Đề tài Nâng cao chất lượng dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4

Với tư cách là môn học công cụ, môn Tiếng Việt có vai trò hết sức quan trọng trong giao tiếp đời sống cũng như trong học tập của học sinh. Đặc biệt đối với học sinh tiểu học vì tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp của trẻ. Thông qua môn Tiếng Việt các em nắm được kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Từ đó mở rộng vốn ngôn ngữ và sự hiểu biết về ngôn ngữ. Tiếng Việt là chìa khoá để mở cánh cửa tri thức, là điều kiện phương tiện để học tốt các môn học khác.

Môn Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học được phân chia thành nhiều phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn. Mỗi phân môn đều có nhiệm vụ riêng của nó, song đều có một đặc điểm chung là hình thành và phát triển 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết.

 Trong môn Tiếng Việt thì phân môn Tập làm văn có vị trí rất quan trọng vì nó tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng. Học sinh vận dụng các kiến thức tiếng Việt khi làm bài văn, trong quá trình vận dụng này, các kiến thức đó hoàn thiện và nâng cao dần. Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh kĩ năng sản sinh văn bản. Nhờ vậy, tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập.

 Khi học sinh làm một bài văn tức là học sinh đã thực hiện một hoạt động giao tiếp. Mỗi bài văn là một sản phẩm không lặp lại của từng học sinh trước đề bài. Do đó có thể nói, việc học làm văn, cái riêng của các em được bộc bạch rõ nét nhất, trọn vẹn nhất. Như vậy dạy tập làm văn là dạy cho các em tập suy nghĩ riêng, tập sáng tạo, tập thể hiện trung thực con người mình. Điều đó thực sự quan trọng trong chiến lược đào tạo con người mà Đảng và Nhà nước vạch ra. Hiện nay, giáo viên tiểu học còn rất khó khăn khi dạy tập làm văn, đặc biệt là dạy theo tinh thần quan tâm đến việc tổ chức, hướng dẫn học sinh làm bài tập. Làm thế nào để dạy tập làm văn đạt kết quả cao? Đó chính là băn khoăn trăn trở của nhiều nhà giáo dục, của các giáo viên tiểu học đang trực tiếp giảng dạy.Với tư cách là một giáo viên tiểu học muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy tập làm văn. Đó cũng là hành trang vững chắc giúp tôi có thể dạy tốt phân môn Tập làm văn nói riêng và bộ môn Tiếng Việt nói chung.

 Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi đã chọn đề tài: "Dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4 '' rất mong được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các nhà chuyên môn và các bạn đồng nghiệp.

 

doc22 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 26/10/2018 | Lượt xem: 523 | Lượt tải: 6Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Nâng cao chất lượng dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ượng học văn miêu tả.
2. Các biện pháp tổ chức thực hiện
2.1. Xác định nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn lớp 4
	Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn lớp 4 là:
	- Trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm văn.
	- Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô- gíc, tư duy hình tượng ; bồi dưỡng tâm hồn, xúc cảm thẩm mĩ, hình thành nhân cách học sinh.
2.2. Tìm hiểu nội dung của phân môn Tập làm văn lớp 4 phần văn miêu tả. Phân loại từng kiểu bài rèn luyện kĩ năng có trong chương trình ở lớp 4
Những nội dung kiến thức và kĩ năng làm văn dạy ở lớp 4 luôn quán triệt tinh thần tích cực hoá hoạt động học tập: học sinh được tiếp nhận kiến thức thông qua yêu cầu thực hành, luyện tập phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi 
a) Cấu trúc chương trình phần văn miêu tả ở lớp 4
Loại văn bản
Số tiết dạy
Học kì I
Học kì II
Cả năm
* Miêu tả
7
23
30
- Khái niệm miêu tả
1
4
1
- Miêu tả đồ vật
6
11
10
- Miêu tả cây cối
8
11
- Miêu tả con vật
8
b) 	Các kiến thức làm văn phần văn miêu tả :
Thông qua những giờ dạy văn miêu tả, học sinh lớp 4 được trang bị một số hiểu biết ban đầu về những đặc điểm chính của các loại văn bản ấy, cụ thể như sau:
- Thế nào là miêu tả ?
- Miêu tả đồ vật
- Miêu tả con vật
- Miêu tả cây cối
c) Về kĩ năng, các bài học rèn cho học sinh những kĩ năng sản sinh ngôn bản cụ thể như sau :
- Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp:
+ Nhận diện văn bản.
+ Phân tích đề bài.
- Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp:
+ Xác định dàn ý của bài văn đã cho.
+ QS đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả.
- Kĩ năng hiện thực hoá hoạt động giao tiếp:
 + Xây dựng đoạn văn.
 + Liên kết các đoạn văn thành bài văn.
- Kĩ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp:
 + Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt.
 + Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
 d) Các loại bài học
 - Dạy lí thuyết
 - Hướng dẫn thực hành
2.3. Những thuận lợi và khó khăn của học sinh khi thực hiện việc học văn miêu tả ở lớp 4 
a) Thuận lợi: 
- Các em học sinh được tiếp cận với văn miêu tả sớm ngay từ lớp 2.
- Đến lớp 4, các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói đã đạt được ở một mức độ nhất định.
- Kiến thức về tiếng Việt và văn học: Được chuẩn bị từ lớp dưới khá nhiều như luyện tập về các kiểu câu theo mẫu (học ở lớp 2-3), các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá; học nhiều các bài tập đọc về văn miêu tả có giá trị văn chương. Lên lớp 4, các em tiếp tục được luyện tập các mảng kiến thức trên theo hướng tích hợp, đồng thời, từ vựng học thêm khoảng 700 từ, ngữ theo chủ điểm, ngữ pháp giúp các em học về từ loại, về các kiểu câu chia theo mục đích nói, tập làm văn học kết cấu của văn bản.
- Các môn học khác như Khoa học, Địa lí cũng giúp các em rất nhiều vốn hiểu biết về thế giới tự nhiên và thế giới xung quanh.
b) Khó khăn :
- Phần lớn học sinh ở thành phố, thị xã hiện nay bị bó hẹp trong phạm vi gia đình và phạm vi nhà trường, các em ít có điều kiện tiếp xúc với thiên nhiên, ít được tham gia các hoạt động như hoạt động ngoại khoá, hoạt động xã hội,  Đất ở của mỗi gia đình phần lớn không đủ rộng để có thể trồng trọt hoặc nuôi thêm các con vật. Tức là các em không biết những đối tượng mà các em phải tả theo yêu cầu của đề bài.
Ví dụ: 
. Bài tập 2 – SGK trang 32, tập2 “Lập dàn ý miêu tả một cây ăn quả quen thuộc theo một trong hai cách đã học ”
. Bài tập 4– SGK trang 82, tập2 “ Em hãy viết kết bài mở rộng cho một trong các đề tài dưới đây:
	a) Cây tre ở làng em.
	b) Cây tràm ở quê em.
	c) Cây đa cổ thụ ở đầu làng. ”
. Bài : Luyện tập miêu tả cây cối – SGK trang 83, tập2 “ Tả một cây có bóng mát ( hoặc cây ăn quả, cây hoa) mà em yêu thích.”
Đó là nguyên nhân sâu xa ảnh hưởng đến xúc cảm, tình cảm của các em, ảnh hưởng đến chất lượng bài văn miêu tả.
4. Lựa chọn cách dạy phù hợp để giúp nâng cao chất lượng Tập làm văn lớp 4 phần văn miêu tả.
 	Ngay từ lớp 2, khi tập quan sát để trả lời câu hỏi, các em đã bắt đầu làm quen với văn miêu tả. Việc cho các em tiếp xúc với văn miêu tả sớm như vậy đã góp phần nuôi dưỡng tình yêu của các em với thế giới xung quanh, với thiên nhiên, góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, góp phần phát triển ngôn ngữ ở trẻ... Học văn miêu tả các em có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã hội để gợi ra những tình cảm, xúc cảm, ý nghĩ cao thượng, đẹp đẽ... Cho các em tiếp xúc với thế giới xung quanh, với thiên nhiên là con đường hiệu quả nhất để giáo dục học sinh phát triển ngôn ngữ. Đến lớp 3, văn miêu tả được học không nhiều song trong chương trình phân môn Luyện từ và câu đã chú trọng rèn luyện các kiểu câu theo mẫu nhất định và chú trọng dạy các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá. Đó là những bước chuẩn bị quan trọng cho việc dạy văn miêu tả ở lớp 4.
Văn miêu tả được dạy ở lớp 4 trong 30 tiết (7 tiết ở học kì I, 23 tiết ở học kì II). Sau bài mở đầu Thế nào là miêu tả ? (tuần 14) giúp học sinh có khái niệm về miêu tả nói chung, các em lần lượt đi sâu vào từng kiểu bài cụ thể : miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật. Trong mỗi kiểu bài nói trên, học sinh đều được rèn luyện các kĩ năng cơ bản : quan sát đối tượng miêu tả, lựa chọn và sắp xếp ý để miêu tả, xây dựng đoạn văn và bài văn miêu tả. So với các bài tập về miêu tả đơn giản ở lớp 2, lớp 3 (nói, viết thành đoạn văn ngắn), học sinh lớp 4 đã bắt đầu được học một cách tương đối có hệ thống về kĩ năng xây dựng văn bản hoàn chỉnh (gồm 3 phần : mở bài, thân bài và kết bài). Do đó, để dạy tốt loại văn miêu tả, giáo viên vừa phải giúp học sinh thực hiện được những yêu cầu làm văn miêu tả nói chung, vừa phải chú ý đến những đặc điểm riêng của từng loại đối tượng (đồ vật, cây cối, con vật) để hướng dẫn học sinh miêu tả cho cụ thể và sinh động. Cụ thể :
4.1. Bài văn miêu tả phải chân thực
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy.
	Do vậy, bài văn miêu tả trước hết cần có tính chân thực, đúng bản chất của đối tượng. Dạy cho học sinh tiểu học miêu tả chân thực một đối tượng, trước hết phải đi từ yêu cầu tả đúng thực tế, nghĩa là thông qua việc quan sát trực tiếp bằng nhiều giác quan, chọn được từ ngữ thích hợp, diễn tả đúng được đối tượng, không làm cho người đọc (nghe) hiểu sai hoặc không hình dung được nó.
4.2 Quan sát đối tượng miêu tả
Để giúp người đọc, người nghe tái hiện được đối tượng miêu tả một cách chân thực, sinh động, bài văn miêu tả phải tuân theo một trình tự hợp lí, đảm bảo tính lôgíc. vậy khi dạy văn miêu tả, giáo viên cần hướng dẫn các em :
	- Quan sát tỉ mỉ các bộ phận theo một trình tự hợp lí 
Ví dụ: + Quan sát theo trình tự không gian: Từ xa đến gần, từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, từ trái qua phải, ... hoặc ngược lại
+ Quan sát từ bao quát đến các bộ phận, từ bộ phận chủ yếu đến các bộ phận thứ yếu,...).
+ Quan sát trình tự tâm lí : Điều gì gây chú ý nhiều (gây hứng thú có tác động mạnh) thì tả trước, điều gì ít chú ý tả sau.
	+ Quan sát bằng nhiều cách khác nhau (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi,...).
 - Chú ý những yêu cầu riêng khi quan sát từng loại đối tượng miêu tả :
	+ Tả đồ vật : Có loại đồ vật tĩnh (như cái bàn, cái ghế, quyển vở,...), có loại đồ vật động (như cái xe, cái quạt máy, búp bê biết khóc, cười,...). Cách quan sát đồ vật động khác với đồ vật tĩnh.
	+ Tả cây cối : Cần quan sát theo đặc điểm của từng loại cây (cây hoa, cây ăn quả, cây bóng mát, cây lấy gỗ,...) theo từng chặng phát triển (khi cây còn nhỏ, lúc cây lớn,...) ; theo từng mùa khác nhau ; kết hợp quan sát khung cảnh thiên nhiên và tác động của người hay loài vật đối với cây (nếu có). 
	+ Tả con vật : Cần quan sát đầy đủ những đặc điểm về hình dáng, hoạt động và cả mối quan hệ của con vật đối với người.
	- Trong cùng một loại đối tượng, mỗi đối tượng cụ thể cũng có đặc điểm riêng. Khi quan sát cần chú ý phát hiện những đặc điểm riêng phân biệt đối tượng được tả với những đối tượng khác cùng loại.
Để giúp HS quan sát đối tượng và miêu tả chân thực về đối tượng ấy, người giáo viên nên ứng dụng CNTT vào trong quá trình giảng dạy nhằm cung cấp cho các em những hình ảnh những thước phim cụ thể, sinh động của những loài cây, những con vật mà các em định tả nhưng thực tế lại chưa một lần nhìn thấy hoặc chỉ nhìn lướt qua trong phim ảnh hay khi về quê Ví dụ:
. Bài tập 2 – SGK trang 32, tập2 “Lập dàn ý miêu tả một cây ăn quả quen thuộc theo một trong hai cách đã học ”.
a) Tả lần lượt từng bộ phận của cây.
b)Tả lần lượt từng thời kì phát triển của cây.
* Đối với cách “a) Tả lần lượt từng bộ phận của cây”, tôi đã cho các em quan sát hình ảnh từng bộ phận của rất nhiều loại cây ăn quả quen thuộc như : xoài, nhãn, chuối( Tùy từng loại cây để đưa ra hình ảnh phù hợp).
 Gốc dừa – Thân dừa(vùng đất cát) ngọn dừa – lá dừa
 Quả dừa Cùi dừa
*Có thể kết hợp tả từng bộ phận với quá trình phát triển của cây, ta có thể đưa ra các hình ảnh sau:
Ví dụ: Tả cây chuối
 Gốc; thân chuối- Cây chuối con Lá chuối – Hoa chuối 
 buồng chuối xanh Buồng chuối chín 
 	* Đối với cách b)Tả lần lượt từng thời kì phát triển của cây, tôi đã cho các em quan sát cây theo mùa.Ví dụ :
Mùa đông, cây trơ trụi, khẳng khiu.
Xuân sang, cây đâm chồi,nảy lộc.
 Hè đến, cành lá xum xuê Cây ra hoa
 Quả chi chít cành trên,cành dưới Quả lớn nhanh như thổi
( Tuy nhiên cần lưu ý HS trong thực tế nhiều loài cây mùa đông không rụng lá mà xanh quanh năm. Hình ảnh trên chỉ mang tính minh họa) 
. Bài tập 4– SGK trang 82, tập2 “ Em hãy viết kết bài mở rộng cho một trong các đề tài dưới đây:
	a) Cây tre ở làng em.
	b) Cây tràm ở quê em.
	c) Cây đa cổ thụ ở đầu làng. ”
 Để có thể làm được các bài này thì các em phải có những hiểu biết nhất định về những loài cây mà các em định tả. Vì vậy, tôi đã đưa ra một số hình ảnh sau và cung cấp cho các em những hiểu biết về ích lợi của cây và những tình cảm của người dân địa phương đối với những loài cây đó( Ví dụ: cây tràm cho tinh dầu; người dân thường ngồi dưới gốc đa, gốc tre hóng mát)
 Bụi tre Cây đa 
 Cây tràm bông vàng
 Tràm bông vàng ra hoa Sản phẩm từ cây tràm 
. Bài : Luyện tập miêu tả cây cối – SGK trang 83, tập2 “ Tả một cây có bóng mát ( hoặc cây ăn quả, cây hoa) mà em yêu thích.”Đối với bài này, tôi đã cho các em thấy sự đa dạng, phong phú của các loại cây. Từ đó, các em sẽ lựa chọn cây để miêu tả theo ý thích: Ví dụ: 
 Cây hoa bằng lăng Cây bàng về mùa đông
Cây bàng về mùa hè Cây phượngmùa hè 
 Cây hồng leo Cây hoa hồng
 Cây mít Cây hoa sứ
 Hoa loa kèn Cây hoa đào
 Cây hoa mai Hoa sen
Dạng bài: Miêu tả con vật
Tùy theo yêu cầu của từng bài mà tôi đã đưa ra những hình ảnh hay những thước phim về những con vật cũng như những hoạt động của chúng cho phù hợp.
Ví dụ :1) Tả con vật nuôi trong nhà:
 Gà mái- gà con Gà chọi Gà trống
 Chó lớn Chó con
 Mèo mướp Mèo tam thể
2) Tả con vật nuôi trong vườn thú: 
 Chim công múa Khỉ
 Hổ
 Voi
 Voi - Hươu
3) Tả con vật em nhìn thấy trên đường:
 Con trâu Thỏ nâu
 Con vịt Ngựa kéo xe
4.3 Lựa chọn và sắp xếp ý để miêu tả
 - Chọn được những nét nổi bật của đối tượng để miêu tả rõ ràng, đầy đủ.
 - Sắp xếp ý một cách hợp lí theo ba phần của bài văn miêu tả :
 + Mở bài : Giới thiệu đối tượng miêu tả bằng cách trực tiếp hay gián tiếp.
 + Thân bài : Tả bao quát rồi tả từng bộ phận của đối tượng hoặc tả từng thời kì phát triển của đối tượng.
 + Kết bài : Nêu cảm nghĩ (ấn tượng) về đối tượng miêu tả theo cách mở rộng hoặc không mở rộng.
 * Cách thức lựa chọn và sắp xếp ý với từng thể loại nhỏ phần thân bài
a) Tả đồ vật : Trước hết, nêu tả bao quát toàn bộ đồ vật (hình dạng, màu sắc,...), sau đó tả những bộ phận chính với những đặc điểm nổi bật.
Ví dụ: Tả chiếc cặp
+ Tả bao quát đồ vật: Cặp hình chữ nhật, làm bằng bằng vải giả da được trang trí rất đẹp.	
+ Tả chi tiết: Tả mặt cặp, quai xách, quai đeo, khoá cặp, các ngăn,...
b) Tả cây cối : Tả từng bộ phận của cây hoặc tả từng thời kì phát triển của cây (theo các mùa trong năm) ; tập trung vào những nét nổi bật của từng loại cây cụ thể (VD : hình dạng, màu sắc, hương thơm,... của hoa ; hình dạng, màu sắc, mùi vị,... của quả,...).
Tiết tập làm văn “Luyện tập miêu tả cây cối” Trang 41- 42 và trang 50- 51 SGK TV4- Tập 2, đã đưa những ví dụ rất cụ thể và là những đoạn văn mẫu mực về miêu tả cây cối.
 c) Tả con vật : Tả hình dáng rồi tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật (hoặc kết hợp tả hình dáng xen kẽ trong khi tả hoạt động của con vật) ; tả thêm những biểu hiện của con vật trong mối quan hệ với người (nếu có).
4.4 Dựng đoạn và viết bài miêu tả
- Mỗi đoạn văn miêu tả có một nội dung nhất định (Ví dụ : giới thiệu hay tả bao quát về đối tượng, tả từng bộ phận hay từng mặt của đối tượng, bộclộ tình cảm, thái độ của người viết về đối tượng miêu tả,...).
- Khi viết, hết mỗi đoạn văn cần xuống dòng. Bài văn phải đầy đủ 3 phần : Mở bài, Thân bài, Kết bài. Lời văn miêu tả cần chân thực, giàu hình ảnh và cảm xúc (thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả, gợi cảm và sử dụng các biện pháp liên tưởng, so sánh hay nhân hoá thích hợp). Bài tập làm văn cần chú ý đến tính thống nhất của cả bài. Mỗi đoạn trong bài văn (kể cả đoạn mở bài và đoạn kết bài đều phải hướng vào nội dung chính của bài, gắn bó với nội dung đó. (Nhiều em đoạn mở bài giới thiệu cây hoa sau lại tả cây ăn quả.
* Cách thức hướng dẫn học sinh dựng đoạn và viết bài với từng thể loại nhỏ:
a) Tả đồ vật : Thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, đặc điểm ; có thể so sánh, nhân hoá làm cho đồ vật được miêu tả thêm sinh động (Ví dụ : gọi đồ vật bằng anh, chị, chú, bác,... hoặc cho đồ vật tự xưng là tớ, tôi, mình để tự nói về nó).
b) Tả cây cối : Thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, màu sắc, hương thơm, mùi vị ; có thể sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh để gợi ra hình ảnh cây cối ở thời kì phát triển hay mùa khác nhau (cây cối ở thời điểm hiện tại so với trước đây và tương lai sau này).
c) Tả con vật : Thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, màu sắc, âm thanh ; từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái của con vật ; có thể sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh hay nhân hoá để miêu tả cho sinh động và bộc lộ mối quan hệ gần gũi với con người.
4.5 Rèn kĩ năng viết trong giờ tập làm văn miêu tả ở lớp 4.
Khi viết một đoạn văn, bài văn, học sinh có thời gian suy nghĩ, tìm cách diễn đạt (dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá,...) rèn luyện kĩ năng sản sinh văn bản. Lời văn viết vừa cần rõ ý vừa cần sinh động, bộc lộ được cảm xúc; bố cục bài văn cần chặt chẽ, hợp lí ở từng đoạn và toàn bài để tạo thành một đoan văn, bài văn hoàn chỉnh. Kĩ năng viết của học sinh được rèn luyện chủ yếu qua các bài tập viết đoạn văn trước khi viết một bài văn hoàn chỉnh. Do vậy, trong quá trình rèn kĩ năng viết, giáo viên cần giúp học sinh thực hiện tốt những yêu cầu sau :
Bước1: Phân tích đề bài, xác định nội dung viết ; tìm ý, sắp xếp ý để chuẩn bị thực hiện yêu cầu viết (đoạn văn, bài văn) theo loại văn, kiểu bài đã học ( miêu tả đồ vật, cây cối, con vật)
Bước 2: Tập viết đoạn văn bảo đảm sự liên kết chặt chẽ về ý : viết đoạn mở bài, (trực tiếp, gián tiếp), viết các đoạn phần thân bài, viết đoạn kết bài (mở rộng, không mở rộng) sao cho có sự liền mạch về ý (không rời rạc, lộn xộn), các ý trong đoạn được diễn tả theo một trình tự nhất định nhằm minh hoạ cụ thể hoá ý chính (có mở đầu, triển khai và kết thúc).
Bước 3: Viết bài văn có bố cục chặt chẽ, có lời văn phù hợp với yêu cầu nội dung và thể loại, cụ thể :
- Các đoạn văn trong một bài phải liên kết với nhau thành một văn bản hoàn chỉnh, được bố cục chặt chẽ theo 3 phần : Mở bài, Thân bài, Kết bài. Có thể liên kết các đoạn văn bằng cách dùng từ ngữ nối hoặc cách sắp xếp ý theo trình tự đã học.Khi viết hết một đoạn văn, cần chấm xuống dòng.
- Lời văn trong bài (đoạn) cần phù hợp với yêu cầu nội dung và thể loại. VD : + Tả đồ vật thường dùng nhiều từ ngữ gợi rõ hình dáng, đặc điểm ; có thể so sánh, nhân hoá làm cho đồ vật được miêu tả thể sinh động.
+ Tả cây cối thường dùng nhiều từ ngữ gợi rõ hình dáng, màu sắc, hương thơm, mùi vị ; có thể sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh để gợi ra hình ảnh cây cối ở từng thời kì phát triển hay từng mùa khác nhau.
+ Tả con vật thường dùng nhiều từ ngữ gợi rõ hình dáng, màu sắc, âm thanh ; từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái của con vật ; có thể sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh hay nhân hoá để miêu tả cho sinh động và bộc lộ mối quan hệ gần gũi giữa con vật mà học sinh đó miêu tả với con người.
C. KẾT LUẬN
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu và áp dụng những kinh nghiệm của bản thân vào thực tế giảng dạy phân môn Tập làm văn phần miêu tả ở trường tiểu học Ba Đình tôi thấy chất lượng giờ Tập làm văn đã có những chuyển biến tốt, đáng mừng. Số em biết viết đúng thể loại, đúng yêu cầu của đề bài ngày càng được nâng lên, số em biết viết sáng tạo, có hình ảnh, câu văn mềm mại, sắp xếp ý hợp lí ngày càng nhiều.
Khảo sát chất lượng một bài viết ở 2 lớp 4A và lớp 4C trường tiểu học Ba Đình tuần 27 “Tả một cây hoa mà em thích”
Lớp
Số lượng bài chấm
Bài viết đúng y/c, có sáng tạo, có hình ảnh
Bài viết đúng yêu cầu
Bài chưa đạt yêu cầu
4A
25
12
13
0
4C
25
15
10
0
2. KẾT LUẬN CHUNG
	Chương trình tiếng Việt mới lấy quan điểm dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản. Phân môn Tập làm văn cũng được xây dựng trên quan điểm đó. Dạy Tập làm văn lấy giao tiếp làm môi trường và phương pháp, lấy việc phục vụ giao tiếp làm nhiệm vụ và mục đích.
	Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 4 được xây dựng dưới dạng hệ thống các bài tập. Học sinh sẽ tự làm bài dưới sự tổ chức, hướng dẫn, góp ý của giáo viên để phát triển kĩ năng nói và nghe. Đây chính là cơ sở giúp học sinh mở rộng vốn từ, phát triển tư duy hình tượng và tư duy lôgic; trau dồi kĩ năng sản sinh văn bản.
	Cùng với sự đổi mới về nội dung là sự đổi mới về phương pháp dạy học. Đó là sự phối hợp hợp lí giữa các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học hiện đại nhằm đưa người học vào các tình huống giao tiếp, tạo cho các em môi trường giao tiếp cụ thể. Từ đó, hình thành và phát triển 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.
	Việc đổi mới về nội dung và phương pháp dạy Tập làm văn như hiện nay là tương đối đúng đắn, phù hợp với nước ta trong thời kì đổi mới, phù hợp với xu thế phát triển của khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đề ra đòi hỏi sự nỗ lực của các nhà sư phạm, các giáo viên và tất cả học sinh tiểu học.
	Là giáo viên tiểu học, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu để góp phần tháo gỡ khó khăn và để trang bị cho mình vốn kiến thức nhất định giúp học sinh học tập đạt chất lượng cao hơn. Trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận thấy để giúp cho học sinh lớp viết văn miêu tả đạt hiệu quả cao thì khi tổ chức hướng dẫn cho các em giáo viên cần phải: 
	- Nắm vững mục đích của bài tập :
	- Thấy được mối liên quan giữa bài tập làm văn với các phân môn của môn Tiếng Việt trong tuần và sự kết nối thành chuỗi hệ thống giữa các giờ tập làm văn.
	- Soạn hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt cho học sinh thực hiện từng thao tác khi làm bài tập, lưu ý dạy đúng loại bài hình thành kiến thức hoặc loại bài luyện tập thực hành.
	- Dự đoán trước những khó khăn của học sinh trong từng tiết Tập làm văn để tìm cách tháo gỡ.
	- Giờ học Tập làm văn phải phát huy cao độ vai trò chủ thể của học sinh trong hoạt động học tập. 
	- Tích cực ứng dung CNTT trong dạy văn miêu tả. Đó là trực quan sinh động nhất giúp các em quan sát các sự vật một cách cụ thể. Từ đó, bài viết của các em sẽ chân thực và giàu hình ảnh hơn (tuy nhiên không được lạm dụng.)
	Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu chưa nhiều, năng lực và trình độ còn hạn chế chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. 
	Tôi rất mong nhận được những góp ý, bổ sung chân thành của các nhà chuyên môn và các bạn đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.
 Thanh Hóa, ngày 15 tháng 4 năm 2013 
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ 
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.
 NGƯỜI VIẾT
 Thiều Thị Sáu

File đính kèm:

  • docskkn_nang_cao_chat_luong_day_van_mieu_ta_cho_hoc_sinh_lop_4_0478.doc
Sáng Kiến Liên Quan