Một số phương pháp kích thích hứng thú học tập môn Tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở

Ngày nay xã hội đang ngày càng phát triển, việc học tập, tiếp thu, lĩnh hội tri thức nhân loại đang là nhu cầu cấp thiết của từng người. Để mỗi người dễ dàng tiếp cận với nguồn tri thức dồi dào đó, Tiếng Anh là phương tiện không thể thiếu. Do đó, việc học tiếng Anh đang ngày càng được xã hội quan tâm hơn đặc biệt là thế hệ trẻ. Quan điểm phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng ta được thể hiện rất rõ ràng trong văn kiện đại hội IX: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. (Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2001- Trang 108- 109).

Như chúng ta đã biết, việc học Tiếng Anh đang là xu hướng của thời đại công nghệ phát triển như hiện nay. Tuy nhiên, Tiếng Anh là một ngoại ngữ, không phải là tiếng mẹ đẻ, do đó việc giảng dạy Tiếng Anh đã là một việc khó, để học sinh tiếp thu và vận dụng Tiếng Anh vào thực tiễn của cuộc sống lại là việc làm khó khăn hơn. Học sinh cần phải lĩnh hội, tiếp thu và vận dụng tốt các kỹ năng nghe – nói – đọc – viết thông qua các hoạt động giao tiếp có mục đích. Chính vì những lí do trên, giáo viên phải có những kỹ năng, phương pháp riêng, phải luôn học hỏi, tìm tòi, sáng tạo để truyền đạt kiến thức cho học sinh. Điều đầu tiên giáo viên phải làm là tạo cho học sinh sự hứng thú, ham muốn học tập, tạo sự tò mò và muốn biết được những điều mình sắp được học. Việc thiết lập, tạo những tình huống đưa học sinh hướng vào chủ điểm, nội dung của bài học là cả một nghệ thuật của người giáo viên.

 

docx19 trang | Chia sẻ: thuhong87 | Ngày: 05/03/2019 | Lượt xem: 1499 | Lượt tải: 18Download
Bạn đang xem tài liệu "Một số phương pháp kích thích hứng thú học tập môn Tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tối đa mà còn phải sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Đây là cách dạy nhẹ nhàng nhất, dễ hiểu nhất nhưng kết quả đạt được rất cao và rất phù hợp với đối tượng học sinh trung học cơ sở.
Ví dụ: Khi dạy Unit 3: At home – English 6, để dạy các từ:
a living room: một phòng khách
an armchair: một cái ghế bành
a couch : một cái ghế sa lông dài.
a book self : một cái giá sách.
a television: một cái ti vi
a stereo: một giàn/máy nghe nhạc
Giáo viên có thể dùng tranh trong sách hoặc phóng to các bức tranh nói về các đồ vật trên lên một tờ giấy to và treo lên bảng nhằm tạo sự chú ý của học sinh vào bài học. Sau đó giáo viên đưa ra các câu hỏi để gợi mở cho học sinh nói về chủ đề của bài.
GV: Em hãy nhìn vào tranh và cho cô biết các vật dụng trong bức tranh thường được sử dụng ở đâu? 
HS: ở nhà.
Þ Giáo viên giới thiệu chủ đề “My house” (nhà của tôi). 
Sau phần mở bài giáo viên có thể sử dụng các bức tranh trên để giới thiệu từ mới theo các bước sau:
- Giáo viên treo tranh lên bảng:
- Giáo viên yêu cầu học sinh nói về tên của các đồ vật ở trong tranh bằng Tiếng Việt, sau đó giáo viên hướng dẫn cách đọc và viết bằng Tiếng Anh tương ứng.
Telephone
Television 
Couch
Bookself
...
Ngoài việc sử dụng các đồ dùng trực quan để giới thiệu từ mới, chủ đề hay tình huống của bài, giáo viên có thể sử dụng chúng để củng cố bài học nhằm giúp cho học sinh khắc sâu hơn nội dung của bài và học sôi nổi hơn.
Ví dụ: Unit 5: Part B. It’s time for recess (Giờ ra chơi) - English 7.
	Sau khi dạy xong bài học, giáo viên có thể sử dụng tranh để củng cố lại từ mới cũng như củng cố lại kiến thức mà các em đã học trong bài bằng cách:
 - Giáo viên treo tranh nói về các hoạt động tiêu biểu trong giờ ra chơi lên trên bảng.
- Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh gấp sách vở lại, nhìn vào tranh và nói về hoạt động của các bạn học sinh trong giờ ra chơi.
Ví dụ: 	Picture a - Student says: the girls are skipping
	 Picture b - Student says: the boys are talking
	Qua thực tế giảng dạy trên lớp, tôi thấy các giáo cụ trực quan luôn làm cho giờ học sôi nổi, đạt hiệu quả cao và gây được hứng thú đối với học sinh trong giờ học.
2. Phương pháp khêu gợi trí tò mò và tính ham hiểu biết của học sinh.
	Đối với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở sự tò mò và tính ham hiểu biết của các em rất lớn nên các em dễ bị lôi cuốn vào những vấn đề mà chúng quan tâm.
	Do vậy, khi biên soạn sách giáo khoa Tiếng Anh từ khối 6 đến khối 9 các nhà biên soạn sách hiện hành đã tập trung vào những chủ đề gần gũi, sát thực với học sinh, phù hợp với trình độ, tâm lí lứa tuổi, nhu cầu, sở thích cũng như vốn sống của các em.
Ví dụ 1: Khi nói đến chủ đề về công việc hàng ngày (Unit 5 – English 6) có các chủ điểm sau:
My day (một ngày của tôi)
My routime (công việc thường nhật của tôi)
Nói đến chủ đề về đồ ăn và đồ uống có các chủ điểm như:
- Food and Drink (Unit 10 – English 6)
- At the store (Unit 11 – English 6)
- Our food (Unit 12 – English 7)
Nói về chủ đề địa điểm (places)
(A) Our house ( Nhà của tôi)
(C) Around the house (Xung quanh ngôi nhà)– (Unit 6– English 6) hay Asking the way ( Unit 8 – English 7)
Nói về chủ đề bạn bè – My friend. – (English 8)
Hay nói về chủ đề nghỉ ngơi: Unit 14: Summer Vacation (English 6)
Vacation destinations ( Unit 14 – English 6)
A holiday in Nha Trang ( Unit 9 – English 7)
Þ Tất cả các chủ đề này đều gây hứng thú cho học sinh và khêu gợi được ở các em tính tò mò rất cao. Vì vậy giáo viên phải biết cách đưa ra các tình huống để lôi cuốn các em vào chủ đề của bài cũng như những hoạt động ở trên lớp. 
 	Ví dụ1: Khi muốn giới thiệu chủ đề 
 “ How do you feel ?” Unit 10 ( English 6) 
Để lôi cuốn sự chú ý của học sinh vào bài học, giáo viên vừa hành động (uống nước) vừa nói. “I’m thirsty” – cô khát. Sau đó, giáo viên hỏi học sinh “How do you feel?” - Em cảm thấy thế nào? học sinh trả lời “ Em nóng”, “em mệt” ,
Þ Giáo viên giới thiệu bài.
	Như vậy học sinh sẽ nhanh chóng hiểu được yêu cầu của giáo viên và dễ dàng thực hành.
	Student 1: I’m hot.
	Student 2: I’m tired.
Ví dụ 2: Khi dạy Unit 12: “Sports and Pastime” - Thể thao và các trò giải trí (English 6) để thu hút được sự chú ý của học sinh vào hoạt động trên lớp, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi.
	T: Do you like sports? (Các em có thích thể thao không?)
	Ss: Yes, we do (có)
	T: Vậy hôm nay chúng ta sẽ nói về chủ đề: “Thể thao và các trò giải trí”.
	Sau đó giáo viên giới thiệu cho học sinh một số từ mới nói về các môn thể thao và hướng dẫn cách đọc cho các em.
	Tiếp theo, để lôi cuốn học sinh vào hoạt động thực hành, giáo viên có thể làm mẫu.
	T: I play volleyball và hỏi: Which sport do you play?
	(Tôi chơi bóng chuyền)	(Em chơi môn thể thao nào?)
	Học sinh sẽ dễ dàng hiểu được yêu cầu của giáo viên và thực hành.
	Student 1: I play soccer.
	Student 2: I play badminton, ...
Ví dụ 3: Khi dạy Unit 6: Part B. It’s time for recess : (English 7)
	Sau khi học xong phần B1 về những hoạt động mà học sinh Việt Nam thường làm sau giờ học. Ở phần B2 học sinh sẽ được học một bài đọc nói về những hoạt động của học sinh Mỹ trong thời gian rãnh rỗi. Để khêu gợi trí tò mò của học sinh vào bài học giáo viên có thể hỏi như sau:
	T: Do you know what students in the USA like to do in their free time?
(Các em có biết học sinh ở Mỹ thích làm gì vào lúc rỗi không?)
	SS: guess the activities (đoán hành động)
	T: Now look at the pictures given and compare with your guessing.
Chắc chắn học sinh sẽ rất thích thú và tò mò muốn biết các bạn học sinh Mỹ thường tham gia hoạt động gì lúc rảnh rỗi.
3. Phương pháp thúc đẩy động cơ học tập của học sinh
Như đã nói ở trên, học sinh chỉ có được động cơ học tập khi các em cảm thấy hứng thú đối với môn học và thấy được sự tiến bộ của mình. Do vậy, ngoài việc sử dụng các tình huống thách đố nhằm hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào những hoạt động trên lớp, giáo viên còn phải biết khích lệ, động viên các em trong học tập.
	Để giúp các em nhận thấy được sự tiến bộ trong học tập, giáo viên cần phải chú ý đến tính vừa sức trong dạy học, tránh không nên đưa ra những yêu cầu quá cao đối với học sinh. Ngoài ra giáo viên cần khuyến khích học sinh học theo phương châm thử nghiệm và chấp nhận mắc lỗi trong quá trình thực hành.
	 Thực tế cho thấy, có những học sinh biết nhưng không dám nói vì sợ bị mắc lỗi. Một số em khác không dám giơ tay phát biểu vì sợ nói sai bị các bạn cười, cô giáo chê. Theo tôi đây chính là yếu tố tâm lí mà giáo viên dạy ngoại ngữ cần phải xem xét để giúp các em có được hứng thú học tập hay ít ra là tích cực hơn trong các giờ học. Trong quá trình dạy, giáo viên không nên quá khắt khe với những lỗi mà học sinh mắc phải (Ví dụ: lỗi phát âm, lỗi chính tả, thậm chí là lỗi ngữ pháp) để tránh cho các em tâm lí sợ mắc lỗi khi thực hành.
Ví dụ: Trong khi thực hành, học sinh nói:	 She play badminton 
hoặc We has a dog, ....
Thay vì ngắt lời khi các em để sửa lỗi, giáo viên có thể để cho học sinh trả lời xong, giáo viên khích lệ hay cổ vũ các em bằng những câu như: “Very good”, “thank you” or “ not bad”,  Sau đó giáo viên gọi học sinh khác nhận xét và sửa lỗi cho bạn hoặc giáo viên sửa lỗi để tránh làm cho các em nhụt chí hay mất hứng thú luyện tập.
4. Phương pháp sử dụng các trò chơi trong giảng dạy ngoại ngữ
Việc biết sử dụng các trò chơi trong giảng dạy Ngoại ngữ nhằm tạo cho học sinh có hứng thú trong học tập đối với môn học. Vì vậy giáo viên cần phải biết vận dụng các trò chơi trong các bài dạy để cho học sinh “học mà chơi, chơi mà học”. Tuy nhiên, tuỳ vào từng bài cụ thể mà giáo viên có thể chọn ra trò chơi phù hợp với mục đích của bài học.
4.1. Hình thức trò chơi dùng để giới thiệu từ mới 
Nhằm tránh việc cung cấp từ mới cho học sinh theo một khuôn khổ, không sinh động, thông qua các trò chơi chúng ta có thể lồng ghép từ mới vào các trò chơi. Từ đó giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn các từ mà học sinh đã học.
Ví dụ 1: Khi dạy Unit 11: What do you eat? Phần B1 ở lớp 6, thay vì cung cấp từ cho học sinh theo những cách thông thường như tạo tình huống, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, hình ảnh, cử chỉ,.. thì giáo viên có thể cung cấp các từ sẽ được nghe trong bài qua trò chơi “Bingo”. Giáo viên cho học sinh 12 từ chỉ các thức ăn và đọc to các từ này một lần sau đó cho học sinh chọn 5 từ trong số 12 từ này và chép chúng vào giấy riêng của mình. Sau đó giáo viên đọc to các từ này không theo thứ tự. Mỗi lần đọc như vậy học sinh sẽ khoanh tròn những từ mà chúng có trong giấy. Học sinh nào có đủ 5 từ trước nhất sẽ hô to “Bingo” và là người thắng trò chơi.
 BINGO
 fish, rice, vegetables, 
 bananas, water, soda, orange, meat,
 noodles, chicken, milk, apple
Ví dụ 2: Trong Unit 13: festivals, phần Read (lớp 8), giáo viên có thể sử dụng trò chơi “networks” để giới thiệu từ mới.
4.2. Hình thức dùng trò chơi để kiểm tra từ mới:
Giáo viên có thể sử dụng trò chơi “Jumble words” để kiểm tra từ mới của học sinh. Giáo viên cho một bảng từ trong đó các từ đã bị đảo lộn các chữ cái. Gọi một vài học sinh lên bảng và viết lại các từ đúng nghĩa của nó. Người thắng sẽ là học sinh hoàn thành công việc đúng nhất và sớm nhất.
JUMBLE WORDS
Ví dụ 1 : Unit 6: Places, phần A1, lớp 6. Giáo viên có thể sử dụng trò chơi “Jumple words” để kiểm tra các danh từ mà học sinh đã được học ở tiết trước.	 	 	 
aelk ohtel 
dray retes
vrier wfleros 
lake
hotel
trees
yard
river
flowers
 Ví dụ 2: Khi kiểm tra từ mới trong Unit 6: Paces lớp 6, phần A, giáo viên có thể cho học sinh chơi trò “word square” để học sinh tìm ra các danh từ chỉ địa diểm, nơi chốn. Giáo viên chia lớp thành các nhóm tùy theo số lượng học sinh của lớp. Tổ nào hoàn thành sớm nhất sẽ chiến thắng trong trò chơi này. 
H
O
T
E
L
B
V
W
Z
O
C
Z
L
R
A
S
K
O
U
T
I
E
N
S
K
I
O
S
A
V
T
A
C
P
E
M
E
I
M
L
Y
M
Q
A
C
R
I
C
E
P
A
D
D
Y
	hotel, rice paddy
	house, zoo
  city, lake
 river, class
4.3. Hình thức dùng trò chơi dùng để thiết lập tình huống, dẫn dắt đưa vào chủ đề bài học
Đây cũng là hình thức luyện cho học sinh có khả năng nói, giao tiếp đồi đáp những điều thực tế trong cuộc sống.
Ví dụ 1 : Khi dạy Unit 9: A first – aid course phần “Write”, lớp 8. Giáo viên có thể trò chuyện, trao đổi với học sinh về chủ đề viết một lá thư cảm ơn:
	T: Have you ever written a thank – you note?
S: Yes, I have / No, I haven’t 
T: When you write a thank-you note, what should be mentioned in the letter?
S: Date, time, to whom, what my friends gave me, on what vacation, what it was like, how I felt. 
T: (T introduces the lesson): today we’ll learn how to write a thank- you note
Ví dụ 2: Trong Unit 2: Clothing (Lớp 9) để giới thiệu chủ đề của bài học, giáo viên có thể sử dụng trò chơi “crossword”. Học sinh được chia thành các nhóm và lựa chọn hàng ngang để trả lời câu hỏi. Nếu trả lời đúng thì ghi điểm, nếu trả lời sai thì nhường phần trả lời cho nhóm khác. Nếu trả lời đúng hàng dọc thì được số điểm cao hơn (tùy theo giáo viên). Nhóm nào đạt nhiều điểm hơn sẽ chiến thắng.
1
C
A
M
B
O
D
I
A
2
P
E
N
P
A
L
3
S
C
H
O
O
L
4
T
H
A
I
L
A
N
D
5
C
H
I
N
A
6
S
I
N
G
A
P
O
R
E
7
C
U
R
R
E
N
C
Y
8
R
E
L
I
G
I
O
N
The country whose capital city is Phnom Penh.
A friend who keeps contact through letters.
A place we go to study.
The country has the beautiful beaches of Phuket and Pattatya.
The country has the largest population in the world.
The country is the smallest among ASEAN members.
The money system is used in a country.
It is belief in superhuman especially in Gods.
4.4. Hình thức dùng trò chơi sử dụng “brainstorming”giúp học sinh động não, suy nghĩ ra các hoạt động hoặc các lĩnh vực mà giáo viên đưa ra
environmental pollution
Garbage dump
deforestation
air pollution
dynamite fishing
Water polution
Spraying pesticides
Ví dụ: Unit 6, phần 1 “Getting started + listen and read”, lớp 9. Giáo viên có thể dùng “networks” chia lớp ra thành hai đội và yêu cầu các đội viết các vấn đề ô nhiễm về môi trường. Trong vòng 2 phút đội nào viết được nhiều hơn sẽ thắng trò chơi.
4.5. Hình thức dùng trò chơi - sử dụng “noughts and crosses” nhằm mục đích giúp cho học sinh ôn lại bài học hoặc một điểm ngữ pháp nào đó
Ví dụ : Unit 4, phần “language focus” lớp 8 nhằm giúp học sinh ôn lại thì quá khứ đơn, giáo viên chia học sinh thành hai đội “noughts” và “crosses”. Hoc sinh ở hai đội lần lượt chọn số và đặt câu với một động từ mà chúng chọn ở hình thức quá khứ đơn. Trong các số này có một số may mắn, học sinh không phải trả lời mà vẫn được ghi điểm. Đội nào đạt được nhiều câu đúng sẽ ghi được nhiều điểm hơn và sẽ là đội chiến thắng 
1
2
3
4
5
6
 7
8
9
10
11
12
1.Do 2. have 3. run 4. take 5. be 6. fly 
 7. come 8. lucky number 9. eat 
 	 10. sit 11. ride 12.go
Ex: 1. I did my homework last night 
4.6. Hình thức dùng trò chơi - sử dụng nhằm giúp học sinh ghi nhớ nhanh những gì chúng được nhìn qua
Ví dụ 1: Sử dụng “ Kim’s game” trong Unit 9, phần “ Getting started + listen and read” lớp 8. Giáo viên cho học sinh nhìn vào bức tranh có 4 người trong tình trạng cần sơ cứu, trong vòng 30 giây. Sau đó giáo viên hỏi học sinh một số câu hỏi. 
How many people are there in the pictrure? (four)
How many boys and how many girls? (Two boys, two girls)
What’s the matter with each person? (a girl has a burn on her arm, a boy has a bad cut on his leg, a girl has a nose bleed, a boy has a bee sting )
Ví dụ 2: Sử dụng trò chơi “Chain game” để kiểm tra sự ghi nhớ các danh từ chỉ món ăn trong Unit 10: Staying healthy và Unit 11: What do you eat? Giáo viên chia lớp thành các nhóm. Giáo viên nói 1 câu, các nhóm lần lượt đặt các câu nối tiếp câu của giáo viên và của nhóm khác. Nhóm nào đặt được nhiều câu chính xác hơn sẽ chiến thắng.
- Teacher: I go to the market, I buy some apples.
- Group 1: I go to the market, I buy some apples and bananas.
- Group 2: I go to the market, I buy some apples, bananas and fish.
.
 	4.7. Hình thức dùng trò chơi - sử dụng “Board race”
Ví dụ : Unit 3, phần “Write” lớp 8 . Mỗi học sinh ở 3 đội lần lượt viết các từ lên bảng theo chủ điểm . Trong vòng 2 phút đội nào có nhiều từ nhất sẽ thắng trò chơi. 
Objects in a bedroom
Objects in a kitchen
Prepositions of position
Desk, bed, ..................
Sink, refrigerator, .........
In, on,....................
	4.8. Hình thức dùng trò chơi - sử dụng “Guessing game”
Ví dụ : Unit 7, phần “Read” lớp 8. Giáo viên cho định nghĩa và yêu cầu học sinh tìm ra các từ.
A place where you can buy everything. ( Supermarket / Maket )
A.........................................vegetable and fruit. ( Grocery )
....................................... ......books ( Bookstore )
 4 . ...................................come and eat . ( Restaurant )
5. .................................. .come to see the movies . ( Movie theater )
Aperson who comes to the store and buys something. ( Customer ) 
4.9. Hình thức dùng trò chơi nhằm tạo không khí vui vẻ trước khi học bài mới
Đối với hình thức này, giáo viên chỉ cần đưa ra vài câu đố cho học sinh, giúp các em vui vẻ, tạo cảm giác thoải mái để học bài mới có hiệu quả cao hơn.
Eg: 	What is the end of “everything”?	(The letter G)
	What has legs but cannot walk? (a table)
	What has teeth but cannot bite? (a comb)
	What am I? 	
	“My face is marked.
	My hands keep moving
	I have no time to play
	I must run all day.” (A clock)
PHẦN 3: HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Qua quá trình thực tế giảng dạy ở các khối lớp, khi áp dụng một số phương pháp kích thích hứng thú học tập môn Tiếng Anh cho học sinh trường THCS Minh Lương vào các tiết học tôi thấy có hiệu quả rõ rệt. 
Thứ nhất, tâm sinh lý của học sinh trong lớp về môn học đã thay đổi rõ rệt. Từ chỗ phần lớp các em không thích môn học, sợ sệt mỗi khi có môn học này thì sau một năm học các em đã có thái độ trái ngược với ban đầu. Biểu hiện: Các em không còn sợ sệt khi tham gia vào các hoạt động học tập, số học sinh giơ tay phát biểu xây dựng bài tăng lên trông thấy. 
Thứ hai, điều quan trong nhất, đó là kết quả học tập của các em tăng lên theo từng tuần.Các phương pháp này có sức lôi cuốn, hấp dẫn học sinh học tập nhiều hơn, gây nên sự hứng thú học tập ở mỗi học sinh, học sinh tập trung vào bài học hơn, giúp cho việc truyền đạt kiến thức của giáo viên có hiệu quả nhiều so với trước, việc tiếp thu bài của học sinh có tiến bộ rõ rệt. Đầu năm có rất nhiều em còn sợ học bộ môn, không thích học vì cho rằng nó khó hiểu, khó tiếp thu, đến nay chất lượng học đã tăng khá đồng đều. Đại bộ phận đa số các em đã thích học môn tiếng Anh, ở các tiết học có phần sôi nổi hơn, lượng học sinh tham gia phát biểu xây dựng bài khá nhiều, góp phần làm cho giờ học sinh động. 
III. KẾT LUẬN
1. Kết luận
Qua thời gian áp dụng một số phương pháp kích thích hứng thú học tập môn Tiếng Anh cho học sinh trường trung học cơ sở Minh Lương, tôi thấy những biện pháp này đóng vai trò hỗ trợ tích cực trong việc giảng dạy ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng. Đây là một số biện pháp hữu hiệu, là động lực thúc đẩy học sinh tích cực tham gia học tập, nghiên cứu, động não bài học. Chúng tạo nên những tình huống, ngữ cảnh, giúp sự luyện tập của học sinh trở nên có ý nghĩa, gây hứng thú, giúp học sinh tập trung tiếp thu bài nhanh, góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh và hiệu quả giảng dạy của người thầy. Như vậy, việc sử dụng trò chơi không chỉ tạo không khí vui vẻ, phần khởi học tập ở học sinh mà còn là một thủ thuật có khoa học, sáng tạo của người giáo viên. Biết lồng ghép sao cho phù hợp với đề tài bài dạy. Kích thích sự say mê học tập, nghiên cứu ở mỗi học sinh. Chúng ta cần nhìn nhận những phương pháp này như một việc làm bổ ích cho các đối tượng học sinh. Mặc dù nó mất khá nhiều thời gian chuẩn bị của giáo viên cho việc thiết kế các trò chơi ở các tiết học. Nhưng chúng ta cũng vì thế hệ trẻ tương lai, vì đất nước mai sau, chúng ta cố gắng làm hết sức mình để đầu tư một vốn kiến thức ngoại ngữ nhất định nào đó cho mỗi học sinh. Giúp học sinh sau này sử dụng vốn ngoại ngữ cơ bản của mình, áp dụng làm nền tảng cho việc thực tập, đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên ngành của chúng cũng như lĩnh hội nguồn tri thức dồi dào của nhân loại. Bởi vì ở thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học công nghệ mà vốn kiến thức tiếng Anh đó là nền tảng cho việc giao lưu, học hỏi với các nước trên toàn thế giới. 
Bài học kinh nghiệm
Khi áp dụng một số phương pháp kích thích hứng thú học tập môn Tiếng Anh cho học sinh trung học sơ sở vào trong tiết học giáo viên cần chú ý các điểm sau:
Sử dụng các phương pháp phải lưu ý tới thời gian.
Sử dụng các hình thức trò chơi đúng mục đích, tình huống, logic của từng bài dạy cụ thể.
Phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh.
Phù hợp với khả năng của giáo viên, môi trường học tập, sinh hoạt thực tế của học sinh.
2. Kiến nghị
- Về phía nhà trường: cần đầu tư hơn nữa về trang thiết bị dạy học môn Tiếng Anh (một số giáo cụ trự quan). Liên đội có thể tổ chức một số hoạt động sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh để lôi cuốn học sinh tham gia và có cơ hội được sử dụng Tiếng Anh nhiều hơn.
- Về phía giáo viên: cần áp dụng linh hoạt các phương pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng đại trà môn Tiếng Anh.
- Về phía phụ huynh học sinh: cần quan tâm hơn nữa đến việc học của con em mình.
- Về phía học sinh: cần tích cực, chủ động hơn nữa trong các hoạt động có sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh, đặc biệt phải chuẩn bị bài ở nhà thật kỹ trước khi đến lớp.
Trên đây là một số kinh nghiệm cũng như quan điểm của cá nhân tôi trong quá trình giảng dạy, đặc biệt là sử dụng một số phương pháp kích thích hứng thú học tập của học sinh trung học cơ sở trong bộ môn Tiếng Anh. Vì nội dung sáng kiến có phạm vi rộng mà thời gian nghiên cứu có hạn nên chưa minh họa được nhiều khía cạnh của môi trường. Rất mong đồng nghiệp cũng như hội đồng nghiệm thu sáng kiến kinh nghiệm góp ý thêm để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn và được áp dụng rộng rãi hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn ! 
Minh Lương, ngày 15 tháng 11 năm 2018
 NGƯỜI THỰC HIỆN 
 Nguyễn Thị Thanh Nga

File đính kèm:

  • docxSKKN mon tieng anh THCS_12480922.docx