Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học Cơ sở

Cơ sở lý luận:

Trong nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7- tập II, Ngữ văn 8- tập II và Ngữ văn 9- tập II, có đưa ra những bài học về cách thức tạo lập văn bản nghị luận, nhưng chưa đầy đủ cụ thể hệ thống để đáp ứng được việc tạo lập các văn bản mà đề ra quá phong phú, đa dạng. Thời lượng dành cho việc học tập thực hành các dạng bài nghị luận cũng là quá ít ỏi, không đầy đủ ở tất cả các dạng, nhất là ở lớp 9.

Lớp 7: Gồm 14 tiết, tìm hiểu chung về đặc điểm bài văn nghị luận, cách làm bài văn lập luận chứng minh, cách làm bài văn lập luận giải thích ( không kể tiết làm bài kiểm tra).

Lớp 8: Gồm có 6 tiết, ôn tập về luận điểm và hướng dẫn cách sử dụng yếu tố miêu tả, tự sự và biểu cảm vào bài văn nghị luận ( không kể tiết kiểm tra).

Lớp 9: Gồm có 14 tiết, hướng dẫn về về phép lập luận phân tích và tổng hợp, cách làm bài nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống; về một vấn đề tư tưởng đạo lí; về một bài thơ đoạn thơ và về một tác phậm truyện hoặc đoạn trích.

So lượng kiến thức bài học tập làm văn với lượng thời gian hướng dẫn học trên lớp cho học sinh lớp 9 như vậy là quá ít. Mỗi dạng lớn chỉ được học chung chung trong ba bốn tiết học.

Do vậy, học sinh rất khó hình thành cho mình những kỹ năng nghị luận văn học cần thiết để đáp ứng với việc bồi dưỡng học sinh giỏi.

 

doc23 trang | Chia sẻ: thuydung3ka2 | Ngày: 04/03/2022 | Lượt xem: 49 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện kỹ năng văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn Trung học Cơ sở", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c phẩm được Nguyễn Du dành nhiều tình cảm yêu thương trân trọng nhất, và cũng là nhân vật để lại nhiều ấn tượng, tình cảm sâu sắc nhất trong lòng người đọc người nghe bao thế hệ.
 Xây dựng nhân vật Thuý Kiều, Nguyễn Du đã bày tỏ được thái độ tình cảm nhân đạo sâu sắc cũng như tài năng nghệ thuật đặc sắc khi miêu tả khắc hoạ nhân vật của mình.
c. Kết bài: Khẳng định lại vẻ đẹp và cuộc đời bất hạnh của nàng Kiều, liên hệ với người phụ nữ hiện nay
Dạng 4. Nghị luận về chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm
- Nắm được khái niệm về chi tiết nghệ thuật: Chi tiết trong tác phẩm văn học được hiểu rất rộng rãi: một hình ảnh, một hành động, một dáng đi, một nụ cười, một ánh mắt, một giọng nói, một cảnh sắc thiên nhiên, một đồ vật trong phòng...thậm chí là một nhan đề của tác phẩm về cách gọi tên nhân vật 
- Ý nghĩa vai trò của chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm:
+ Nếu so sánh tác phẩm văn học là một cây xanh thì cốt truyện là gốc, là cành; còn chi tiết lầ nhánh là lá là hoa. Cốt truyện tạo nên rường cột, tạo nên cái khung, còn chi tiết làm phong phú sống động, xanh tươi cho tác phẩm.
 + Không có chi tiết nghệ thuật, tác phẩm sẽ trở nên khô khan, đơn điệu tẻ nhạt. Mọi tác phẩm văn học đều cần có chi tiết, muốn tác phẩm hay thì chi tiết nghệ thuật phải độc đáo, ý nghĩa, có khả năng gợi mở, tạo sự liên tương thú vị, đặc biệt là có giá trị thể hiện tư tưởng tác phẩm. Nhà văn M. Gorki nói: “ Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” là vì thế.
- Cách phân tích chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự
Khi gặp đề thuộc loại phân tích chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự, ta cần phải thực hiưện các công đoạn chính sau đây:
+ Giới thiệu chi tiết nghệ thuật: Nêu xuất xứ của chi tiết, tái hiện chi tiết, và có thể nói qua tác động của chi tiết đó đối với diễn biến của truyện.
+ Phân tích ý nghĩa của chi tiết ( ý nghĩa tư tưởng, ý nghĩa nhân văn) trong quan hệ với diễn biến của truyện, trong quan hệ giữa các nhân vật, trong quan hệ với chính bản thân nhân vật ( số phận và tính cách nhân vật).
+ Phân tích giá trị nghệ thuật của chi tiết ( nghệ thuật xây dựng hình tượng, nghệ thuật điển hình hoá, nghệ thuật kết cấu)
Tất cả những điều trên phải được phân tích trên cơ sở nắm được văn bản nghệ thuật và hiểu biết về tác phẩm, tác giả, không nói chung chung hoặc áp đặt vô căn cứ.
Khi làm bài có thể kết hợp giữa phân tích với giải thích, bình luận ở mức độ làm sáng tỏ thêm, sâu sắc thêm sự phân tích.
Ví dụ: Nhận xét về chi tiết nghệ thuật trong truyện, có ý kiến cho rằng: "Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn". Chi tiết chiếc bóng trong "Chuyện người con gái Nam Xương" đã thể hiện rõ điều đó.
Dạng 5 : Nghị luận về một đoạn văn ngắn
- Cần xác định được xuất xứ của đoạn văn ( thuộc tác phẩm nào, của ai, thuộc vị trí nào trong tác phẩm) để đặt trong tổng thể chung mà cảm nhận, phân tích, bình giá cho hợp lí.
- Có thể yêu cầu nghị luận về đoạn văn tự sự, đoạn văn biểu cảm, đoạn văn miêu tả hoặc đoạn văn nghị luậnVì vậy cần vận dụng các kiến thức về nghệ thuật của thể loại, kiểu văn bản và phương thức biểu đạt mà nghị luận. Cụ thể : chú ý về kiểu câu văn, từ ngữ, các chi tiết hình ảnh, sự việc, nhân vật, ngôn ngữ, nghệ thuật miêu tả, tự sự, biểu cảm ; các biện pháp tu từ...Từ các tín hiệu nghệ thuật đó để làm nổi bật nội dung của đoạn văn.
- Cách làm bài cũng tương tự như làm bài nghị luận về một đoạn thơ đã học. Nghĩa là có thể đặt các câu hỏi tìm ý về tín hiệu nghệ thuật và nội dung, sự so sánh liên hệ
- Dàn bài:
a. Mở bài: Giới thiệu đoạn văn cần nghị luận
- Có thể giới thiệu về tác giả, tác phẩm để dẫn đến đoạn văn
- Không cần thiết phải dẫn trực tiếp, đầy đủ đoạn văn vào mở bài ( vì thường đoạn văn dài), mà chỉ cần nêu lên sự việc nhân vật (đoạn văn tự sự), nêu nội dung chung của đoạn văn và dẫn câu đầu câu cuối ( đoạn miêu tả, biểu cảm, nghị luận); thậm chí nếu đoạn văn là mở đầu hoặc kết thúc của tác phẩm, thì chỉ cần giới thiêu là đoạn kết thúc hoặc mở đầu mà thôi.
- Nêu ấn tượng suy nghĩ chung về đoạn văn đó.
b. Thân bài: Lần lượt trình bày những cảm nhận, suy nghĩ đánh giá phân tích về các tín hiệu nghệ thuật nổi bật và nội dung cơ bản của đoạn trong sự thống nhất gắn liền với tác phẩm.
c. Kết bài: Khái quát và khẳng định lại giá trị nổi bật về nội dung và nghệ thuật của đoạn văn. Đánh giá ý nghĩa của đoạn trong thành công chung của tác phẩm, tác giả.
Ví dụ:
 Bài 1: Trình bày cảm nhận về đoạn văn sau: "Thiếp sợ dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa."
 (Chuyện người con gái Nam Xương- Nguyễn Dữ)
Bài 2: Trong truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa Pa”, Nguyễn Thành Long có viết:
“ Gian khổ nhất là lần ghi và báo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có cả mưa tuyết nữa đấy. Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn, ngọn đền bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực đợi mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật là dễ sợ: nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống như những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tungNhững lúc im lặng lạnh cóng mà lại hừng hực như cháy. Xong việc, trở vào, không thể nào ngủ lại được. ”
Viết bài văn ngắn cảm nhận về đoạn văn trên.
II. MỘT SỐ KĨ NĂNG KHÁC
1. Kĩ năng làm bài nghị luận về tác phẩm văn học gắn liền với việc 
giải quyết một ý kiến, nhận xét liên quan.
1.1 Những ý kiến nhận định mà đề đưa ra có thể là những nhận xét đánh giá về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm, về phong cách nhà thơ nhà văn, có thể là ý kiến nhận định liên quan tới lí luận văn học
1.2 Khi gặp dạng đề này cần làm theo gợi ý sau
a. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả tác phầm và vấn đề cần nghị luận
- Dẫn trực tiếp ý kiến, nhận định mà đề bài đưa ra
- Bày tỏ suy nghĩ cảm nhận chung của bản thân về nhận định, ý kiến đó
b. Thân bài: Lần lượt giải quyết các ý cơ bản
- Giải thích ý kiến, nhận định mà đề bài đưa ra (ngắn gọn, chỉ cốt để thấy được nội dung ý kiến ấy là gì)
- Dựa vào văn bản, tác phẩm tìm những dẫn chứng sát hợp với ý kiến nhận định để phân tích, chứng minh làm rõ ý kiến 
* Lưu ý: 
- Nếu ý kiến, nhận định mà đề đưa ra có nhiều vế, nhiều nội dung thì có thể chia tách từng vế, vừa giải thích vừa chứng minh (hoặc giải thích chung trước, sau đó chia ra từng vế mà chứng minh)
- Nếu ý kiến đưa ra là một vấn đề về lí luận văn học, cần phải có sự kết hợp cả kiến thức lí luận văn học liên quan để giải thích, phân tích. Khi làm bài phải đặt nội dung phân tích về tác phẩm, văn bản trong mối quan hệ chặt chẽ với kiến thức lí luận ấy.
c. Kết bài:
- Khẳng định lại ý kiến
- Đánh giá giá trị của tác phẩm thêm ở những phương diện khác, nâng cao thêm. 
Ví dụ 1: “ Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Tất cả tâm hồn chúng ta đọc, không phải chỉ có trí thức (). Cho đến một câu thơ kia, người đọc nghe thì thầm mãi trong lòng, mắt không rời trang giấy.”
 ( Tiếng nói của văn nghệ- Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 9 tập II)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy chứng tỏ rằng bài thơ “Đồng chí” ( Chính Hữu) là một bài thơ như thế.
2. Kĩ năng làm bài văn nghị luận tổng hợp, xâu chuỗi nhiều đối tượng
a. Cần hiểu đây là dạng bài nghị luận có tính chất tổng hợp và so sánh đối chiếu giữa nhiều đối tượng văn học. Có thể đề bài yêu cầu nghị luận về toàn bộ nội dung và nghệ thuật của hai hay nhiều tác phẩm; có thể yêu cầu nghị luận về một phượng diện như đề tài, nhân vật, cốt truyện, tình huống, chi tiết nghệ thuật, hình ảnhcủa các tác phẩm cùng hoặc không cùng tác giả, trào lưu, thời đại văn học
b. Khi làm bài cần chỉ ra chỗ giống và khác nhau giữa các đối tượng. Từ đó thấy được sự kế thừa, sáng tạo cách tân của tác giả, tác phẩm; thấy được phong cách tác giả, đặc điểm văn học một trào lưu, một giai đoạn, thời kì nào đóĐặc biệt cần chỉ ra được nguyên nhân, cơ sở của những đặc điểm đó là gì thì bài viết mới sâu sắc.
c. Dàn bài
- Mở bài: giới thiệu khái quát về các đối tượng và nêu ấn tượng nhạn xét chung
- Thân bài
Cách 1:
+ Làm rõ đối tượng thứ nhất
+ Làm rõ đối tượng thứ hai
+ Nhận xét, đánh giá làm nổi bật điểm chung giữa các đối tượng và nếu có thể thì khái quát thành đặc điểm phong cách sáng tác và sự kế thừa phát huy của tác giả ( nếu đối tượng của cùng tác giả), đặc điểm của trào lưu, thời kì văn học ( không cùng tác giả mà cùng trào lưu, cùng thời kì văn học)
+ Chỉ ra và làm rõ điểm riêng, khác biệt từ đó phân tích nguyên nhân của những sự khác nhau ấy. Có thể làm nổi bật sự cách tân, sáng tạo của tác giả.
Cách 2 : 
+ Nghị luận lần lượt những điểm chung giữa các đối tượng. Mỗi điểm chung lịa phân tích từng đối tượng để làm rõ.
-> Khái quát thành đặc điểm phong cách sáng tác và sự kế thừa phát huy của tác giả ( nếu đối tượng của cùng tác giả), đặc điểm của trào lưu, thời kì văn học ( không cùng tác giả mà cùng trào lưu, cùng thời kì văn học)
+ Nghị luận làm rõ những điểm riêng giữa các đối tượng. Sau đó phân tích nguyên nhân của những sự khác nhau ấy, có thể làm nổi bật sự cách tân, sáng tạo của tác giả.
- Kết bài: Khái quát khẳng định lại những điểm chung riêng nổi bật của các đối tượng. Có thể nêu cảm nghĩ của bản thân.
Ví dụ:
Bài 1: Cảm nhận của em về cuộc đời số phận của Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Dữ) và Thuý Kiều trong những đoạn trích từ “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) mà em đã được học .
Làm cho khốc liệt chẳng qua vì tiền”
Bài 2: Trong bài Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải viết :
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa.
 Kết thúc bài Viếng lăng Bác, Viễn Phương có viết :
Mai về Miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác.
 Trình bày cảm nhận của em về những câu thơ trên.
3. Kĩ năng so sánh văn học
3.1. Mục đích: So sánh là một thao tác của tư duy.Trong quá trình nhận thức thế giới khách quan, kĩ năng so sánh bao giờ cũng giúp phát hiện cái mới, cái khác biệt. Đối với việc cảm thụ phân tích văn chương, so sánh thường hướng vào hai mục đích chính:
- Chỉ ra những nét riêng, nét độc đáo, sáng tạo; phát hiện những vẻ đẹp văn chương không lặp lại, những đóng góp cụ thể của nhà văn nhà thơ.Sự cảm thụ phân tích được đầy đủ chu đáo.
- Phát hiện những quy luật chung giữa những tác phẩm, tác giả,hoặc giai đoạn văn họcViệc rút ra những quy luật chung giúp cho nhận thức của người phân tích một vấn đề trở nên sâu sắc hơn, vững vàng hơn và từ đó đặt nền móng cho những phát hiện mới mẻ khác.
3.2. Những hình thức cấp độ so sánh:
Kĩ năng so sánh có hể thực hiện trên nhiều cấp độ. Nhỏ thì là ở cách dùng từ, hình ảnh, hình tượng; lớn thì ở đề tài, tác phẩm, tư tưởng, phong cách Thậm chí có thể so sánh giữa các giai doạn văn học, thời kì văn học, những đặc điểm của các nền văn học. Sau đây là một số hình thức cấp độ thường dùng:
a. Hình thức so sánh ở cấp độ hình ảnh:
Từ một hình ảnh này ta có thể so sánh với hình ảnh khác trên cơ sở tương đồng hoặc tương phản có tác dụng làm nổi bật hình ảnh được so sánh, thể hiện rõ những nét chung nào đó. 
Ví dụ phân tích về hình ảnh trong hai câu thơ tả mùa xuân của Nguyễn Du có thể so sánh với hai câu thơ cổ của Trung Quốc; phân tích hình ảnh “ Thương nắm tay năm lấy bàn tay” trong thơ Chính Hữu với hình ảnh “ Bắt tay qua cửa kính võ rồi” của Phạm tiến Duật; 
b. Hình thức so sánh ở cấp độ tác phẩm:
 Khi phân tích một tác phẩm ta có thể so sánh với:
- Những tác phẩm trước nó để thấy được sự kế thừa và cách tân.
- Những tác phẩm sau nó để thấy đặc điểm của văn học thời đại và sự phát triển của văn học nói chung.
- Những tác phẩm cùng thời để thấy sự độc đáo.
- Những tác phẩm của chính nhà văn để thấy vẻ riêng hoặc một quy luật chung nào đấy.
VD: Nói về tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao có thể so sánh với “Chí Phèo”, với “Tắt đèn”
c. Hình thức so sánh ở cấp độ đề tài:
Để nhận ra giá trị nghệ thuật của tác phẩm, kĩ năng so sánh ở cấp độ này cũng tỏ ra rất đắc dụng. Và điều quan trọng trong văn chương không phải là đề tài mà là cách xử lí đề tài của tác giả.
 Cùng viết về đề tài người nông dân trước cách mạng nhưng Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Kim Lânlại có những khám phá rất khác nhau; cùng lấy mùa thu làm cảm hứng nhưng Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Lưu Trọng Lưlại có những cảm nhận riêng; thậm chí ở cùng một tác gỉa, mùa thu cũng được phat hiện với bao vẻ đẹp phong phú ( VD cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ trong thơ Huy Cận trước và sau cách mạng có những nét riêng do sự thay đổi trong tư tưởng, thế giới quan nhân sinh quan của tác giả). 
So sánh những cách diễn tả, thể hiện đề tài, cảm hứng của tác giả, tác phẩm như thế sẽ thấy được những nét mới mẻ, phát triển
d. Hình thức so sánh về khuynh hướng tư tưởng: So sánh về tư tưởng, tình cảm, cách nhìn đời nhìn người
VD: Cùng tư tưởng nhân đạo nhưng giữa những tác giả Ngô Tất Tố và Nam Cao lại có những biểu hiện khác nhau. Tư tưởng nhân đạo tuy là cái nền của mỗi tác phẩm, là cái chân giá trị, là mẫu số chung của mọi tác phẩm, là điểm gặp gỡ giữa những nhà văn chân chính nhưng với mỗi tác giả cụ thể ta có thể gặp những nét đặc sắc riêng.
3.3. Yêu cầu:
- Phải có vốn kiến thức phong phú, có tư duy sắc sảo, sự lien tưởng nhạy bén.. phải biến so sánh trở thành một phản xạ thường trực trong tư duy.
- So sánh phải hợp lí, phỉ cùng cấp độ phương diện 
- So sánh phải có tính phat hiện, phải tìm ra được nét mới, nghĩa là phải có mục đích.
- So sánh phải có mức độ, chừng mực, phù hợp phạm vi, đối tượng.
3.4. Cách sử dụng:
- Dẫn câu thơ, hình ảnh, tên tác phẩm mà không cần phân tích, chỉ dùng như một sự liên tưởng hoặc sự vay mượn để diễn đạt.
Ví dụ 1: Trong những kỉ niệm cái thời quân ngũ ấy, có rất nhiều điều đáng nhớ. Nhớ nhất là tình đồng chí đồng đội sẻ chia nhau những ngọt bùi, gian khổ.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Đây là những cơn sốt rét rừng thường gặp, một căn bênh rất nguy hiểm, hay dẫn đến tử vong, nếu không thì cũng làm cho người lính có những biểu hiện khác lạ về ngoại hình như trong thơ Quang Dũng “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” ( Tây Tiến). Và ở đây, những người lính đã phải trải qua những cơn “sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”. Vì hiểu nhau hiểu đến mức “ Hiểu nhau rồi hiểu lắm bạn, đời ơi” ( Tố Hữu) mà họ sẻ chia những đau ốm bệnh tật để có thể vẫn “ miệng cười buốt giá” nhìn nhau. Một nụ cười vừa tươi vui, vừa xuýt xoa vì rét, vì lạnh. Vượt qua những cơn lạnh thấu xương ấy chỉ có thể bằng nghị lực, bằng sự nâng đỡ của tình đồng chí đồng đội. Bởi thế nụ cười tuy thấm thía gian khổ thiếu thốn mà vẫn hồn nhiên, yêu đời”.
Ví dụ 2: Trở lại với phong cách thơ của Phạm Tiến Duật, đọc “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, cũng như một và tác phẩm khác của ông- “Lửa đèn”, “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây”, “Nhớ”chúng ta thật thú vị khi nhận ra chất giọng rất trẻ, rất lính của bài thơ. Chất giọng ấy bắt nguồn từ sức trẻ, từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Qua đó mà làm nổi bật được niềm vui sôi nổi, tâm hồn trẻ trung tinh nghịch, tếu táo cuả những người lính trong cuộc kháng chiến chống Mĩ đầy gian khổ, hiểm nguy.
- Dẫn câu thơ, hình ảnh, có sự phân tích, đánh giá làm nổi bật vấn đề
Ví dụ 1: 
“ Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” 
 ( Truỵên Kiều)
Hai câu thơ thực là một bức tranh xuân tuyệt mĩ. Không gian khoáng đạt, trong trẻo, thảm cỏ non trải rộng tận chân trời. Trên nền xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa trắng. Thơ cổ Trung Hoa có câu “ Phương thảo liên thiên bích/ Lê chi sổ điểm hoa”( Cỏ non liền với trời xanh/ Trên cành lê có mấy bông hoa). Nguyễn Du đã sáng tạo câu thơ ấy, dùng cỏ non thay vì cỏ thơm để tô đậm màu sắc- màu xanh nhạt pha lẫn vàng chanh, hợp với màu lam trong sáng của chân trời ngày xuân, trên đó điểm xuyết sắc trắng thanh khiết, tinh khôi của hoa lê, làm thành bức tranh dung hoà những sắc độ lạnh mà vẫn rạo rực sức sống bên trong. Chữ trắng đảo lên trước gây ấn tượng mạnh, chữ điểm gợi bàn tay hoạ sĩ- thi sĩ vẽ nên thơ nên hoạ, như bàn tay tạo hoá tạo cảnh xuân tươi, khiến cảnh có hồn và sống động. ( Lê Trí Viễn)
Ví dụ 2: Trời vừa sáng, thấy người bị nạn, ông Ngư nhanh nhẹn “ Vớt ngay lên bờ” rồi:
“ Hối con vầy lửa một giờ
Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày”
Cả gia đình ông Ngư, mỗi người mỗi việc, ai cũng gấp gáp khẩn trương, phối hợp nhịp nhàng hết lòng hết sức cứu Vân Tiên.Chưa biết nạn nhân là ai, nguyên cớ như thế nào, cứ thấy việc nghĩa là làm, thấy người là cứu bằng cả tấm lòng chân tình, chu đáo của mình. Đó là bản tính của những con người lương thiện, những người lao động bình thường đáng ngưọi ca trân trọng. Thậm chí khi biết sự tình hoàn cảnh của Vân Tiên, ông Ngư còn mời Vân Tiên ở lại để “ hôm mai hẩm hút với già cho vui” nhằm cưu mang, giúp đỡ Vân Tiên. Tấm lòng nhân nghĩa của ông Ngư khiến ta nhớ đến ông Quán, ông Tiều cũng cứu giúp Vân Tiên bằng tình thương người như thế. Ông Quán khi thấy Vân Tiên phải bỏ thi trở về, lại khóc mẹ mà mù đôi mắt, xuất phát từ tình cảm “thương đấng anh hùng” mà chaỵ theo đưa cho Vân Tiên ba hườn thuốc phòng khi đường đi quá khó “ thuốc thần cũng no”; ông Tiều thì tuy tuổi già sức yếu vẫn “ lão ra sức lão cõng Tiên về nhà” khi gặp Vân Tiên trong núi Thương Tòng. Ông Quán, ông Tiều hay ông Ngư đều là những người nhân nghĩa. Tấm lòng nhân nghĩa nhân dân của họ cũng chính là tấm lòng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm thể hiện trong tác phẩm của mình.).
C. KÕt luËn vµ khuyÕn nghÞ
Ai đó đã từng nói: “Dạy nhiều, kiểm tra ít- học ít phải làm nhiều”. Theo tôi đó là một cách tốt để đánh giá lực học của học sinh. Nó buộc học sinh phải cải tiến cách học và biết phương pháp thể hiện kiến thức. Những loại bài nghị luận trên đây đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của mình từ bài học hiện tại, từ những năm trước và thể hiện kĩ năng viết được rèn luyện qua nhiều năm mới mong có thành công tốt. Kinh nghiệm mà tôi đã trình bày là rút ra từ thực tế hướng dẫn học sinh qua nhiều năm giảng dạy, nhiều kháo học sinh đã học tập, thi cử đạt kết quả khá cao trong các kì thi, từ kiểm định chất lượng, đến thi chuyển cấp, nhất là thi học sinh giỏi các cấp huyện và tỉnh. Hi vọng nó cũng có thể gỡ bí cho một số học sinh hiện nay và gợi ý thêm một cách học Văn lâu dài.
Để việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn chương như đã trình bày ở trên một cách hiểu quả, người giáo viên cần biết chọn thời gian, phân chia nội dung kiến thức hướng dẫn rèn luyện cho cụ thể, phù hợp với các đối tượng học sinh. Ở đây vừa có kiến thức ôn luyện, vừa có kiến thức mở rộng, nâng cao, bài tập nghị luận lại rải đều ở nhiều văn bản học tập từ đầu năm đến cuối năm lớp 9, nên càng không thể vận dụng máy móc.
- Khi dạy học, cần hướng dẫn kĩ cho học sinh cả kĩ năng diễn đạt luận điểm, kĩ năng chuyển tiếp, liên kết các luận điểm, các phần, các đoạn.
- Cần thiết rèn luyện kĩ năng bình giảng, kĩ năng so sánh văn học, kĩ năng giải quyết các đề bài lí luận văn học, kĩ năng nghị luận về một chi tiết nghệ thuật đối tượng học sinh dự thi học sinh giỏi các cấp, còn các kĩ năng khác thì rèn luyện cho mọi đối tượng. 
- Kiến thức các kĩ năng có thể cung cấp, củng cố vào các buổi học thêm, song song với chương trình học tập buổi sáng.
- Đặc biệt, vào giai đoạn ôn luyện cho học sinh thi chuyển cấp đạt kết quả, giáo viên nên có thao tác hệ thống lại tất cả các kĩ năng, và ra hệ thống bài tập rèn luyện theo từng dạng bài nghị luận cụ thể sao cho học sinh rèn luyện thành thạo kĩ năng và nắm vững kiến thức về tác phẩm văn chương để có thể tự tin khi tạo lập một văn bản nghị luận văn học bất kì.
Báo cáo này chỉ là do bản thân học hỏi, đúc rút kinh nghiệm qua nhiều năm giảng dạy, nên chắc chắn không có nhiều mới lạ, cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các đồng nghiệp tham khảo và góp ý chân thành để việc dạy học của chúng ta có hiệu quả tốt hơn.
Đánh giá của HĐKH trường Người thực hiện
 Ngô Mậu Tình
Đánh giá của HĐKH phòng GD&ĐT

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_ren_luyen_ky_nang_van_nghi_luan_cho_ho.doc
Sáng Kiến Liên Quan