Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường THCS - THPT Tây Sơn

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ LỒNG GHÉP

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THÔNG QUA MÔN NGỮ VĂN

TẠI TRƯỜNG THCS-THPT TÂY SƠN

I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sinh thời thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Nghề giáo là nghề cao quý

nhất trong những nghề cao quý”. Quả thật, mỗi người giáo viên chúng ta đã được xã hội

tin tưởng và trân trọng trao cho sứ mệnh dạy dỗ và rèn luyện những thế hệ công dân

tương lai. Trong sự nghiệp trồng người của mình, người thầy không chỉ truyền thụ kiến

thức khoa học cho học trò mà còn là giáo dục dạy dỗ các em về nhân cách đạo đức. Đặc

biệt là đối với bộ môn Ngữ văn- một bộ môn khoa học xã hội thì việc giáo dục học sinh

về sự cảm thông, lòng yêu thương, đoàn kết, ý thức học tập, kính yêu tôn trọng thầy cô,

ý thức về tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức cộng đồng, bảo vệ

thiên nhiên môi trường là một mục tiêu quan trọng. Chính vì vậy, các giáo viên bộ

môn Ngữ văn chúng ta luôn ý thức được tầm quan trọng của việc lồng ghép giáo dục

đạo đức học sinh qua các tiết dạy của mình.

Hơn nữa, hẳn chúng ta đều nhận thấy nề nếp đạo đức học sinh trong ngành giáo

dục nói chung và trong trường THCS-THPT Tây Sơn nói riêng thời gian gần đây đang

có chiều hướng đi xuống. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và sự phát

triển của toàn xã hội, bên cạnh những học sinh có ý thức học tập và rèn luyện đạo đức

tốt thì cũng còn một bộ phận không ít học sinh chưa có ý thức trong học tập và xuống

cấp về đạo đức như cúp tiết, nghỉ học chơi game, nói tục chửi thề, đánh nhau với bạn

bè, vô lễ với thầy cô, đến trường còn vi phạm nội quy, không vâng lời thầy cô giáo.

Trong gia đình, con cái không nghe lời cha mẹ, lười học, lừa dối cha mẹ trốn học đi

chơi, thậm chí bỏ học đang rất phổ biến. Một bộ phận không nhỏ học sinhTHCS -THPT

Tây Sơn cũng đang bị cuốn theo vòng xoáy đó. Đặc biệt là tình trạng bạo lực học đường

đang có chiều hướng gia tăng một cách đáng lo ngại. Trong năm học vừa qua, nhà

trường đã phải cảnh cáo, phê bình và thậm chí là kỉ luật đuổi học một số học sinh. Với

tư cách là những người thầy giáo, cô giáo, bản thân tôi không khỏi cảm thấy trăn trở và

mong muốn được góp sức mình cùng với các giáo viên bộ môn khác, giáo viên chủ

nhiệm, Đoàn-Đội giáo dục học sinh nhằm giúp các em nâng cao ý thức nề nếp đạo đức,

hình thành nhân cách, trở thành những người công dân mẫu mực trong tương lai

pdf11 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 26/10/2018 | Lượt xem: 284 | Lượt tải: 1Download
Bạn đang xem tài liệu "Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường THCS - THPT Tây Sơn", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
trong đánh giá xếp loại cuối năm nên các em không có ý thức rèn luyện. 
- Trước thực trạng đó, tôi nhận thấy vấn đề mình nêu ra là cần thiết và có thể áp 
dụng trong thực tế nhà trường 
III/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP: 
1. Đối với tiết dạy văn bản: 
- Giáo dục các em về tình cảm gia đình. Tình cảm gia đình là một tình cảm đặc biệt 
thiêng liêng đối với mỗi con người. Gia đình chính là điểm tựa quan trọng để học sinh 
rèn luyện và hình thành nhân cách. Thông qua các văn bản : Bức tranh của em gái tôi( 
Ngữ văn 6) Mẹ tôi, Những câu hát về tình cảm gia đình, Tiếng gà trưa ( Ngữ văn 7), 
Trong lòng mẹ, Cô bé bán diêm ( Ngữ văn 8) Bếp lửa,Chiếc lược ngà, Mây và sóng( 
Ngữ văn 9) giáo dục các em tình yêu thương, lòng nhân hậu vị tha, sự hi sinh của cha 
mẹ, sự tôn trọng của con cháu đối với ông bà, cha mẹ và anh chị em 
Ví dụ: Qua tác phẩm “ Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, giáo viên cần 
giáo dục các em về tình cha con thiêng liêng trong chiến tranh, hoặc qua bài “ Mây và 
sóng” của nhà thơ Ta-go, giáo viên cần cho học sinh cảm nhận được tình yêu bao la, 
rộng lớn của người mẹ. Giáo viên cần tích cực, khuyến khích sự liên hệ thực tế cuộc 
sống, hoàn cảnh gia đình học sinhTừ đó hình thành trong các em lòng kính yêu, biết 
ơn cha mẹ, hiểu được ý nghĩa và vai trò của gia đình đối với bản thân mỗi con người. 
Tuy nhiên trong khi giáo dục các em về tình cảm gia đình thì giáo viên cũng cần 
phải chú ý đến những trường hợp học sinh có hoàn cảnh đặc biệt như chú bé Hồng 
trong “ Trong lòng mẹ” ( Ngữ văn 8) như anh em Thành và Thủy trong “ Cuộc chia tay 
của những con búp bê”(Ngữ văn 7) hay như chú bé Xi mông trong văn bản “ Bố của Xi 
mông”( Ngữ văn 9) để tránh tạo cho các em cảm giác tự ti mặc cảm, mà qua đó giáo 
dục các em sự tự tin để vượt qua hoàn cảnh, ý thức vươn lên trong cuộc sống. Đặc biệt 
ở chương trình Ngữ văn lớp 8, văn bản “Cô bé bán diêm” giáo viên cần chú ý đến các 
em học sinh mồ côi, nhất là mồ côi mẹ, để động viên, khích lệ cũng như giáo dục học 
sinh trong lớp cần có sự sẻ chia, quan tâm tới bạn. Giáo viên cần hết sức chú ý những 
Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường 
THCS-THPT Tây Sơn 
[Type text] 
em có hoàn cảnh gia đình đặc biệt vì các em chính là những đối tượng đễ bị tổn thương 
và nhiều em trở thành học sinh cá biệt. 
- Giáo dục các em về tình bạn, tình đồng chí, đồng đội và tinh thần tập thể. 
Thông qua các văn bản : Bạn đến chơi nhà ( Ngữ văn 7) Đồng chí, Những ngôi 
sao xa xôi, Chiếc lược ngà ( Ngữ văn 9) giáo dục các em về tình bạn, tình đồng chí, 
đồng đội và tinh thần tập thể. Giáo viên có thể cho học sinh xem các phim ảnh tự liệu 
về đề tài đồng chí, đồng đội trong chiến tranh. Hoặc giáo viên đặt ra các tình huống đời 
sống về tình cảm bạn bè của học sinh ngày nay với tình cảm đồng đội, đồng chí giữa 
những người lính trong chiến tranh ác liệt từ đó đặt ra vấn đề : Vì sao có những lúc 
các em gây mâu thuẫn, mất đoàn kết thậm chí đánh bạn vì những lí do rất vặt vãnh, tại 
sao không giải quyết bằng tình cảm 
-Giáo dục học sinh về ý thức học tập, xác định mục đích học tập đúng : 
+ Một bộ phận không nhỏ học sinh không có ý thức học tập, xác định mục đích học tập 
chưa đúng đắn, nhiều em vì chán học nên hay cúp tiết, bỏ học đi chơi, dành thời gian 
vào những việc vô bổ khác. Nếu các em ham học, thích học, thì tất nhiên các em sẽ tập 
trung thời gian công sức vào học bài. Cho nên thông qua một số tác phẩm trong chương 
trình: Buổi học cuối cùng ( Ngữ văn 6) Bàn luận về phép học, Tôi đi học (Ngữ văn 8), 
Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới (Ngữ văn 9)chúng ta giáo dục các em ý thức, 
mục đích học tập, lòng tôn trọng đối với thầy cô. Liên hệ bản thân các em đã có ý thức, 
cách học như thế nào, để từ đó các em tự hình thành cho mình động cơ và mục đích 
học tập. Nhất là chúng ta phải đề cao những tấm gương sáng về hiếu học, hoàn cảnh 
khó khăn mà học giỏi như tấm gương của các em Lâm Hoàng Phúc, Lê Thanh Lâm, Lê 
Thanh Hưng. 
 + Và trong thực tế có nhiều học sinh gặp phải khó khăn, sự vất vả là buông xuôi, không 
chịu cố gắng, nhiều em không có lí tưởng và động cơ sống tốt. Nên khi các em học các 
văn bản : Đi đường ( Ngữ văn 8) Rô bin xơn ngoài đảo hoang, Lặng lẽ Sa Pa (Ngữ văn 
9) giáo viên cần giáo dục các em phải có ý chí vượt khó, sống có hoài bão ước mơ, 
có niềm tin vào cuộc sống. Ví dụ qua tấm gương của nhân vật Rô-bin-xơn bị dạt vào 
đảo hoang, sống một mình trong những điều kiện khắc nghiệt nhất mà vẫn lạc quan và 
sắp xếp cuộc sống chu đáo. Hay qua tấm gương nhân vật anh thanh niên trong truyện 
ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của nhà văn Nguyễn Thành Long, giáo viên liên hệ giáo dục học 
sinh về ý thức, lí tưởng sống tố đẹp, sống vì cộng đồng, xã hội.. 
+Với sự phát triển của xã hội thì những giá trị, nét đẹp truyền thống đang ngày càng bị 
giới trẻ lãng quên, thông qua các văn bản như Ông Đồ ( Ngữ văn 8) Một thứ quà của 
lúa non (Ngữ văn 7)  giáo dục các em biết giữ gìn và phát huy những giá trị truyền 
thống tốt đẹp của dân tộc qua các biểu hiện như văn hóa xin chữ nho ngày tết- đề cao 
đạo học của người Việt hay các món ăn dân dã mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc: món 
cốm Làng Vòng 
Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường 
THCS-THPT Tây Sơn 
[Type text] 
+ Trong xã hội mà sự vô cảm đang ngày càng ăn sâu vào trong suy nghĩ, tình cảm của 
thề hệ trẻ thì nhiệm vụ của người giáo viên nói chung và giáo viên Ngữ Văn nói riêng là 
cần phải bồi dưỡng cho học sinh sự xúc cảm, lòng yêu thương, hiểu được giá trị nhân 
đạo thông qua các tác phẩm văn học ở từng thời kì lịch sử như : Thầy thuốc giỏi cốt 
nhất ở tấm lòng, Đêm nay Bác không ngủ (Ngữ vă 6) Bánh trôi nước, Sống chết mặc 
bay(Ngữ văn 7)Tức nước vỡ bờ, Chiếc lá cuối cùng, Cô bé bán diêm (Ngữ văn 8) 
Truyện Kiều,Chuyện người con gái Nam Xương,Lục Vân Tiên (Ngữ văn 9)Qua “ 
Truyện Kiều” của Nguyễn Du và “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn 
Dữ, Truyện “ Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu các em thấy được cảm hứng 
nhân đạo –lòng thương yêu con người sâu sắc, chan chứa để các em trân trọng vẻ đẹp 
của con người, đồng cảm với nỗi đau của nhân vật. Bồi dưỡng tư tưởng cho các em 
biết chia sẻ với những con người tài hoa, bạc mệnh, biết làm việc nghĩa giúp đời 
- Giáo dục các em về lòng yêu nước, truyền thống đánh giặc chống ngoại xâm, 
bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, ý thức cống hiến cho quê hương đất nước, 
lòng biết ơn các thế hệ cha ông đã hi sinh bảo vệ đất nước: 
 Qua các văn bản : Sự tích Hồ Gươm, Sông nước Cà Mau (Ngữ văn 6) Sông núi 
nước Nam, Phò giá về kinh, Qua Đèo Ngang (Ngữ văn 7) Nước Đại Việt ta, Hịch tướng 
sĩ, Quê hương (Ngữ văn 8) Chiếc lược Ngà, Đồng chí, Những ngôi sao xa xôi, Bài thơ 
về tiểu đội xe không kính, Mùa xuân nho nhỏ, Bến quê (Ngữ văn 9)Cho các em trao đổi, 
thảo luận: Khi tương lai đất nước đang hi vọng vào sự cống hiến của thế hệ trẻ hiện 
nay, em có suy nghĩ như thế nào về việc học tập, rèn luyện của bản thân? Những việc 
làm cụ thể đó là gì? Để từ đó các em nhận thức sâu sắc biết sống đúng, sống đẹp là 
cống hiến cho đời.Đặc biệt qua truyện “ Bến quê” của Nguyễn Minh Châu làm cho 
các em tự cảm nhận được những vẻ đẹp bình dị mà quý giá xung quanh mình 
- Giáo dục các em về tình yêu thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Thông qua các 
văn bản : Mùa xuân của tôi, Cảnh khuya, Rằm tháng Giêng ( Ngữ văn 7) Sang thu (Ngữ 
văn 9) Một ngày không dùng bao bì ni lông, Ôn dịch, thuốc lá (Ngữ văn 8) giáo viên 
có thể sử dụng tranh ảnh, băng hình minh hoạ ghi những hình ảnh thiên nhiên bị tàn 
phá, rác thải, cảnh ngập lụt, những người bị viêm phổi nặng do hút thuốc lá  hay là 
những bài báo viết về dân số tăng dẫn đến nạn thất nghiệp để học sinh phát biểu, từ đó 
các em tự nhận thức được vấn đề. 
- Giáo dục các em về lối sống giản dị, có văn hoá, trong cách ăn mặc nói năng 
qua văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ (Ngữ văn 7), Phong cách Hồ Chí Minh 
(Ngữ văn 9), Tức cảnh Pác Bó (Ngữ văn 8) qua thảo luận câu hỏi: Tìm hiểu về cách 
sống của Bác, lối sống giản dị, thanh cao của Bác Hồ đã bồi đắp thêm tình cảm nào của 
chúng ta đối với Bác Hồ. Và cho học sinh liên hệ và nêu bài học từ Bác. Có thể cho học 
sinh thi tìm những câu thơ, câu văn ngoài các văn bản đó nói lên sự giản dị của Bác 
Hồ: 
 -Nơi Bác ở: sàn mây vách gió, 
Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường 
THCS-THPT Tây Sơn 
[Type text] 
 Sớm nghe chim rừng hót quanh nhà, 
 Đêm trăng ,một ngọn đèn khêu nhỏ 
 Tiếng suối trong như tiếng hát xa. 
 -Bác Hồ đó chiếc áo nâu giản dị 
 Màu quê hương bền bỉ đậm đà 
 ( Tố Hữu ) 
Người thường để lại đĩa thịt gà mà ăn hết mấy quả cà xứ Nghệ, 
Tránh nói to và đi rất nhẹ trong vườn 
 ( Viễn Phương) 
- Giáo dục cho học sinh ý thức lao động, tôn trọng giá trị lao động và hình thành cho 
các em hành vi, kĩ năng cơ bản. 
 Hiện nay một bộ phận thanh thiếu niên quen lối sống hưởng thụ, không có ý thức 
lao động và tôn trọng giá trị của lao động của người khác. Cho nên thông qua các văn 
bản: Vượt thác, Cô Tô (Ngữ văn 6) Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất (Ngữ 
văn 7) Rôbinxơn ở ngoài đảo hoang, Đoàn thuyền đánh cá, Lặng lẽ Sa Pa (Ngữ văn 9) 
giáo viên cần giáo dục cho học sinh ý thức lao động, tôn trọng giá trị lao động và hình 
thành cho các em hành vi, kĩ năng cơ bản về lao động sản xuất. 
- Trong các tiết hoạt động Ngữ Văn, giáo viên hướng dẫn các em tập làm thơ theo 
chủ đề. Ví dụ như về mẹ, về tình bạn, tình thầy trò, tình cảm quê hương,  có những 
em có bài thơ rất độc đáo, những giờ học như vậy khiến các em nhớ mãi. Qua đó bồi 
dưỡng tình cảm đạo đức cho các em. 
2. Đối với tiết dạy Tập làm văn: 
- Ở phần Tập làm văn, cách ra đề của giáo viên cũng góp phần giúp các em nhận 
thức đúng đắn về nhiều mặt. Ví dụ ở lớp 7 có làm bài văn biểu cảm cho các em phát 
biểu cảm nghĩ về người thân( với, ông bà ,ba mẹ ,anh, chị ,em), ở lớp 8 có bài viết số 
7, có những đề bài có ý nghĩa giáo dục rất cao: Hãy nói “không” với các tệ nạn xã hội. 
( Gợi ý: Hãy viết một bài nghị luận để nêu rõ tác hại của một trong các tệ nạn xã hội 
mà chúng ta cần phải kiên quyết và nhanh chóng bài trừ như cờ bạc, thuốc lá, tiêm 
chích ma tuý, hoặc tiếp xúc với văn hoá phẩm không lành mạnh,).Qua bài viết này, 
học sinh tự nhận thức được các tệ nạn xã hội như cờ bạc, thuốc lá, tiêm chích ma túy 
là thói hư tật xấu gây ra những tác hại ghê gớm với bản thân, gia đình và xã hội về 
nhiều mặt: Tư tưởng, đạo đức, sức khoẻ, kinh tế, nòi giống Đây là mối nguy cơ trước 
mắt và lâu dài của đất nước, dân tộc. Từ đó các em biết kiềm chế trước những thú vui 
không lành mạnh và chung tay góp sức đẩy lùi, tiến tới đấu tranh tiêu diệt tệ nạn để 
cuộc sống ngày càng trong sạch tốt đẹp hơn. Ở lớp 9, bài viết số 5, có rất nhiều đề bài 
rất gần gũi với đời sống thường nhật, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc ví dụ: “ Trò chơi điện 
Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường 
THCS-THPT Tây Sơn 
[Type text] 
tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì mãi chơi mà sao nhãng học tập và còn 
phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó.” Sau khi gợi ý các 
em làm dàn bài đề này, giáo viên định hướng cho học sinh, tiếp xúc với máy tính không 
phải là không có lợi, nhưng phải biết chỗ lợi, hại đó Hay là đề: Một hiện tượng khá 
phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng. Ngồi bên hồ, dù là 
hồ đẹp nổi tiếng, người ta cũng tiện tay vứt rác xuống  Em hãy đặt một nhan đề để 
gọi tên hiện tượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình. Từ việc hướng dẫn học 
sinh phân tích các nguyên nhân, tác hại thì giúp các em thấm thía một điều: Muốn xây 
dựng một cuộc sống tốt đẹp, văn minh, bản thân mỗi người phải có ý thức giữ gìn, bảo 
vệ phát huy nếp sống “ Mình vì mọi người”, nâng cao trách nhiệm đối với cộng đồng. 
Có như vậy môi trường sống mới trở nên xanh -sạch-đẹp và Trái đất mới thực sự là 
ngôi nhà chung đáng yêu của tất cả nhân loại. 
3. Đối với tiết dạy tiếng Việt: 
- Ở phân môn Tiềng Việt, giáo viên có thể linh động tuỳ theo từng bài để lồng ghép 
giáo dục đạo đức học sinh và ý thức sử dụng tiếng việt, cách xưng hô với mọi người 
trong giao tiếp. Hiện nay một bộ phận học sinh thường sử dụng từ viết tắt, tiếng lóng 
hay mượn những từ tiếng nước ngoài không đúng cách ... trong giao tiếp và viết bài Ví 
dụ như trong bài Rút gọn câu (Ngữ văn 7) giáo dục các em tránh rút gọn câu không 
đúng đối tượng, không phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp như vậy sẽ làm cho mình trở 
thành người thiếu lịch sự. Ta thấy hiện nay nhiều em thường ăn nói trống không, vô lễ... 
Với bài “ Xưng hô trong hội thoại” (Ngữ văn 9) chúng ta cần cho học sinh thấy được 
sự phong phú và tinh tế trong việc sử dụng từ ngữ xưng hô của người Việt, giáo dục các 
em biết dùng từ ngữ xưng hô phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp, nhất là với 
người lớn tuổi, thầy cô, cha mẹ. Với bài:“Câu cảm thán”( Ngữ văn 8) thì cho các em 
viết đoạn văn nói về cảm xúc của em trước sự quan tâm chăm sóc của mẹ, trong đó có 
dùng câu cảm thán ( Tình cảm của mẹ dành cho em sâu sắc biết nhường nào ! ). Hay 
cho các em thi đặt câu hỏi dựa vào các tác phẩm: Lão Hạc, Cô bé bán diêm, Chiếc lá 
cuối cùng (Ngữ văn 8)đặt những câu cảm thán ? Ở chương trình Ngữ văn 9- tập I có 
các tiết Tiếng Việt về phương châm hội thoại, giáo viên cũng chú ý giáo dục học sinh 
tuân thủ phương châm lịch sự khi giao tiếp. 
Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường 
THCS-THPT Tây Sơn 
[Type text] 
IV/ HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 
Trong quá trình thưc hiện đề tài chúng tôi đã khảo sát cho học sinh các lớp mình giảng 
dạy kết quả thu được như sau : 
- Đa số học sinh đã có sự chuyển biến tích cực hơn về ý thức. Nhiều em trước đây có 
những biểu hiện thái độ chưa tốt cũng đã có nhiều thay đổi, trở nên ngoan và có ý thức 
cao hơn. 
- Việc lồng ghép giáo dục về đạo đức cũng giúp tiết dậy Văn của tôi trở nên sinh động 
và hấp dẫn hơn. Học sinh cảm thấy hứng thú và hiểu bài sâu sắc hơn. 
- Các lớp tôi giảng dạy, nề nếp học sinh cũng có tiến bộ hơn. Song vì chỉ là giáo viên bộ 
môn, hơn nữa việc tác động tới nhận thức, thái độ của học sinh không thể có sự thay đổi 
nhanh chóng được nên kết quả còn chưa thể hiện rõ rệt 
Sơ liệu tham khảo 
Trước khi áp dụng: 
Khối 
lớp 
Sỉ số Học sinh có biểu hiện thái độ chưa tốt Tỉ lệ 
% 
6 216 50 23.1 
7 190 60 31.6 
8 175 50 28.6 
9 155 55 35.5 
Sự chuyển bị thái độ học sinh sau khi áp dụng ( số học sinh có biểu hiện thái độ chưa 
tốt đã giảm) 
Khối 
lớp 
Sỉ số Học sinh có biểu hiện thái độ chưa tốt Tỉ lệ 
% 
6 216 25 11.6 
7 190 30 15.8 
8 175 20 11.4 
9 155 20 13.0 
* Số liệu này được tôi khảo sát qua các tiết dạy bộ môn Ngữ văn của mình 
Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường 
THCS-THPT Tây Sơn 
[Type text] 
V/ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 
Trên đây là một số kinh nghiệm về việc lồng ghép giáo dục đạo đức cho học sinh 
thông qua giờ học Ngữ Văn ở Trường THCS-THPT Tây Sơn. Tôi nghĩ rằng việc giáo 
dục đạo đức học sinh trong trường là nhiệm vụ chung của tất cả giáo viên bộ môn, giáo 
viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí 
MinhĐể đạt được kết quả cao cần có sự thống nhất hỗ trợ của tất cả ban nghành, 
đoàn thể. 
 Đồng thời tôi xin kiến nghị một số yêu cầu chung như sau: 
 - Xây dựng kế hoạch cụ thể về nội dung trọng quá trình dạy học và những việc 
cần làm trong năm học, cách thức thực hiện để rèn luyện học sinh. 
 - Tìm hiểu hoàn cảnh từng em bằng cách trao đổi tâm sự với các em, với giáo 
viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn để tìm ra nguyên nhân chính xác để tác động vào tâm 
lí của các em. 
- Thiếu niên là lứa tuổi có nhận thức đa dạng, đang muốn chứng tỏ mình là người 
lớn, lứa tuổi này có tính cảm xúc cao, thoắt vui, thoắt buồn, thích lý sự và hay chống 
đối lại ý kiến của cha mẹ và thầy cô. Đồng thời lứa tuổi này các em không thích sự quản 
lí khắt khe của gia đình. Sẽ rất thuận lợi để giáo dục các em nếu như giáo viên hiểu rõ 
được đặc điểm này và trở thành một người đồng cảm chia sẻ với các em. Rõ ràng là 
không có một phương pháp cụ thể nào cho bất cứ môn học nào ở nhà trường phổ thông 
nếu ta không xuất phát từ đối tượng. Ăng ghen đã nói: 
“ Phương pháp là do đối tượng quyết định, đối tượng nào phương pháp ấy ”. Trong sự 
phát triển của đời người thì sự phát triển của tuổi chỉ là một yếu tố. Độ tuổi là quan 
trọng nhưng nó phụ thuộc vào môi trường, khả năng tiếp xúc với đời sống xã hội. Độ 
tuổi từ 10 đến 12, tương ứng với học sinh lớp 6,7. Theo các nhà tâm lý học thì đây là 
lứa tuổi nằm trong những năm tháng mà con người đang mở ra cho mình những cảm 
xúc và hứng thú mới mẻ. Đây là lứa tuổi giàu cảm xúc nhất trong một đời người. Thế 
giới nội tâm và quan hệ xã hội xung quanh của lứa tuổi này rất phức tạp. Về hành vi các 
em còn mang tính trẻ con, nhưng ý thức lại cho mình là người lớn. Các em thường mâu 
thuẫn giữa hành động bên ngoài và nội tâm bên trong. Các em đã có hứng thú và cảm 
xúc mới mẻ, phương pháp hiếu động, nhiều em thường ngồi học không yên, hay nói 
chuyện riêng, thiếu tập trung trong giờ học  Để ổn định được làn sóng này là điều 
không phải dễ. Chính cái hiếu động cảm xúc ấy, bản thân nó lại bao hàm một năng lực 
sáng tạo to lớn. Cụ thể là năng khiếu sáng tạo biểu hiện rõ trong văn học. Các em dễ 
dàng đồng cảm với nhân vật, nhập cuộc sống với tác giả. 
 - Ở học sinh khối 8-9 đã xuất hiện một chuyển biến đáng kể và năng lực cảm thụ 
văn học. Sự đánh giá nhìn nhận của các em đã tập trung vào nội tâm của mình. Các em 
gái đã bắt đầu viết nhật ký, tình cảm yêu đương. Tư chất cá nhân từng học sinh đã hình 
thành khá rõ nét. Năng khiếu của các em dễ dàng nhận ra. Với tập thể các em đã biết 
đoàn kết, bao che cho nhau kể cả những sai trái. Từ những đặc điểm tâm sinh lý của 2 
Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường 
THCS-THPT Tây Sơn 
[Type text] 
giai đoạn học sinh cấp II người giáo viên phải đề ra cho mình những phương hướng cụ 
thể, ngoài công tác chủ nhiệm như thông qua giờ chào cờ, sinh hoạt lớp, hoạt động giáo 
dục ngoài giờ lên lớp. Đặc biệt thông qua các giờ học Ngữ văn giáo viên lồng ghép vào 
bài giảng một cách khéo léo, linh hoạt để giáo dục các em. 
 - Tuy nhiên việc lống ghép không nên gượng ép, miễn cưỡng mà phải linh hoạt và 
kích thích sự hứng thú cuộc học sinh. Chúng ta không thể biến giờ giảng văn thành giờ 
giảng dạy về đạo đức một cách cứng nhắc và máy móc. Việc giáo dục đạo đức cho học 
sinh cũng như việc giảng dạy kiến thức bộ môn cần được tiến hành song song. Tuy 
nhiên, cũng cần có sự linh hoạt, giáo viên cần xem xét nội dung từng bài để áp dụng 
phương pháp phù hợp để giáo dục học sinh tính chân – thiện – mĩ. Là một nhà giáo dục, 
người giáo viên có những biện pháp sư phạm, những tình huống tâm lý khi cần sử dụng 
phải tùy thuộc vào đối tượng học sinh, tuỳ thuộc mục tiêu của từng bài học chứ không 
nên áp đặt một cách máy móc. 
 Trên đây là những vấn đề mà bản thân tôi đã rút ra được trong quá trình giảng 
dạy bộ môn Ngữ văn của mình .Tuy nhiên, đề tài này chỉ nằm trong phạm vi nhỏ, hạn 
chế, chưa nghiên cứu được sâu.Vì thế, tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét quí 
báu của Ban giám hiệu và quý đồng nghịêp để đề tài này hoàn thiện hơn. 
 Định Quán, ngày 10/09/2015 
 Người thực hiện: 
 Nguyễn Đình Hoàng 
.. 
Một số kinh nghiệm về lồng ghép giáo dục đạo đức học sinh thông qua môn Ngữ văn tại trường 
THCS-THPT Tây Sơn 
[Type text] 
 VI/ TÀI LIỆU THAM KHẢO: 
 1. SGK Ngữ văn 6,7,8,9-NXB GD 
 2. SGV Ngữ văn 6,7,89-NXB GD 
 3. Tài liệu tích hợp giáo dục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 
trong môn Ngữ văn THCS 
 4. Phương pháp dạy học môn ngữ văn THCS- NXB GD 

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_kinh_nghiem_ve_long_ghep_giao_duc_dao_duc_hoc_sinh_thong_qua_mon_ngu_van_tai_truong_thcs.pdf