết gì thầy đã đọc”. Nên dạy cho học sinh cách phân tích, đánh giá để học sinh thực sự nhập cuộc vào bài học, chủ động trong lối suy và cách nghĩ. Dạy học theo sơ đồ tư duy mỗi nhóm sẽ cùng nhau hình thành một tác phẩm sơ đồ tư duy theo ý tưởng riêng của từng học sinh hoặc từng nhóm rất đa dạng phong phú và hấp dẫn tất cả học sinh cả lớp cùng tham gia. Chúng ta cần đa dạng hóa cách dạy và cách học. Dạy học mà khuôn cứng là bóp chết lòng đam mê học tập của học trò.
Trước hết giáo viên phải tạo tâm lý thoải mái cho học sinh thì học mới có hiệu quả.
Để nắm bắt được nội dung một bài cần đọc sách giáo khoa theo kiểu đọc 5 lần. Không phải đọc oang oang làm tốn sức, mà nên đọc bằng mắt.
Đọc lần 1, học sinh nên đọc nhanh để nắm bắt nội dung cơ bản, để xác định các ý chính. 
Đọc lần 2, học sinh chậm hơn để xác định chính xác bài gồm có bao nhiêu ý chính, và nắm bắt sơ bộ các ý nhỏ. 
Đọc lần 3, học sinh đọc kỹ bài để xác định chính xác lại các ý chính, nắm cơ bản các ý nhỏ. 
Đọc lần 4, học sinh gập sách vở lại và tự đọc bằng đầu để kiểm định lại xem đã nhớ được những gì, có thể có bạn tự viết lại ra giấy cũng được. 
Đọc lần 5, học sinh mở sách vở ra để xem lại toàn bộ, lần đọc này sẽ giúp học sinh phát hiện được những chỗ mình còn thiếu sót. Cứ sau năm bài nên đọc lại từ đầu để nhớ tốt hơn.
Cách đọc, học này sẽ giúp học sinh nhớ lâu hơn, tiết kiệm được thời gian hơn. Một học sinh có thể mất từ 2- 3 giờ để nhớ được một bài có độ dài từ 3- 5 trang sách, nhưng nếu áp dụng cách đọc trên thuần thục qua sơ đồ tư duy, có thể chỉ mất khoảng 30 phút
Tập trả lời các câu hỏi có sẵn trong sách giáo khoa. Nếu câu nào không hiểu, chưa hiểu rõ thì có thể hỏi thầy cô, hoặc thảo luận cùng bạn bè.
Học theo trình tự trong sách, vì các kiến thức trong sách giáo khoa rất quan trong để học sinh biết câu hỏi nằm trong giai đoạn nào, cần tránh học theo kiểu tùy tiện thích học bài nào học trước thì học. Học vật lý cần phải học theo trình tự sách giáo khoa ,phải xác định phần nào cũng quan trọng như nhau để tránh tình trạng học sinh học tủ.
Sau khi nhận đề thi, học sinh cần đọc kỹ lưỡng các câu hỏi trong đề thi và không nên vội vã làm bài ngay.
Khi phân tích câu hỏi cần phải xem giới hạn thời gian, không gian, đối tượng và nội dung câu hỏi đề cập đến để tránh trả lời thừa hay thiếu.
Đối với những câu hỏi cần phải tổng hợp kiến thức, cần phải xác định rõ xem những nội dung trả lời nằm ở những bài nào.
Nhiều học sinh có thói quen là viết nháp hết các nội dung trả lời ra giấy rồi viết lại vào trong bài. Không nên làm theo cách này, vì sẽ rất mất thời gian chép lại. Có học sinh chép lại không kịp vì hết giờ làm bài. Tốt nhất là học sinh đọc kỹ câu hỏi, sau đó viết ra các ý chính và những ý nhỏ đi theo từng ý chính.
3. Kiến nghị 
Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo triết lý lấy người học làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết. Bản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học.
Để làm được điều đó thì vấn đề đầu tiên mà người giáo viên cần nhận thức rõ ràng là quy luật nhận thức của người học. Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến thức” một cách thụ động.
Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh, sinh viên học tập một cách thụ động khả năng tư duy. Học thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng, học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy, cô lập nội dung của các môn, phân môn mà chưa có sự liên hệ kiến thức với nhau vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống. Sử dụng sơ đồ tư duy giúp các em giải quyết được các vấn đề trên và nâng cao hiệu quả học tập.
Sơ đồ tư duy chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới để mỗi cá nhân có thể hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy theo nhóm đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào của sơ đồ tư duy và tổng quan toàn bộ kết quả của nhóm ra sao. Điều này giúp tiết kiệm thời gian làm việc trong nhóm do các thành viên không mất thời gian giải thích ý tưởng của mình thuộc ý lớn nào. 
Sơ đồ tư duy là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi nó tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể. Mỗi thành viên đều rèn luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học. Sử dụng sơ đồ tư duy giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống. Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn. Chỉ cần nhìn vào sơ đồ tư duy, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học.
Sơ đồ tư duy cung cấp cho ta cái nhìn chi tiết và cụ thể. Khi mọi người tập trung vào chủ đề ở giữa thì bộ não của mỗi thành viên đều hướng tới trọng tâm tạo nên sự đồng thuận tập thể, cùng hướng tới một mục tiêu chung và định hướng được kết quả.
KẾT LUẬN
Sử dụng thành thạo và hiệu quả sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên. 
Học sinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một “sơ đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức.
Việc sử dụng các phần mềm mind mapping sẽ làm cho công việc lập sơ đồ tư duy dễ dàng và linh hoạt hơn, đồng thời, đây cũng là một bước tiến trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả của công tác dạy học.
Có thể tóm lược sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học vật lý như sau:
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kiến thức mới giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả 100% học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng ngày của học sinh và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh học sinh khi chứng kiến thành quả lao động của học sinh của mình. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Trước đây, các tiết ôn tập chương một số giáo viên cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ, và cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tài liệu, chứ không phải do học sinh tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét.Bước đầu tạo một không khí sôi nổi, hào hứng của cả thầy và trò trong các hoạt động dạy học của nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đẩy mạnh triển khai.
Sơ đồ tư duy một công cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, bảng phụ, bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy, Bước đầu cho phép kết luận: Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật lý ở trường THCS sẽ dần dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình, xem phim minh họa có tính khả thi cao góp phần đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THPT và THCS kể từ năm học 2012 – 2013.
 Phương Trung, ngày 09 tháng 04 năm 2017
 Người viết,
 Nguyễn Thị Thanh Tâm
MỤC LỤC
PHẦN I.MỞ ĐẦU 	3/30
1. Lí do chọn đề tài 	3/30
2. Mức độ nghiên cứu đề tài 	4/30
3. Đối tượng, khách thể, phạm vị nghiên cứu 	4/30
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 	4/30
5. Kết cấu của đề tài 	 6/30
PHẦN II.NỘI DUNG 	 7/30
1 Nêu thực trạng của vấn đề 	7/30
1.1.Thuận lợi 	 8/30
1.2. Khó khăn 	10/30
2.Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính	 11/30
2.1. Thực trạng và giải pháp	 15/30
2.1.1 Giảng dạy sơ đồ tư duy nhằm tăng tính tích cực trong HS	 15/30
2.1.2 GV trở thành người hướng dẫn hỗ trợ	 16/30
2.1.3 Những lưu ý HS khi sử dụng sơ đồ tư duy	 19/30
3. Giảng dạy và học tập với công cụ sơ đồ tư duy	 20/30
3.1 Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy	 20/30
3.2 Nguyên lý và ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học	 20/30
3.3 Giới thiệu một số phần mềm để tạo sơ đồ tư duy	 22/30
4. Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy	 22/30
Phần III. KẾT QUẢ,BÀI HỌC,KIẾN NGHỊ	 22/30
1. Kết quả	 23/30
2. Bài học kinh nghiệm	 24/30
3. Kiến nghị	 25/30
KẾT LUẬN 	26/30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 	29/30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bản đồ Tư duy trong công việc – Tony Buzan – NXB Lao động – Xã hội.
2. www.mind-map.com (trang web chính thức của Tony Buzan)
3. www.peterussell.com/mindmaps/mindmap.htm
4. Bài giảng của ThS Trương Tinh Hà về Mind Mapping và các Kỹ năng giải quyết vấn đề.
5. Lớp tập huấn của Bộ GD&ĐT hướng dẫn sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học (xem phim hứng dẫn đính kèm)
6. Hướng dẫn sử dụng phần mềm sơ đồ tư duy (xem phim minh họa)
7. Phim giới thiệu một số giáo viên và học sinh các trường THPT, TTGDTX áp dụng thành công việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học của đài truyền hình (gửi kèm theo SKKN)
8. Trần Đình Châu, Sử dụng Bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập Tạp chí Giáo dục, kì 2, tháng 9-2009.
9. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy; Bản đồ tư duy – công cụ hiệu quả hỗ trợ dạy học và công tác quản lý nhà trường, Báo Giáo dục&Thời đại, số 147 ngày 14/9/2010
 NHẬN XÉT ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

File đính kèm:

  • docskkn_so_do_tu_duy_day_ly_8.doc
Sáng Kiến Liên Quan