Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong môn Khoa học

CƠ SỞ THỰC TIỄN.

1. Thực trạng.

- Học sinh ngại động não, suy nghĩ, chỉ quen nghe giảng, chờ đợi giáo viên thông báo đáp án, ít có hứng thú học tập. Do đó kiến thức hời hợt, khi phải vận dụng vào các trường hợp cụ thể thì lúng túng, sai lầm.

- Học sinh ngại và sợ phát biểu sai. Do đó nếu không được khích lệ, tạo điều kiện thì thường ngồi ì, không động não.

2. Nguyên nhân của thực trạng đó.

- Giáo viên chưa tạo ra những tình huống gây sự chú ý và kích thích hứng thú học tập của học sinh, chưa đầu tư thích đáng cho hệ thống câu hỏi hướng dẫn nhằm phát huy tính tích cực, tìm tòi, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập.

- Giáo viên chưa bám sát mức độ nội dung kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm vững nên chưa có biện pháp làm nổi bật, khắc sâu những kiến thức đó, nhất là chưa rèn được cho học sinh kỹ năng nhận diện dạng bài (học sinh phải biết được bài tập phải giải thuộc dạng nào, phải vận dụng những kiến thức nào để giải quyết vấn đề đó).

- Học sinh chịu ảnh hưởng nặng nề của cách học thụ động. Những điều các em có được sau mỗi bài học không phải là kết quả của sự hoạt động tích cực, tự lực để chiếm lĩnh kiến thức. Do đó các em nắm kiến thức hời hợt, khi vận dụng dễ mắc sai lầm.

- Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi, bài tập không hợp lí, không đảm bảo xu hướng tăng dần từ dễ đến khó hoặc đòi hỏi quá cao làm học sinh khó theo kịp dẫn đến tâm lí “sợ học”

- Giờ học quá căng thẳng, chỉ là mệnh lệnh câu hỏi và bài tập khiến các em căng thẳng, sợ học, chán học.

 

doc20 trang | Chia sẻ: thuydung3ka2 | Ngày: 04/03/2022 | Lượt xem: 39 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong môn Khoa học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
..........................................
Họ và tên:..........................................................................
Câu hỏi định hướng:..........................................................
Những điều 
đã biết
(
)
Những điều 
muốn biết
(W)
Những điều 
học được
(L)
Vận dụng 
vào thực tế
(H)
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
.............................
Bước 4: HS điền thông tin vào phiếu KWLH theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Trước khi nghiên cứu chủ đề, học sinh hoàn thiện thông tin vào cột 1 và cột 2: K và W 
Giai đoạn 2: Sau khi học xong chủ đề, học sinh hoàn thiện cột 3 và cột 4: L và H.
3.3. Ví dụ: Tôi áp dụng kĩ thuật này khi dạy một số bài như:
Tên bài học
Các kỹ năng sống cơ bản 
Các phương pháp kỹ thuật dạy học tích cực
Bài 52: Vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt
Kỹ năng lựa chọn các giải pháp cho các tình huống cần dẫn nhiệt, cách nhiệt tốt.
Kỹ năng giải quyết vấn đề liên quan đến dẫn nhiệt, cách nhiệt
Kỹ thuật KWLH
Thí nghiệm theo nhóm nhỏ
Bài 57: Thực vật cần gì để sống
Kỹ năng làm việc nhóm
Kỹ năng quan sát, so sánh có đối chứng để thấy sự phát triển khác nhau của cây trong những điều kiện khác nhau
Kỹ thuật KWLH
Làm việc nhóm
 Thí nghiệm theo nhóm
Quan sát, nhận xét
Bài 53. Các nguồn nhiệt
Kỹ năng xác định giá trị bản thân qua việc đánh giá việc sử dụng các nguồn nhiệt
 Kỹ năng nêu vấn đề liên quan tới sử dụng năng lượng chất đốt và ô nhiễm môi trường
 Kỹ năng xác định lựa chọn về các nguồn nhiệt được sử dụng
Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin về việc sử dụng các nguồn nhiệt
Kỹ thuật KWLH
Thảo luận nhóm về sử dụng an toàn tiết kiệm các nguồn nhiệt
- Điều tram tìm hiểu về vấn đề sử dụng nguồn nhiệt ở gia đình và xung quanh
 Khi bắt đầu học chủ đề này, tôi phát phiếu KWLH như trên, yêu cầu học sinh điền vào cột K và W. Qua đây, tôi nắm được học sinh của mình còn nhớ được những kiến thức gì.
	Sau đó, tôi hướng dẫn học sinh hệ thống kiến thức, giải đáp các thắc mắc.
	Với kĩ thuật này tôi đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian học lý thuyết của các con. Tôi có nhiều thời gian hơn cho việc luyện bài tập cho học sinh và tìm hiểu thêm các thông tin trên mạng về các vấn đề liên quan.
	Cuối chủ đề, tôi yêu cầu các em hoàn thiện cột L và H. Tôi thấy kết quả ngoài những kiến thức trong sách giáo khoa, các em còn tìm hiểu thêm nhiều thông tin mở rộng khác.Thực sự, so với phương pháp dạy truyền thống thì phương pháp này giúp cho học sinh của tôi có kiến thức sâu, rộng hơn.
3.4. Nhận xét:
Căn cứ trên kết quả KWLH, tôi nhận thấy học sinh ngoài việc tìm hiểu kiến thức sách giáo khoa thì còn có nhu cầu muốn biết về các vấn đề liên hệ thực tế, mở rộng, vận dụng kiến thức liên môn. Nhờ có việc khảo sát học sinh như này, tôi mới nắm bắt được nhu cầu của học sinh, cũng nhờ đây, tôi có thời gian để dạy những thứ học sinh cần biết, tránh bị dạy lan man kiến thức. Ngoài ra, giáo viên thông qua phiếu đánh giá được năng lực, kiến thức, kỹ năng của học sinh. Trên cơ sở đó, có những điều chỉnh về nội dung và phương pháp dạy học cho phù hợp. Qua đây, tôi cũng giải quyết được nhiều vấn đề thực tế, kiến thức liên môn cho học sinh. Nhờ đó mà chất lượng của giờ dạy được nâng cao.
4. Dạy học theo góc (trạm)
4.1. Mục tiêu
Dạy học theo góc vừa được xem là một kĩ thuật dạy học, vừa được gọi là một phương pháp dạy học tích cực. Khi giáo viên áp dụng dạy học theo góc cho một hoạt động và phối hợp cùng thực hiện với các kĩ thuật khác trong một phương pháp dạy học khác thì được gọi là kĩ thuật dạy học. Còn nếu giáo viên sử dụng dạy học theo góc là hình thức chủ đạo để dạy học trong cả tiết thì khi này được gọi là phương pháp dạy học. Với tôi, tôi thường sử dụng dạy học theo góc là một kĩ thuật dạy học - áp dụng trong một hoạt động của phương pháp “dạy học nêu vấn đề” hoặc phương pháp “bàn tay nặn bột”. Đây là một kĩ thuật dạy học mà tôi tâm đắc nhất, thường lựa chọn để áp dụng trong các chuyên đề hoặc thi giáo viên giỏi.
Dạy học theo góc là kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát huy cao độ tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập, giúp học sinh chủ động thực hành, khám phá và trải nghiệm tìm hiểu các kiến thức. Hình thành tốt các năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp cho học sinh. 
4.2. Tổ chức thực hiện
	* Giai đoạn chuẩn bị gồm 2 bước:
Bước 1: Xem xét các yếu tố cần thiết để học theo góc đạt hiệu quả. Nơi học phải có không gian đủ lớn và số học sinh vừa phải có thể dễ dàng bố trí các góc hơn diện tích nhỏ hơn và có nhiều học sinh. Cần rèn cho học sinh có khả năng tự định hướng làm việc tốt, chủ động, tích cực.
Bước 2: Thiết kế kế hoạch bài học với những nội dung cơ bản sau:
- Mục tiêu bài học: Đạt theo chuẩn kiến thức, kĩ năng, làm việc độc lập, chủ động của học sinh khi thực hiện học theo góc.
- Chuẩn bị: Thiết bị, phương tiện, đồ dùng dạy học, nhiệm vụ cụ thể và kết quả cần đạt được ở mỗi góc tạo điều kiện để học sinh tiến hành các hoạt động.
- Xác định tên mỗi góc với các phương tiện phù hợp. Căn cứ vào nội dung, giáo viên cần xác định 3- 4 góc để học sinh thực hiện học theo góc.
- Ở mỗi góc cần có: Bảng nêu nhiệm vụ của mỗi góc, sản phẩm cần có và tư liệu thiết bị cần cho hoạt động của mỗi góc phù hợp theo phong cách học hoặc theo nội dung hoạt động khác nhau.
- Biên soạn phiếu học tập, hướng dẫn nhiệm vụ, bản hướng dẫn tự đánh giá (nếu cần).
	* Tổ chức cho học sinh học theo góc
Bước 1: Bố trí không gian lớp học
Bước 2: Giới thiệu bài học/nội dung học tập và các góc học tập. Nêu sơ lược về nhiệm vụ, phương tiện ở các góc, thời gian tối đa thực hiện nhiệm vụ tại một góc. Dành thời gian cho học sinh chọn góc xuất phát, giáo viên có thể điều chỉnh nếu có quá nhiều học sinh cùng chọn một góc. Giáo viên có thể giới thiệu sơ đồ luân chuyển các góc để tránh lộn xộn. 
Bước 3: Tổ chức cho học sinh học tập tại các góc.
Bước 4: Tổ chức cho học sinh trao đổi và đánh giá kết quả học tập (nếu cần).
4.3. Ví dụ: 
Tên bài học
Các kỹ năng sống cơ bản 
Các phương pháp kỹ thuật dạy học tích cực
Bài 65: Quan hệ thức ăn trong tự nhiên
Kỹ năng khái quát, tổng hợp thông tin về sự trao đổi chất ở thực vật.
 Kỹ năng phân tích, so sánh, phán đoán về thức ăn của các sinh vật trong tự nhiên
 Kỹ năng giao tiếp và hợp tác giữa các thành viên trong nhóm
Dạy học theo góc (trạm)
Trình bày 1 phút
Làm việc theo cặp
Làm việc theo nhóm
Bài 2 - 3: Nam hay nữ
Kỹ năng phân tích, đối chiếu các đặc điểm đặc trưng của nam và nữ.
Kỹ năng trình bày suy nghĩ của mình về các quan niệm nam và nữ trong xã hội
- Kỹ năng tự nhận thức và xác định giá trị của bản thân
Dạy học theo góc (trạm)
Làm việc nhóm
-Hỏi - đáp với chuyên gia
Bài 1. Sự sinh sản
Kỹ năng phân tích và đối chiếu các đặc điểm của bố, mẹ và con cái để rút ra nhận xét bố mẹ và con có đặc điểm giống nhau
Dạy học theo góc (trạm)
Làm việc nhóm
Hỏi - đáp với chuyên gia
Bài 17. Thái độ với người nhiễm HIV/ AIDS
Kỹ năng xỏc định giỏ trị bản thõn, tự tin và cú ứng xử, giao tiếp phự hợp với người bị nhiễm HIV/AIDS.
- Kỹ năng thể hiện cảm thụng, chia sẻ, trỏnh phõn biệt kỳ thị với người nhiễm HIV.
Dạy học theo góc (trạm)
Trò chơi
- Đóng vai
- Thảo luận nhóm
 Tại sao tôi lại chọn phương pháp dạy học theo góc để dạy bài này? Lí do là bộ đồ dùng thí nghiệm được cấp để làm thí nghiệm về tác dụng hóa học chỉ có một, nếu giáo viên làm thí nghiệm biểu diễn, HS ở dưới không thể nhìn được hiện tượng có bọt bám vào thỏi than nối với cực âm và lớp đồng bám vào thỏi than đó. Sử dụng kĩ thuật này, HS được làm được trực tiếp, quan sát rõ hiện tượng, hiệu quả giờ dạy cao hơn hẳn.
4.4. Nhận xét
Qua quá trình tiến hành thực nghiệm một số tiết dạy theo góc tôi nhận thấy kĩ thuật này có rất nhiều ưu điểm giúp mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái của học sinh; học sinh được học sâu và hiệu quả bền vững; giáo viên có nhiều thời gian hơn cho hoạt động hướng dẫn người học... Tuy nhiên tôi thấy rằng khi áp dụng kĩ thuật này thường không đủ thời gian, và với lớp học đông thì giáo viên không thể bao quát được hết. Vì vậy, giáo viên phải tìm nội dung và điều chỉnh cách thức điều khiển hoạt động sao cho phù hợp với điều kiện Nhà trường.
5. Phương pháp “Bàn tay nặn bột”
5.1. Mục tiêu 
Nếu như dạy học theo góc là kĩ thuật dạy học mà tôi tâm đắc nhất, thì với phương pháp dạy học, tôi luôn lựa chọn “Bàn tay nặn bột” là phương pháp “tủ” của mình. Với tôi, mục tiêu của phương pháp “Bàn tay nặn bột” là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết của học sinh.
5.2. Tổ chức thực hiện
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.
- Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học.
- Câu hỏi phải phù hợp với trình độ học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò của học sinh.
Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu.
- Giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình về sự vật, hiện tưởng mới. Giáo viên cho học sinh trình bày bằng nhiều hình thức: viết, vẽ, nói,
- Giáo viên tuyệt đối không phủ định câu trả lời của học sinh.
Bước 3: Đề xuất giả thuyết và phương án thực nghiệm.
- Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu, giáo viên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi.
- Từ những câu hỏi của học sinh, giáo viên định hướng để các em đề xuất các phương án thực nghiệm nhằm tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó. 
- Giáo viên ghi chú lên bảng các đề xuất của học sinh để các ý kiến sau không trùng lặp.
- Khuyến khích học sinh tự đánh giá ý kiến nhau hơn là ý kiến của giáo viên nhận xét.
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu.
HS sử dụng các tài liệu, các nguồn thông tin, quan sát tranh và mô hình và thực nghiệm trên mẫu vật thật... để kiểm chứng lại các đáp án đưa ra ban đầu. 
Bước 5: Kết luận, hệ thống hoá kiến thức mới.
Từ phần kiến thức mới khi tìm tòi trải nghiệm, so sánh với nhận định đưa ra ban đầu, học sinh tự rút ra kết luận cho vấn đề đang được đề cập đến.
5.3. Ví dụ: 
	Tôi áp dụng kĩ thuật này khi dạy một số bài như:
Tên bài học
Các kỹ năng sống cơ bản 
Các phương pháp kỹ thuật dạy học tích cực
Bài 31. Chất dẻo
Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin về công dụng của vật liệu
Kỹ năng lựa chọn vật liệu thích hợp với tình huống/yêu cầu đưa ra
Kỹ năng bình luận về việc sử dụng vật liệu	
Bàn tay nặn bột
Quan sát và thảo luận theo nhóm nhỏ
Bài 32. Tơ sợi
Kỹ năng quản lý thời gian trong quá trình tiến hành thí nghiệm.
Kỹ năng bình luận về cách làm và các kết quả quan sát
Kỹ năng giải quyết vấn đề
Bàn tay nặn bột
Thí nghiệm theo nhóm nhỏ
Bài 36. Hỗn hợp
Kỹ năng tìm giải pháp để giải quyết vấn đề (tạo hỗn hợp và tách các chất ra khỏi hỗn hợp)
- Kỹ năng lựa chọn phương án thích hợp
- Kỹ năng bình luận đánh giá về các phương án đã thực hiện.
Bàn tay nặn bột
Thực hành
Trò chơi
Bài 38-39. Sự biến đổi hóa học (2 tiết)
Kỹ năng quản lý thời gian trong quá trình tiến hành thí nghiệm.
- Kỹ năng ứng phó trước những tình huống không mong đợi xảy ra trong khi tiến hành thí nghiệm (của trò chơi)
Bàn tay nặn bột
Quan sát và trao đổi theo nhóm nhỏ
Trò chơi
5.4. Nhận xét
Với phương pháp này, tôi có thể áp dụng được vào rất nhiều bài. Căn cứ vào kết quả sau khi thực hiện “Bàn tay nặn bột” tôi nhận thấy học sinh được nói, được làm nhiều hơn, để từ đó các em thấy được sự mâu thuẫn trong nhận biết của mình. Học sinh tự rút ra được kết luận và khắc sâu kiến thức cần nhớ. Tuy nhiên, với phương pháp này giáo viên cần định hướng câu hỏi rõ ràng, chuẩn bị chu đáo các tài liệu, phương tiện dạy học, linh hoạt hơn trong bao quát học sinh thực hiện nhiệm vụ.
	Tóm lại, muốn nâng cao chất lượng các môn học, khi thiết kế các bài dạy người giáo viên cần chú ý đảm bảo được năm đặc trưng sau:
	- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
	- Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
	- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp vói học tập hợp tác.
	- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
	- Giáo viên giữ vai trò thiết kế, tổ chức, hướng dẫn.
Tùy từng bài, giáo viên có thể lựa chọn một hay nhiều kĩ thuật dạy học, có thể sử dụng một hay phối hợp nhiều phương pháp khác nhau. 
III. KẾT QUẢ
	Sau một năm áp dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học trên tôi đã nhận thấy học sinh đã có những thay đổi tích cực với mônKhoa học, hứng thú hơn trong việc chuẩn bị bài ở nhà, học tập trên lớp, các em đã nhận thấy được những điều thiết thực mà bộ môn mang lại. Đặc biệt hơn, còn thể hiện trên kết quả học tập của học sinh ở các lớp mà tôi phụ trách giảng dạy. Cụ thể như sau:
Thời gian
Sĩ số
Đạt hoàn thành tốt
Đạt hoàn thành 
SL
%
SL
%
Năm học 2019 – 2020
(Chưa áp dụng đề tài)
34
18
52
16
48
HK1 Năm học 2020 – 2021
(Sau khi áp dụng đề tài)
34
28
82
6
18
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Để đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu giáo dục đào tạo của đất nước ta, xu thế giáo dục của thế giới hiện nay thì việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực cho môn vật lý trong trường THCS là không thể thiếu được. Các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nếu ứng dụng có hiệu quả các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực thì sẽ tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập. Giáo viên thường xuyên ứng dụng các phương pháp, kỹ thuật đó giúp cho học sinh tích cực, chủ động, hào hứng, giải quyết các vấn đề trong thực tế phù hợp với trình độ của học sinh, số lượng học sinh giỏi, khá môn vật lý tăng lên. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả học tập cũng như chất lượng giáo dục.
II. KHUYẾN NGHỊ.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm mà tôi đã áp dụng và cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Để nâng cao chất lượng giảng dạy theo tôi cần phải:
- Tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, tích cực tham gia các chuyên đề về việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực.
- Thường xuyên áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, kỹ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy và rút kinh nghiệm qua mỗi tiết dạy.
- Tạo mối quan hệ giữa thầy và trò thật gần gũi và thân thiện, thường xuyên quan tâm, khích lệ học sinh để các em luôn cảm thấy thoải mái và tin tưởng vào việc học tập của mình, từ đó khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của học sinh; tạo niềm vui, hứng khởi giúp các em phát triển tối đa năng lực, tiềm năng của bản thân.
	Trên đây là một vài biện pháp tôi đã áp dụng trong việc giảng dạy tại trường . Đó chỉ là ý tưởng cá nhân, việc áp dụng còn phải tuỳ thuộc từng giáo viên, từng điều kiện dạy và học cụ thể của từng trường. Tuy tôi nhận thấy nó có nhiều ưu điểm nhưng cũng không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp và để tôi càng ngày càng tiến bộ hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! 
Ngày 15 tháng 03 năm 2021
PHỤ LỤC II: 
(Thể hiện phương pháp Bàn tay nặn bột)
MÔN: KHOA HỌC LỚP 5
 BÀI 28: XI MĂNG
A. MỤC TIÊU: 
1. Kiến thức: Sau bài học, giúp học sinh nắm được 
 - Nguyên liệu sản xuất xi măng
- Tính chất, công dụng của xi măng
- Một số cách bảo quản xi măng
2. Kĩ năng: Rèn cho học sinh kĩ năng giao tiếp, quan sát, so sánh, hợp tác.
3. Thái độ: Giáo dục học sinh ý thức tìm hiểu, quan sát cuộc sống xung quanh; giáo dục học sinh yêu thích môn học.
B. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:
1. Giáo viên: 
- Bài giảng điện tử, máy tính, máy chiếu, các sản phẩm từ xi măng
- Phiếu nhóm, bút dạ
2. Học sinh: Xi măng, nước, thìa, cốc, SGK, vở viết.
C. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU:
TG
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
2’
40’
1’
39’
7’
22’
10’
3’
I. Kiểm tra bài cũ: Gốm xây dựng: gạch, ngói
- Hãy nêu tính chất của gạch, ngói.
- Khi sử dụng đồ gốm cần lưu ý điều gì?
II. Bài mới:
1. Giới thiệu bài
- Đưa hình ảnh bức tường có vết nứt.
Hỏi : Bức tường gặp vấn đề gì?
+ Yêu cầu học sinh nêu các cách xử lý vết nứt.
Giới thiệu bài, ghi đầu bài .
2.Tìm hiểu bài:
2.1. Hoạt động 1: Tìm hiểu về thành phần của xi măng
- Cho học sinh xem đoạn video về quy trình sản xuất xi măng.
- Hỏi: Xi măng được làm từ những nguyên vật liệu gì?
+ KL và ghi bảng: Xi măng được làm từ đá vôi, đất sét, thạch cao và một số chất khác.
+ YC HS trình bày lại quy trình sản xuất xi măng.
- Giới thiệu quy trình sản xuất xi măng.
- Mở rộng:
+ Hãy kể tên những nhà máy sản xuất xi măng ở nước ta.
+ Đưa tranh ảnh và giới thiệu một số nhà máy sản xuất xi măng ở nước ta. 
2.2. Hoạt động 2: Tính chất của xi măng (Phương pháp bàn tay nặn bột)
Bước 1: Câu hỏi nêu vấn đề
- Xi măng có những tính chất gì?
Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu
- Yêu cầu thảo luận nhóm và ghi ý kiến vào bảng nhóm.
- Gọi đại diện các nhóm lên trình bày ý kiến.
Bước 3: Đặt câu hỏi, đề xuất phương án thực nghiệm
* Đề xuất câu hỏi:
- Yêu cầu học sinh nêu câu hỏi băn khoăn, thắc mắc.
> Ghi bảng 
* Đề xuất phương án thực nghiệm:
- Yêu cầu học sinh đề xuất phương án giải quyết 
những băn khoăn thắc mắc trên.
- Để biết được hỗn hợp xi măng với nước có đặc điểm gì, chúng ta làm thế nào?
Bước 4:Tiến hành làm thí nghiệm
- Quan sát, giúp đỡ làm thí nghiệm (Nếu có vướng mắc)
Bước 5: Kết luận và hợp thức hoá kiến thức
- Yêu cầu các nhóm gắn bảng kết quả của nhóm và trình bày.
- Xi măng có tính chất gì?
->KL và ghi bảng: 
- Có màu xám xanh,trắng, nâu đất, bột mịn nhỏ.
- Không tan trong nước.
- Khi trộn với ít nước ->hỗn hợp dẻo, nhanh khô;khi khô, kết thành tảng, cứng như đá.
- Hãy nêu cách bảo quản xi măng?
> Cho HS xem xi măng bị hỏng, chốt cách bảo quản xi măng. 
2.3. Hoạt động 3: Công dụng của xi măng
- Gọi 1 HS đọc nội dung từ gạch đầu dòng thứ 2 đến hết phần thông tin màu xanh trang 59 SGK.
- YC HS nêu những sản phẩm từ xi măng.
- Yêu cầu TLN trong 2 phút: Nêu thành phần, tính chất, công dụng của vữa xi măng; Bê tông; Bê tông cốt thép.
- Yêu cầu học sinh trình bày từng ý: 
+ Nêu thành phần, tính chất, công dụng của vữa xi măng.
+ Khi sử dụng vữa xi măng, ta cần lưu ý điều gì?
+ Nêu thành phần, tính chất, công dụng của bê tông.
+ Cho HS xem video quy trình sản xuất bê tông cốt thép. Yêu cầu HS nêu thành phần, tính chất, công dụng của bê tông cốt thép.
- Liên hệ: Vữa xi măng, bê tông, bê tông cốt thép được sử dụng ở các công trình trong trường mình như thế nào?
- Mở rộng (chỉ tranh, vật thật): Giới thiệu một số công trình: Thuỷ điện, đường hầm, cầu, nhà cao tầng, lọ hoa, cốc, 
- Xi măng được dùng để làm gì?
->KL, ghi bảng : Xi măng được dùng trong xây dựng: xây nhà, làm đường, chậu cảnh
III. Củng cố, dặn dò:
- Yêu cầu HS nêu những hiểu biết về xi măng.
- Giới thiệu một số loại xi măng đặc biệt.
- Nhận xét tiết học và dặn HS chuẩn bị cho bài sau.
- 1 - 2 HS TL
- 1 - 2 HSTL
- 1-2 HSTL: Bức tường có vết nứt.
- 2-3 HS nêu cách xử lí
- HS ghi vở
- HS xem video.
- 2-3 HSTL 
- Ghi vở
- 1-2 HS khá giỏi trình bày
- HS nghe.
- 3-4 HS kể
- Quan sát, lắng nghe
- HS thảo luận và ghi lại ý kiến
- 3- 4 nhóm trình bày
- HS nêu câu hỏi
- Vài HS nêu
- 1-2 HS nêu
- Các nhóm thảo luận và tiến hành làm thí nghiệm.
- 2 nhóm trình bày, nhóm khác bổ sung (Nếu có)
- 2-3 HS nêu
- 2-3 HS nêu
- 1 HS đọc, cả lớp đọc thầm.
- 2-3 HS nêu: Vữa xi măng, bê tông, bê tông cốt thép.
- TL nhóm 2 phút.
- Vài nhóm trình bày, nhóm khác BS
- Vài HS nêu
- Quan sát, lắng nghe
- 2-3 HS nêu
- Ghi vở
- 2 -3 HS nêu
- Quan sát, lắng nghe
- Lắng nghe

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_van_dung_mot_so_phuong_phap_ky_thuat_d.doc
Sáng Kiến Liên Quan