Đề tài Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu qủa dạy học môn giáo dục công dân bậc trung học phổ thông

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI- thế kỷ chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa đã tạo ra cơ sở mới cho sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, nâng cao đời sống con người. Để theo được sự phát triển của khoa học công nghệ và tốc độ phát triển nhanh của các nước trên thế giới thì sự nghiệp giáo dục cũng phải được đổi mới nhằm đào tạo những con người có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ và chuyên môn cao, luôn năng động, sáng tạo, độc lập và tự chủ.

Hiện nay vấn đề giáo dục đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, chính giáo dục có vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển con người - nhân tố quyết định cuả sự phát triển xã hội và góp phần thúc đẩy quá trình CNH- HĐH đất nước.

Ngày nay trước xu thế toàn cầu hoá, chất lượng giáo dục lại càng quan trọng và là điều kiện tiên quyết trong quá trình đấu tranh và hội nhập kinh tế giữa các nước trên thế giới. Vì vậy, các quốc gia, dân tộc đều quan tâm đến giáo dục.

Nhận thức được việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề bức thiết hiện nay ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng như Bộ GD & ĐT đã đưa ra nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm thúc đẩy việc đổi mới PPDH ở tất cả các cấp học, bậc học một cách mạnh mẽ và toàn diện.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỷ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”

Chính vì thế, mục tiêu của nhà trư¬ờng phổ thông Việt Nam hiện nay là đào tạo con người mới, phát triển toàn diện, phù hợp với yêu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của đất nước cũng như¬ phù hợp với sự phát triển của thời đại. Mục tiêu của giáo dục phổ thông nư¬ớc ta đã được cụ thể hoá trong luật giáo dục năm 2005 nh¬ư sau:

 “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.[2]

 

doc42 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 29/10/2018 | Lượt xem: 378 | Lượt tải: 1Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu qủa dạy học môn giáo dục công dân bậc trung học phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
óm chuyên môn. 
 Bên cạnh đó, để thực hiện việc vận dụng PPDH tích cực trong giảng dạy môn GDCD yêu cầu phải có đủ phương tiện và thiết bị dạy học cần thiết để tạo thuận lợi cho việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực, phải tăng cường các phòng học có gắn phương tiện dạy học hiện đại. Xây dựng kế hoạch bổ sung thiết bị và tích cực sửa chữa cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ tốt cho nhu cầu hoạt động dạy và học.
Nhà trường phải có kế hoạch nâng cấp thư viện đạt chuẩn cần bổ sung các tài liệu hướng dẫn vận dụng các PPDH tích cực để giảng dạy môn GDCD và các loại tài liệu như sách tham khảo, các loại báo, tạp chí, liên quan đến bộ môn để tạo điều kiện cho GV và HS tham gia đọc sách, tích lũy kiến thức từ thư viện.
Như vậy, Hiệu trưởng thường xuyên tác động đến hầu hết các mặt của hoạt động đổi mới PPDH, và sự tác động ấy không rời rạc, không thụ động mà cần chặt chẽ, chủ động, bao quát, trọng tâm vào mối quan hệ giữa các chủ thể dạy học. Hiệu trưởng cần khuyến khích, ủng hộ những sáng kiến của GV dù là sáng kiến nhỏ, giúp đỡ, hướng dẫn GV trong qúa trình vận dụng các PPDH tích cực thích hợp với bộ môn và điều kiện dạy học tại trường làm cho phong trào đổi mới PPDH càng ngày đạt hiệu quả cao hơn.
- Tăng cường hoạt động của tổ chuyên môn trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDCD.
Tổ bộ môn giữ vị trí quan trọng trong việc triển khai hoạt động đổi mới PPDH, là nơi trực tiếp triển khai các hoạt động của nhà trường trong đó trọng tâm là hoạt động giáo dục và dạy học.
Tổ trưởng chuyên môn phải xây dựng kế hoạch chi tiết cụ thể về hoạt động chuyên môn của tổ, thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và theo dõi hoạt động chuyên môn của các thành viên trong tổ. Sắp xếp các nhóm chuyên môn một cách hợp lý, tổ chức sinh hoạt chuyên môn cho tổ, nhóm thiết thực có hiệu quả theo tinh thần đổi mới
Tổ bộ môn phải có kế hoạch xây dựng và tổ chức thực hiện các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học. Để vận dụng các PPDH tích cực vào qúa trình dạy học đạt kết quả cao thì ngoài sự nổ lực của GV và HS thì sự quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện của nhà trường và tổ bộ môn là rất cần thiết và quan trọng.
*	Giải pháp đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
Để nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD nói chung thì phụ thuộc nhiều những quyết định, chỉ thị về những hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực của Sở Giáo dục & Đào tạo. 
Sở Giáo dục & Đào tạo phải tiếp tục xây dựng được đội ngũ GV GDCD đúng chuyên ngành và tạo điều kiện cho họ học những bậc cao hơn để nâng cao trình độ. Tiếp tục tổ chức những phong trào thi GV dạy giỏi cấp tỉnh và tổ chức thêm kỳ thi học sinh giỏi tỉnh môn GDCD mỗi năm một lần để nhằm nâng cao tầm quan trọng của môn học, đồng thời tạo thêm sinh khí cho môn GDCD.
Luôn chỉ đạo các trường THPT trong địa bàn quản lý việc tổ chức thường xuyên các chuyên đề về PPDH tích cực, cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của HS, bồi dưỡng cho GV những kiến thức về chính trị, về kinh tế xã hội của địa phương, đường lối chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước. 
Sở Giáo dục & Đào tạo cần phải có đội ngũ GV cốt cán môn GDCD để thường xuyên phụ trách xây dựng chương trình, tài liệu và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng vận dụng tốt các PPDH tích cực và thực hiện tốt cách kiểm tra đánh giá.
Sở Giáo dục & Đào tạo nên đưa ra những yêu cầu, quy định cụ thể về các trường THPT và phối hợp với lãnh đạo lãnh đạo nhà trường để thực hiện cụ thể như việc kiểm tra soạn giáo án, thao giảng, dự giờ, cách ra đề kiểm tra, cách chấm điểm, cho điểm., và cần có chính sách khen thưởng, khích lệ, hổ trợ thỏa đáng khi GV thực hiện tốt công tác dạy học. Và chính sự chỉ đạo đó của Sở sẽ giúp cho việc dạy học đạt được kết quả cao hơn.
* Giải pháp đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo
 Trên thực tế, trong thời gian qua Bộ giáo dục và đào tạo đã có sự đầu tư và đổi mới về nội dung chương trình GDCD, phương pháp dạy học cũng như cách kiểm tra đánh giá tuy nhiên trong quá trình giảng dạy thì với nội dung kiến thức triết học của chương lớp 10, phần công dân với kinh tế của chương trình 11, phần kiến thức pháp luật chương trình lớp 12 còn khái quát và chung chung chưa mang tính cụ thể, kiến thức còn nặng so với trình độ nhận thức của HS vì thế Bộ giáo dục và Đào tạo hạn chế những phần kiến thức còn khái quát và nên đưa thêm vào những kiến thức cụ thể hơn.
Bộ giáo dục và Đào tạo cần in nội dung tri thức của sách giáo khoa môn GDCD trên trang giấy nền trắng và dày hơn, cần đưa một số hình ảnh minh họa phù hợp, cũng như nên in màu các tựa đề và hình ảnh giống như các bộ môn Sử - Địa  để làm tăng tính hấp dẫn cũng như giá trị của môn học. 
Trên thực tế, ở hầu hết các trường THPT đều thiếu phương tiện, thiết bị và đồ dùng dạy học môn GDCD vì thế Bộ giáo dục và Đào tạo nên khẩn trương tạo điều kiện và cung cấp tranh ảnh, bảng biểu, sơ đồ cũng như tất cả những đồ dùng dạy học cần thiết để phục vụ bài giảng GDCD nhằm nâng cao được hiệu quả dạy học bộ môn.
 Việc lồng ghép nhiều nội dung vào chương trình môn GDCD sẽ tạo nhiều áp lực cho GV và HS bởi với thời lượng 45 phút GV truyền đạt cho HS những tri thức của môn học mà vẫn còn thấy thiếu thời gian vì bản thân kiến thức của môn GDCD vốn đã trừu tượng, khái quát nên khi dạy cần phải đưa những ví dụ và tình huống thực tế vào để các em hiểu dễ dàng hơn vì thế nếu lồng ghép các kiến thức khác qúa nhiều sẽ làm giảm đi hiệu quả của quá trình dạy học.
HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Những lợi ích trực tiếp khi áp dụng đề tài trong quá trình dạy học đó là giúp HS nắm vững được tri thức với các phương pháp lĩnh hội khác nhau. Phát triển tư duy sáng tạo, bồi dưỡng lòng ham học và khả năng tự học của HS. Rèn luyện năng lực thích ứng với cuộc sống hiện đại thông qua kỹ năng biết đặt và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập và trong cuộc sống thực tế . GV kiểm tra, đánh giá năng lực của HS thông qua các hoạt động học tập như tiếp cận và xử lý tình huống , xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề. 
Tạo điều kiện để rèn luyện, bồi dưỡng những phẩm chất của tư duy như: Phê phán, sáng tạo, khả năng giao tiếp, quyết đoán, ra quyết định, tích cực hoá hoạt động của người học nhờ quá trình thường xuyên tiếp cận với các tình huống thực tế. Và đặc biệt là kết quả học tập của HS
Trong quá trình dạy học theo hướng vận dụng các PPDH tích cực thì thực nghiệm sư phạm là một công đoạn không thể thiếu. Từ kết quả thực nghiệm sư phạm đã khẳng định việc vận dụng các PPDH tích cực có tính khả thi và hiệu quả.
	 Kiến thức của HS sẽ giảm bớt tính chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học khi HS được tiếp nhận tri thức qua những bài giảng có sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, đóng vai, tình huống , dự án .
 	Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do các em được làm việc chung.
 Nhờ không khí sôi nổi của lớp học khi có sự vận dụng các phương pháp dạy học tích cực sẽ giúp HS thoải mái, tự tin hơn trong việc trình bày ý kiến của mình và biết lắng nghe ý kiến của những thành viên khác.
 	Việc vận dụng các PPDH tích cực làm cho bài học sinh động hơn, khơi dậy lòng ham hiểu biết và sự tò mò, tính chủ động, sáng tạo ở mỗi HS trong quá trình học tập, giúp các em nâng cao được sự hiểu biết về kinh tế xã hội, về các quy luật cơ bản của nền kinh tế, các phạm trù đạo đức cũng như các phương hướng, đường lối, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà Nước để từ đó em hiểu về đất nước mình hơn, yêu đất nước hơn, có trách nhiệm đối với bản thân, với gia đình và xã hội.
 Bên cạnh đó thì việc vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy học cũng phụ thuộc vào trình độ, năng lực vận dụng phương pháp của GV và trình độ nhận thức của HS. GV sẽ cần nhiều thời gian trong quá trình chuẩn bị bài giảng và triển khai bài giảng trên lớp. Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS đòi hỏi nhiều thời gian. Thời gian 45 phút của một tiết học cũng là trở ngại gây khó khăn trong quá trình dạy học theo các phương pháp dạy học tích cực như : Thảo luận nhóm, đóng vai, dự án.
Công việc hoạt động nhóm, trả lời tình huống, đóng vai không phải bao giờ cũng mang lại kết quả như mong muốn, nếu tổ chức và thực hiện kém thì bải giảng sẽ không đạt được hiệu quả.
- Số liệu thống kê, phân tích so sánh kết qủa đạt được so với trước khi thực hiện sang kiến kinh nghiệm này
Giáo viên dạy cả 2 lớp, lớp đối chứng và lớp thực nghiệm. Lớp đối chứng dạy theo giáo án chỉ áp dụng phương pháp dạy học truyền thống, còn lớp thực nghiệm GV dạy cùng bài nhưng giáo án thiết kế theo hướng vận dụng một số PPDH tích cực.
Tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh, Thành Phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai.
Giáo viên tiến hành thực nghiệm lần 1: Tháng 9 / 2011, Bài 5 “ Cách thức vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ”
Dạy thực nghiệm tại lớp 10A4 và dạy đối chứng tại lớp 10A7
GV tiến hành thực nghiệm lần 2: Tháng 10/ 2011, bài 6 “ Khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng”. GV dạy thực nghiệm lớp tại 10A9 và dạy đối chứng tại lớp 10A10.
Sau khi tiến hành dạy thực nghiệm và dạy đối chứng, tôi đã tổ chức điều tra, khảo sát nhận xét đánh giá của HS về giờ dạy và cho HS làm bài kiểm tra 15 phút sau khi GV dạy xong tiết học.
Bảng1. Thống kê điểm kiểm tra 15 phút của HS lớp đối chứng và lớp thực nghiệm Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh ( 4 lớp - 179 HS )
Tên trường
Lớp
Số học sinh
Điểm số
<5
5
6
7
8
9
10
Nguyễn Hữu Cảnh
ĐC 10A6
45
3
9
15
8
6
4
0
TN
10A4
44
0
5
7
12
10
9
2
ĐC
10A9
45
2
6
15
13
6
2
1
TN
10A8
45
0
2
5
20
8
8
2
Tổng
ĐC
89
5
15
30
21
12
6
1
TN
90
0
7
12
32
18
17
4
Bảng 2. Kết quả học tập của HS lớp đối chứng và lớp thực nghiệm tại Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh ( 4 lớp - 179 HS ). Tính theo tỉ lệ %
Tên trường
Lớp
Sĩ số
Mức độ%
Kém
( <5 )
Trung bình
( 5-6 )
Khá
( 7- 8 )
Giỏi
( 9- 10 )
Nguyễn Hữu Cảnh
ĐC (10A6)
45
6.6
55.6
31.2
8.9
TN
(10A4)
44
0
27.2
50.0
25.0
ĐC
(10A9)
45
4.4
46.6
42.2
6.6
TN
( 10A8 )
45
0
15.5
62.2
22.2
Tổng
ĐC
89
5.6
50.5
37.0
7.8
TN
90
0
21.1
55.5
23.3
 [ Nguồn: Điều tra vào tháng 10/ 2011]
Từ kết quả học tập của HS ở lớp ĐC và lớp TN của Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh thì ta thấy rằng việc GV tiến hành quá trình dạy học cùng một nội dung kiến thức, cùng tình độ nhận thức của HS đương tương nhau nhưng khi GV vận dụng các PPDH tích cực vào bài giảng ở những lớp thực nghiệm thì HS hiểu bài, hứng thú với môn học hơn và đặc biệt là qua bảng số liệu đã thống kế điểm của bài kiểm tra nhận thức của HS thì kết quả học tập ở những lớp TN cao hơn so với lớp ĐC.
Cụ thể như sau:
- Ở 2 lớp TN:
+ Tỉ lệ HS đạt điểm giỏi ( từ 9- 10 điểm ) là 23, 3 %
+ Tỉ lệ HS đạt điểm khá ( từ 7 – 8 điểm ) là 55,5 %
+ Tỉ lệ HS đạt điểm trung bình ( từ 5- 6 điểm ) là 21, 1%
+ Tỉ lệ HS yếu, kém là 0%
Vậy là chúng ta thấy ở những lớp thực nghiệm không có HS nào dưới điểm 5, tỉ lệ HS khá, giỏi tương đối cao.
Ở 2 lớp đối chứng:
+ Tỉ lệ HS đạt điểm giỏi ( từ 9- 10 điểm ) là 7,8 %
+ Tỉ lệ HS đạt điểm khá ( từ 7 – 8 điểm ) là 37,0 %
+ Tỉ lệ HS đạt điểm trung bình ( từ 5- 6 điểm ) là 50,5 %
+ Tỉ lệ HS yếu, kém ( < 5 điểm ) là 5,6 %
Như vậy, từ kết qủa học tập và kết qủa điều tra lấy ý kiến của HS sau tiết dạy ở cả 2 lớp TN và 2 lớp ĐC của trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh thì chúng ta thấy rằng việc GV vận dụng các PPDH tích cực vào giảng dạy môn GDCD là cần thiết và đúng đắn, phù hợp với xu hướng dạy học trong xã hội phát triển như hiện nay.
 Bảng 3. Tổng hợp kết qủa phiếu trưng cầu ý kiến HS của 2 lớp ĐC và 2 lớp TN tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
TT
Nội dung câu hỏi và các phương án trả lời
 Tổng hợp ý kiến
Lớp thực nghiệm
( 2 Lớp -90 HS )
Lớp đối chứng
( 2 Lớp - 89 HS )
Em có thích bài học hôm nay không ?
a. Rất thích
53
7
b. Thích vừa phải
21
19
c. Bình thường
16
58
d. Không thích
0
6
2
Em có hiểu rõ nội dung bài học hôm nay không?
a. Rất hiểu bài
60
3
b. Hiểu
17
11
c. Chưa hiểu lắm
13
76
d. Không hiểu
0
0
3
Em thấy thái độ của các bạn trong lớp đối với môn học này thế nào?
a. Hăng say học tập và phát biểu
51
11
b. Có hứng thú
32
14
c. Học bình thường
7
63
d. Không quan tâm đến bài học
0
2
4
Em có thích môn GDCD không?
a. Thích
57
6
b. Thích vừa phải
22
13
c. Bình thường
11
54
d. Không thích
0
17
5
Em có ý kiến gì về cách dạy của GV đối với giờ học này không?
a. Luôn dạy như thế này
84
5
b. Giảng kỹ hơn
2
63
c. Đưa nhiều ví dụ thực tiễn hơn
4
15
d. Không có ý kiến gì?
0
7
 [ Nguồn: Điều tra vào tháng 9/ 2011]
Từ bảng điều tra trưng cầu ý kiến của HS, rút ra một số nhận xét như sau
Nếu GV vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học thì HS sẽ thích thú và có tinh thần học bài hơn, tham gia phát biểu nhiều hơn, điều quan trọng là các em thấy hiểu bài hơn từ đó biết được giá trị của môn GDCD và thích thú hơn đối với môn học này.
VI. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Từ kết quả sáng kiến kinh nghiệm, đưa ra một số kiến nghị sau:
Thứ nhất: Cần xác định đúng vị trí, vai trò của môn GDCD ở trường THPT để tránh được nhận thức sai lầm cho rằng đây là môn học phụ, là môn mà GV nào cũng có thể dạy được, việc nhận thức sai lầm về vị trí, vai trò của môn GDCD dẫn đến những hạn chế nhất định trong thực tiễn dạy học bộ môn làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học môn GDCD.
Thứ hai: Bộ giáo dục và Đào tạo, các Sở giáo dục và đào tạo cần đưa môn GDCD vào những môn thi tốt nghiệpTHP, thi vào Đại học các chuyên ngành Giáo dục chính trị ở các trường Đại học để vai trò và vị trí của môn GDCD được nhìn nhận đúng với bản chất của nó, đồng thời tạo cho HS động lực, cách nhìn lẫn thái độ tích cực hơn đối với môn GDCD.
Thứ ba: Nhà nước cũng như các cơ quan ban nghành có liên quan cần quan tâm nhiều hơn nữa đến đội ngũ GV nói chung và GV GDCD nói riêng, phải xây dựng chính sách tiền lương cho GV phù hợp với sự phát triển kinh tế đất nước và giá cả thị trường hiện nay.
Thứ tư: Hiện nay ở các trường THPT phương tiện và thiết bị dạy học còn quá nghèo nàn nên đã hạn chế rất lớn đến kết quả dạy và học của GV và HS. Bộ giáo dục nên sớm cung cấp thiết bị dạy học môn GDCD đầy đủ hơn nhằm tạo điều kiện cho GV và HS đạt hiệu quả cao trong việc dạy và học.
VII. KẾT LUẬN
Trong giai đoạn hiện nay, xã hội đang dần phát triển, mọi mặt của đời sống xã hội của Đất nước đang dần thay đổi theo hướng phát triển chung của thời đại vì thế việc đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết nhằm đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để những con người ở thế kỷ 21 năng động, sáng tạo, có phẩm chất tốt, năng lực cao đáp ứng cho sự nghiệp CNH- HĐH và phát triển Đất nước trong xu thế hội nhập.
 Vì lẽ đó nhu cầu học tập của người dân ngày càng cao, xã hội học tập đang hình thành và phát triển. Trong ngành giáo dục, mỗi GV cần phải năng động, sáng tạo, không ngừng tìm tòi để việc dạy học đạt hiệu quả cao. Ta đã biết, dạy học là một hoạt động đặc thù, một khoa học, một nghệ thuật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Vì vậy người GV có trình độ, năng lực và giỏi tay nghề phải là người có kiến thức chuyên môn sâu rộng về môn học mà mình đảm nhận đồng thời phải có năng lực, năng khiếu sư phạm, lòng nhiệt tình và sự trải nghiệm trong cuộc sống. 
 Biết vận dụng PPDH tích cực vào bài giảng một cách khoa học và hợp lý và mỗi phương pháp giảng dạy dù cổ điển hay hiện đại đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó, do vậy GV nên xây dựng cho mình một PPDH riêng, phù hợp với mục tiêu, nội dung của bài học, phù hợp với đối tượng HS, điều kiện dạy học sẵn có, cơ sở vật chất của nhà trường và cuối cùng là phải phù hợp với sở thích của mình, có như vậy mới góp phần nâng cao hiệu quả học tập của HS.
PHỤ LỤC
 PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN HỌC SINH
 ( TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH)
Em hãy vui lòng cho biết ý kiến về một số vấn đề sau bằng cách khoanh tròn vào các đáp án sau:
1. Em có thích bài học hôm nay không?
a . Rất thích
b. Thích vừa phải
c. Bình thường
d. Không thích
2. Em có hiểu rõ nội dung bài học hôm nay không?
a. Rất hiểu bài
b. Hiểu
c. Chưa hiểu lắm
d. Không hiểu
3. Em thấy thái độ của các bạn trong lớp đối với môn học này thế nào?
a. Hăng say học tập và phát biểu
b. Có hứng thú
c. Học bình thường
d. Không quan tâm đến bài học
4. Em có thích môn GDCD không?
a. Thích 
b. Thích vừa phải
c. Bình thường
d. Không thích 
5. Em có ý kiến gì về cách dạy của GV đối với giờ học này không?
a. Luôn dạy như thế này
b. Giảng kỹ hơn
c. Đưa nhiều ví dụ thực tiễn hơn
d. Không có ý kiến gì
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Giáo dục công dân, Nxb Giáo dục, Hà nội, 2007.
2. Luật Giáo dục (2005).
3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc và Điều lệ Đảng cộng sản Việt nam lần thứ XI, Nxb Thời Đại, Hà Nội, 2011.
4. Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 THPT - NXB Giáo Dục.
5. Bộ Giáo dục và đào tạo Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn GDCD - NXB Giáo Dục Việt Nam, (2009)
 6. Chỉ thị số 30/1998/CT- BGD& ĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục & đào tạo ngày 20/5/ 1998 Hà Nội.
7. Chỉ thị 15/1999/CT – BGD&ĐT ngày 20/4 /19999 
8. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII)
9. Lí luận dạy học Địa lý nhằm phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên sư phạm Địa Lý,Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng - TS. Đậu Thị Hòa, (2008)
10. Một vài suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông ở nước ta - Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 276 tháng 5 - Trần Kiều, (1995)
 11. Dạy và học môn GDCD ở Trường THPT, những vấn đề lý luận và thực tiễn Nguyễn Văn Cư – Nguyễn Duy Nhiên - Chủ biên NXB Đại học Sư Phạm, (2007)
12. Giáo dục học tập 2- Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt - NXB Giáo dục, ( 1998)
13. Giáo dục học trong trường sư phạm - Hà Thế Ngữ, Phạm Thị Diệu Vân - NXB Giáo dục Hà Nội, ( 1993)
14. Lý luận dạy học đại học- GS.Đặng Vũ Hoạt- PTS. Hà Thị Đức, ( 1994)
15. Giáo dục học đại cương II- GS. Đặng Vũ Hoạt- PGS. Nguyễn Sinh Huy- PGS. Hà Thị Đức Hà Nội, (1995)
16. Nghị quyết trung ương 2 Đại hội Đảng lần thứ VII
17. Chuyên đề 2: Các phương pháp dạy học tích cực - PGS- TS. Vũ Hồng Tiến 
18 . PPDH phát huy tính tích cực - một phương pháp vô cùng quý báu, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục - số 271- Phạm Văn Đồng, (1994) 
 19. Bài tập GDCD 11- Vũ Đình Bảy (Chủ biên)- NXB Giáo Dục Việt Nam,(2010)
 20. Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT - Vũ Đình Bảy - NXB Giáo Dục Việt Nam, (2010)
 21. Phương pháp giáo dục tích cực- Nguyễn Kỳ - NXB Giáo Dục (1995) 
 Người thực hiện
 Hà Thị Thanh HươngSỞ GD& ĐT ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đơn vị:Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh	 Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
 Biên Hòa, ngày 20 tháng 5 năm 2012
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011- 2012
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Vận dụng một số phương dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu qủa dạy học môn Giáo dục công dân bậc trung học phổ thông
 Họ và tên tác giả: Hà Thị Thanh Hương
Đơn vị (Tổ): Khoa học xã hội
Lĩnh vực:
Quản lý giáo dục 	*	 Phương pháp dạy học bộ môn..GDCD... *
Phương pháp giáo dục 	*	Lĩnh vực khác..........................................*
Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới	*
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 	*
Hiệu quả:
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao *
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao *
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao *
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả *
Khả năng áp dụng:
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt *	Khá *	Đạt *
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc sống:
Tốt *	Khá *	Đạt *
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng:
Tốt *	Khá *	Đạt *
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN	THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

File đính kèm:

  • docvan_dung_mot_so_phuong_phap_day_hoc_tich_cuc_nham_nang_cao_hieu_qua_day_hoc_mon_giao_duc_cong_dan_ba.doc
Sáng Kiến Liên Quan