Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng đổi đơn vị đo lường cho học sinh Lớp 5

THỰC TRẠNG CỦA NỘI DUNG CẦN NGHIÊN CỨU:

Qua thực tế giảng dạy lớp 5 tôi nhận thấy rằng: Khi làm bài tập về đổi đơn vị đo lường, học sinh thường lúng túng không biết bắt đầu từ đâu, không biết xác định dạng toán chuyển đổi, không chắc chắn kết quả bài làm của mình chính xác hay chưa. Học sinh thường nhầm lẫn cách chuyển đổi giữa các đơn vị đo khối lượng, độ dài, diện tích, thể tích, thời gian.

Qua khảo sát chất lượng, bản thân tôi đã nhận thấy HS lớp 5 ở trường chúng tôi khi làm toán về đổi đơn vị đo lường thường sai do những nguyên nhân sau:

a) Do chưa thuộc kỹ thứ tự bảng đơn vị đo. HS không xác định được trong bài toán đổi đơn vị đo đơn vị nào là đơn vị lớn, đơn vị nào là đơn vị bé hơn nên sử dụng các phép tính để đổi sai, từ đó dẫn tới kết quả sai. Vì vậy khi học mới hay ôn tập bất cứ bảng đơn vị đo đại lượng nào, GV phải thường xuyên kiểm tra mức độ nắm thứ tự các đơn vị đo trong từng bảng từ lớn đến bé hay từ bé đến lớn.

VD: 4,3 yến = . tấn

- Một số HS thực hiện: 4,3 yến = 430 tấn. HS đã sai khi cho rằng

 1 yến = 100 tấn.

 b) Do còn nhầm lẫn quan hệ giữa 2 đơn vị liền nhau của đơn vị đo độ dài với đơn vị đo diện tích và đơn vị đo thể tích. GV cần hướng dẫn học sinh nắm chắc mối quan hệ giữa các đơn vị đo trong từng bảng đơn vị đo đại lượng.

 VD: 15 dm3 = .m3

- Có HS thực hiện: 15 m3 = 1500 dm3. HS đã sai khi nhầm lẫn: 1 m3 = 100 dm3

( nhầm lẫn đơn vị đo thể tích với đơn vị đo diện tích)

 c) Do khả năng tính toán còn hạn chế. Đây cũng là một trong những sai lầm khá phổ biến của học sinh. Vì vậy trước khi làm toán GV cần nhắc nhở HS tính toán cẩn thận.

d) Do chưa xác định được các dạng toán cơ bản và cách giải các bài toán cơ bản về chuyển đổi đơn vị đo lường.

 

doc14 trang | Chia sẻ: thuydung3ka2 | Ngày: 04/03/2022 | Lượt xem: 39 | Lượt tải: 0Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng đổi đơn vị đo lường cho học sinh Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở bậc trung học. Môn Toán giúp HS nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực. Đối tượng nghiên cứu của toán học với quan hệ về số lượng và hình dạng là thế giới của hiện thực vì thế ở tiểu học cho dù là những kiến thức đơn giản nhất cũng là những thể hiện của các mối quan hệ về số lượng và hình dáng không gian. Chẳng hạn, các mối quan hệ về số lượng bao gồm các quan hệ cộng, trừ, nhân, chia, lớn hơn, nhỏ hơn, bằng hoặc những quan hệ giữa những đại lượng : VD : quãng đường, thời gian, vận tốc ; diện tích với chiều dài, chiều rộng hoặc với cạnh đáy, chiều cao Các hình dáng không gian bao gồm : các biểu tượng hình học : hình tròn, hình chữ nhật, hình vuông, 
	Môn Toán còn góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh. Những thao tác tư duy có thể rèn luyện cho HS qua môn Toán bao gồm phân tích tổng hợp, so sáng, tương tự, khái quát hóa, tổng hợp hóa, cụ thể hoá, đặc biệt hóa. Các phẩm chất trí tuệ có thể rèn luyện cho HS bao gồm : tính độc lập, tính linh hoạt, tính nhuần nhuyễn, tính sáng tạo. 
	Chương trình môn Toán ở Tiểu học có nhiều mảng kiến thức như: Yếu tố hình học, yếu tố thống kê, số học, tỉ lệ bản đồ, giải toán có lời văn,Trong đó, yếu tố đo lường giữ vai trò rất quan trọng vì mảng kiến thức này sẽ giúp học sinh vận dụng vào thực tiễn cuộc sống rất nhiều. Hệ thống các kiến thức trong nội dung đo lường ở tiểu học được xây dựng theo cấu trúc đồng tâm như các nội dung khác của toán học nói riêng và các môn học khác nói chung. Hệ thống các kiến thức được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Nội dung giảng dạy đơn vị đo lường các em được làm quen từ lớp 1 và hoàn chỉnh ở lớp 5. Ngay từ lớp 1, học sinh đã được làm quen với đơn vị đo độ dài là cm, biết đọc, viết và đo các đoạn thẳng hoặc các vật có độ dài dưới 20cm. Lớp 2 , 3 các em dần dần làm quen lần lượt với các đơn vị đo độ dài, đơn vị đo khối lượng, đơn vị đo thời gian, biết thực hành cân, đo và đổi một số đơn vị đo đã học. Lớp 4 học sinh đã được hoàn chỉnh bảng đơn vị đo khối lượng, đo độ dài, đo thời gian, được học các đơn vị đo diện tích từ mà mm và bước đầu biết đổi các đơn vị đo đơn giản. Lớp 5 hình thành bảng đơn vị đo diện tích, được biết về một số đơn vị đo thể tích thường dùng, củng cố toàn bộ hệ thống các đơn vị đo lường thông qua nhiều tiết luyện tập. Chương trình đo lường toán 5 chiếm tỉ lệ lớn hơn so với chương trình đo lường của các lớp dưới, rèn kỹ năng đổi đơn vị nhiều hơn và mang tính tổng hợp hơn. Mặt khác, ở lớp 5 học sinh đã được học đến số thập phân nên các dạng bài tập cũng phong phú hơn.
 Các bài tập về chuyển đổi đơn vị đo lường mang tính khái quát cao và là một trong những dạng bài tập để rèn luyện tư duy. Đối với lứa tuổi tiểu học, hoạt động nhận thức chủ yếu là cảm tính, trực quan sinh động, chưa nhận thức rõ thuộc tính đặc trưng của sự vật. Do đó học sinh rất khó khăn trong việc nhận thức đại lượng và đổi các đơn vị đo đại lượng. Vì vậy để nâng cao chất lượng dạy học các bài toán về đổi đơn vị đo lường tôi đã nghiên cứu và chọn đề tài “ Rèn kỹ năng đổi đơn vị đo lường cho học sinh lớp 5”.
 b) Phạm vi và những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm .
- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài là nội dung, các dạng toán đổi đơn vị đo lường ở lớp 5.
- Điểm mới của sáng kiến đã nêu ra một cách có hệ thống các dạng toán về chuyển đổi các đơn vị đo lường trong toán 5, một số biện pháp giúp học sinh nhận dạng và làm đúng các bài tập có liên quan. Sáng kiến cũng đã đưa ra một số ví dụ cụ thể, thường gặp trong SGK toán 5 và cách thức giải quyết từng ví dụ đó.
1.2. PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN:
 Sáng kiến được áp dụng trong công tác giảng dạy môn Toán cho học sinh lớp 5 ở trường tiểu học và bồi dưỡng đội tuyển học sinh tham gia các kì thi HSG .
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. THỰC TRẠNG CỦA NỘI DUNG CẦN NGHIÊN CỨU:
Qua thực tế giảng dạy lớp 5 tôi nhận thấy rằng: Khi làm bài tập về đổi đơn vị đo lường, học sinh thường lúng túng không biết bắt đầu từ đâu, không biết xác định dạng toán chuyển đổi, không chắc chắn kết quả bài làm của mình chính xác hay chưa. Học sinh thường nhầm lẫn cách chuyển đổi giữa các đơn vị đo khối lượng, độ dài, diện tích, thể tích, thời gian. Do đó kết quả làm bài chưa cao. Cụ thể, chất lượng kĩ năng đổi đơn vị đo lường trong đợt kiểm tra toán cuối học kì 1 lớp 5 ở trường chúng tôi trong năm học 2013 - 2014 như sau:
Khối/ lớp
Giỏi 
Khá
TB
Yếu
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
Khối 5
20
23,8
40
47,7
17
20,2
7
8,3
Lóp 5C
8
26,7
12
40
8
26,7
2
6,6
Qua khảo sát chất lượng, bản thân tôi đã nhận thấy HS lớp 5 ở trường chúng tôi khi làm toán về đổi đơn vị đo lường thường sai do những nguyên nhân sau:
a) Do chưa thuộc kỹ thứ tự bảng đơn vị đo. HS không xác định được trong bài toán đổi đơn vị đo đơn vị nào là đơn vị lớn, đơn vị nào là đơn vị bé hơn nên sử dụng các phép tính để đổi sai, từ đó dẫn tới kết quả sai. Vì vậy khi học mới hay ôn tập bất cứ bảng đơn vị đo đại lượng nào, GV phải thường xuyên kiểm tra mức độ nắm thứ tự các đơn vị đo trong từng bảng từ lớn đến bé hay từ bé đến lớn.
VD: 4,3 yến = ... tấn
- Một số HS thực hiện: 4,3 yến = 430 tấn. HS đã sai khi cho rằng 
 1 yến = 100 tấn.
 b) Do còn nhầm lẫn quan hệ giữa 2 đơn vị liền nhau của đơn vị đo độ dài với đơn vị đo diện tích và đơn vị đo thể tích. GV cần hướng dẫn học sinh nắm chắc mối quan hệ giữa các đơn vị đo trong từng bảng đơn vị đo đại lượng. 
 VD: 15 dm3 = ...m3
- Có HS thực hiện: 15 m3 = 1500 dm3. HS đã sai khi nhầm lẫn: 1 m3 = 100 dm3
( nhầm lẫn đơn vị đo thể tích với đơn vị đo diện tích)
 c) Do khả năng tính toán còn hạn chế. Đây cũng là một trong những sai lầm khá phổ biến của học sinh. Vì vậy trước khi làm toán GV cần nhắc nhở HS tính toán cẩn thận.
d) Do chưa xác định được các dạng toán cơ bản và cách giải các bài toán cơ bản về chuyển đổi đơn vị đo lường.
2.2. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
2.2.1. Phân loại bài tập đổi đơn vị đo lường.
 Để rèn luyện kỹ năng đổi đơn vị đo cho học sinh trước hết giáo viên phải tìm hiểu kĩ nội dung, yêu cầu của sách giáo khoa, từ đó phân loại được các bài tập về đổi đơn vị đo lường. Có thể chia thành 4 loại bài như sau:
 Loại thứ nhất: Đổi đơn vị đo độ dài và khối lượng
 Loại thứ hai: Đổi đơn vị đo diện tích.
 Loại thứ ba: Đổi đơn vị đo thể tích
 Loại thứ tư: Đổi đơn vị đo thời gian
 Trong mỗi loại bài trên đều có các dạng bài tập:
 Dạng 1: Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé
 Loại 1. Đổi từ danh số đơn sang danh số đơn.
 Loại 2. Đổi từ danh số phức sang danh số đơn.
 Loại 3. Đổi từ danh số đơn sang danh số phức.
 Dạng 2: Đổi từ đơn vị bé sang đơn vị lớn.
 Loại 1. Đổi từ danh số đơn sang danh số đơn.
 Loại 2. Đổi từ danh số phức sang danh số đơn.
 Loại 3. Đổi từ danh số đơn sang danh số phức.
 2.2.2 Cách giải từng dạng bài cụ thể:
a) Đổi đơn vị đo độ dài và đơn vị đo khối lượng
 Dạng 1. Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé.
 Loại 1. Đổi từ danh số đơn sang danh số đơn:
 Ví dụ :                 4,583 tấn = .........tạ                            
 Cách 1. Nhân với 10, 100, 1000,..
Bước 1: GV phải cho HS so sánh hai đơn vị  tấn và tạ để xác định được đây là dạng đổi từ đơn vị đo khối lượng lớn sang đơn vị bé.
Bước 2: Cho HS xác định mối quan hệ giữa hai đơn vị đo đó: Đây là hai đơn vị đo khối lượng liền kề nhau.
Bước 3: Cho HS nhân nhẩm với 10, 100, 1000,...bằng cách Dịch chuyển dấu phẩy sang phải mỗi đơn vị đo liền sau nó là một chữ số hoặc thêm 1 chữ số 0 ứng với một đơn vị đo. Giáo viên có thể hướng dẫn trực tiếp ở bảng đo độ dài hoặc bảng đo khối lượng .
 Kết quả: 4,583 tấn = 45,83 tạ      
 4,583 x 10 = 45,83 (dịch chuyển dấu phẩy sang phải 1 chữ số)
 Cách 2. Phân tích: Xuất phát từ chữ số hàng đơn vị của số 4,583 ứng với đơn vị tấn; xác định các chữ số còn lại ứng với lần lượt từng đơn vị tiếp theo trong bảng đơn vị đo khối lượng.
 Ta có:
tấn
tạ
yến
kg
4
5
8
3
 Kết quả: 4,583 tấn = 45,83 tạ       
 Loại 2. Đổi từ danh số phức sang danh số đơn.
Cách làm: Đổi lần lượt từng đơn vị về đơn vị cần đổi, sau đó cộng các kết quả lại.
        Ví dụ : Đổi:   8 km 5 m = ... m    
Cách 1: Lần lượt đổi   8 km = 8000 m và giữ nguyên 5 m, sau đó thực hiện phép tính cộng: 8000 m  + 5 m = 8005 m
 Vậy: 8 km 5 m = 8005 m    
Cách 2: Lập bảng đổi  dưới dạng đơn giản                     
    Ta có:              
km
hm
dam
m
8
0
0
5
 -> Kết quả: 8 km 5 m = 8005 m     
 Dạng 2. Đổi từ đơn vị bé sang đơn vị lớn
Loại 1. Đổi từ danh số đơn sang danh số đơn.
 Ví dụ: 70 cm = .... m                                    
Cách 1: Chia cho 10, 100, 1000,..
Bước 1: GV phải cho HS so sánh hai đơn vị  cm và m để xác định được đây là dạng đổi từ đơn vị đo độ dài từ đơn vị bé sang đơn vị lớn.
Bước 2: Cho HS xác định mối quan hệ giữa hai đơn vị đo đó.
Bước 2:  Cho HS chia nhẩm cho 10, 100, 1000,..bằng cách Dịch chuyển dấu phẩy sang trái mỗi đơn vị đo liền trước nó là một chữ số hoặc xóa 1 chữ số 0 ứng với một đơn vị đo.
 Kết quả: 70 cm = 0,7 m
Cách 2: Lập bảng như sau:
    Ta có:              
m
dm
cm
0
7
0
 Kết quả: 70 cm = 0,7 m
    Loại 2. Đổi từ danh số phức sang danh số đơn.
Cách làm: Đổi lần lượt từng đơn vị về đơn vị cần đổi, sau đó cộng các kết quả lại.
        Ví dụ: Đổi:   8 km 5 m = ... hm   
Cách 1: Thực hiện: Đổi: 8 km = 80 hm, 5 m = 0,05 hm , sau đó thực hiện phép tính cộng: 80 hm  + 0,05 hm = 80,05 hm
Cách 2: Lập bảng đổi  dưới dạng đơn giản   :                  
            Ta có:              
km
hm
dam
m
8
0
0
5
 -> Kết quả: 8 km 5 m = 80,05 hm     
 Loại 3. Đổi từ danh số đơn sang danh số phức.
 Ví dụ : Đổi:   8125 m = ... km    ... m
Cách 1: Thực hiện phép chia cho 1000. 
 Ta có: 8125 : 1000 = 8 (dư 125)
 Kết quả: 8125 m = 8 km 125 m
Cách 2: Phân tích
 Ta có: 8125 m = 8000 m + 125 m = 8 km + 125m
 Kết quả: 8125 m = 8 km 125 m
Cách 3: Lập bảng đổi  dưới dạng đơn giản   :                  
           Ta có:              
km
hm
dam
m
8
1
2
5
 -> Kết quả: 8125 m = 8 km  125 m
* Một vài lưu ý: Khi hướng dẫn học sinh lập bảng để đổi, giáo viên cần hướng dẫn học sinh:
- Xác định đúng yêu cầu bài tập cần đổi ra đơn vị nào.
- Đối với bài tập đổi từ đơn vị nhỏ ra đơn vị lớn thì chữ số hàng đơn vị của nó luôn gắn với tên đơn vị đó trong bảng điền, sau đó cứ mỗi chữ số hàng tiếp theo gắn với 1 đơn vị liền trước nó, nếu thiếu chữ số thì tiếp tục viết chữ số 0 cho đến đơn vị cần đổi.
 - Điền dấu phẩy vào sau đơn vị cần đổi rồi ghi kết quả vào bài làm.
b) Đơn vị đo diện tích
 Dạng 1. Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé.
 Cách làm tương tự như đổi đơn vị đo độ dài hoặc khối lượng, giáo viên chỉ cần lưu ý học sinh quan hệ của các đơn vị đo: Hai đơn vị đo liền kề nhau hơn kém nhau 100 lần nên khi đổi từ đơn vị từ lớn sang đơn vị bé, mỗi đơn vị đo liền sau nó phải thêm 2 chữ số 0 (đối với số tự nhiên) hoặc dịch chuyển dấu phẩy sang phải mỗi đơn vị 2 chữ số.
Ví dụ 1 :  16,5 m2 =  cm2 
 Cách 1: Ta có: 1 m2 = 10000 cm2 . Ta thực hiện: 16,5 x 10000 = 165000
Kết quả: 16,5 m 2 = 165000 cm2 ( Dời dấu phẩy sang phải 4 chữ số ) 
 Cách 2: Lập bảng đổi  dưới dạng đơn giản:
            Ta có:              
m2
dm2
cm2
16
50
00
 -> Kết quả: 16,5 m2 = 165000 cm2 
Dạng 2. Đổi từ đơn vị bé sang đơn vị lớn
 -  Khi đổi đơn vị từ nhỏ đến lớn ta chỉ việc dời dấu phẩy từ phải sang trái mỗi đơn vị đo liền trước nó 2 chữ số, nếu thiếu chữ số thì ta thêm chữ số 0 vào bên trái cho đủ mỗi đơn vị 2 chữ số rồi đánh dấu phẩy sau đơn vị cần đổi. 
Ví dụ1 :  65 dm2 =  m2 
 Cách 1: Ta có : 65 : 100 = 0,65
Kết quả: 65 dm2 = 0,65 m2 
 Cách 2: Lập bảng đổi  dưới dạng đơn giản:
            Ta có:              
m2
dm2
00
65
 -> Kết quả: 65 dm2 = 0,65 m2 
Ví dụ 2 : 16m2 8dm2 = ........m2
 Cách 1: Thực hiện:
 16m2 8 dm2 = ........m2; 
 16m2 + 0,08m2 = 16,08 m2
-> Kết quả: 16m2 8dm2 = 16,08m2
Cách 2: Lập bảng đổi  dưới dạng đơn giản:
            Ta có:              
m2
dm2
16
08
 -> Kết quả: 16m2 8dm2 = 16,08m2
c) Đơn vị đo thể tích
 Cách thực hiện các dạng bài tương tự như chuyển đổi các đơn vị đo độ dài, khối lượng, diện tích. Lưu ý: Mỗi đơn vị đo thể tích liền kề nhau hơn kém nhau 1000 lần.
 Dạng 1. Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé.
 - Nhân nhẩm với 1000, 1000 000,.. hay dịch chuyển dấu phẩy từ trái  sang phải mỗi đơn vị đo liền sau nó là ba chữ số hoặc thêm 3 chữ số 0 ứng với một đơn vị đo.
 Dạng 2.Đổi từ đơn vị bé sang đơn vị lớn
 - Chia cho 1000, 1000 000,.. hay Dịch chuyển dấu phẩy từ phải sang trái mỗi đơn vị đo liền sau nó là ba chữ số hoặc thêm 3 chữ số 0 ứng với một đơn vị đo.
d) Đơn vị đo thời gian
 Dạng 1. Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé
 Bản chất của việc đổi đơn vị đo thời gian cũng tương tự như cách đổi các đơn vị đo độ dài, khối lượng, diện tích, thể tích. Tuy nhiên vì quan hệ giữa các đơn vị đo thời gian không đồng nhất nên học sinh thường nhầm lẫn và có kết quả làm bài chưa chính xác. Do đó GV cần giúp HS nắm chắc mối quan hệ của các quan hệ của đơn vị đo thời gian rồi đổi lần lượt từng đơn vị đo bằng cách suy luận và tính toán. 
 Ví dụ 1 : 2 năm 3 tháng = tháng
 12 tháng x 2 + 3 tháng = 27 tháng
 Kết quả: 2 năm 3 tháng = 27 tháng
 Ví dụ 2: 	1,5 giờ =  giờ  phút
 1 giờ + 0,5 giờ = 1 giờ 30 phút
   Dạng 2. Đổi từ đơn vị bé sang đơn vị lớn
Ví dụ 1: 90 phút = ..........giờ                        
 90 : 60 = 1,5 -> kết quả: 90 phút = 1,5 giờ
  Ví dụ 2 : 136 phút = ...........giờ ..........phút
 136 : 60 = 2 (dư 16) -> kết quả: 136 phút = 2 giờ 16 phút
2.2.3. Một số phương pháp giúp học sinh chuyển đổi đơn vị đo.
 Các dạng bài tập về đơn vị đo lường lớp 5 được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, từ các bài dạng đổi đơn vị đo lường đơn giản để củng cố lý thuyết rồi nâng cao dần đến các bài tập đổi đơn vị đo phức tạp. Vì vậy muốn nâng cao chất lượng đổi đơn vị đo lường giáo viên phải giúp học sinh:
 - Nắm vững từng bảng đơn vị đo. Thuộc thứ tự các đơn vị đo từ nhỏ đến lớn và ngược lại.
 - Nắm vững được quan hệ giữa 2 đơn vị đo lường liền nhau và giữa các đơn vị khác nhau, đặc biệt là giữa các đơn vị đo cơ bản thường sử dụng trong thực tế.
 - Xác định loại bài và biết cách chuyển đổi đơn vị đo của từng loại bài đó..
 Vì vậy giáo viên cần lựa chọn phương pháp và tổ chức các hình thức dạy học phù hợp với nội dung và đối tượng học sinh, tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em phát huy trí lực, chủ động lĩnh hội kiến thức, năng động, linh hoạt trong việc luyện tập đổi đơn vị đo.
 Các phương pháp thường vận dụng để dạy các bài toán về đo lường là: trực quan, đàm thoại, thảo luận nhóm, trò chơi...
a) Phương pháp trực quan:
 Thường vận dụng khi giảng bài mới và hướng dẫn bài tập mẫu về các dạng đổi đơn vị cho học sinh, nhằm giúp học sinh nắm được cái cụ thể, trực tiếp. Với phương pháp này, học sinh hiểu sâu, nhớ lâu phương pháp đổi đơn vị đo. Giáo viên nên gợi ý và hướng dẫn mỗi học sinh tự lập một bảng hệ thống các bảng đơn vị đo và mối quan hệ của các đơn vị đo trong từng bảng. Từ đó kích thích sự hứng thú tham gia thực hiện các loại bài tập mà giáo viên đưa ra. Phương pháp này rất phù hợp khi hướng dẫn cho đối tượng HS trung bình, yếu.
b) Phương pháp đàm thoại, vấn đáp:
 Giáo viên phải lựa chọn hệ thống câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề để học sinh suy nghĩ, tìm tòi vận dụng kiến thức đã học vào việc xác định dạng bài tập đổi đơn vị đo và cách làm các dạng bài tập đó.
c) Phương pháp thảo luận nhóm :
 - Sự hỗ trợ giữa các học sinh trong nhóm, trong lớp phải giúp học sinh tự tin vào khả năng của bản thân; tự rút kinh nghiệm về cách học, cách làm bài của mình và tự điều chỉnh, sửa chữa những thiếu sót của bản thân.
- Khi học sinh hỗ trợ, giúp đỡ bạn học sinh càng có điều kiện nắm chắc, hiểu sâu kiến thức của bài học và có đều kiện hoàn thiện các năng lực của bản thân.
d) Phương pháp thực hành, luyện tập:
 - Đây là phương pháp mà GV nên thường xuyên sử dụng khi dạy các bài toán về đổi đơn vị đo nhằm củng cố kiến thức mà học sinh mới chiếm lĩnh được. GV cần tạo nhiều cơ hội để học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức và phát huy năng lực cá nhân.
e) Phương pháp trò chơi:
 - Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kĩ năng mới hoặc củng cố kiến thức, kĩ năng đã học. Trong thực tế dạy học, GV thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kĩ năng. Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kĩ năng mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới.GV nên thường xuyên tổ chức các trò chơi đơn giản trong loại bài tập này. Nó giúp học sinh thêm hứng thú học tập và tiếp thu bài tốt hơn. Các trò chơi thường được tổ chức là: tiếp sức, nhanh mắt, chọn kết quả đúng. v.v...
	2.2.4. Tác dụng nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy khi áp dụng các giải pháp trên:
	Qua ứng dụng các biện pháp nêu trên vào giảng dạy phần chuyển đổi các đơn vị đo khối lượng, độ dài, diện tích, thể tích, thời gian, tôi nhận thấy rằng kết quả học tập của học sinh có nhiều chuyển biến tích cực. Đa số học sinh nắm chắc các loại bài, dạng bài và cách thức thực hiên từng loại bài, dạng bài cụ thể. Kể cả những học sinh trung bình, yếu vốn rất lúng túng trong thực hiện chuyển đổi các đơn vị đo lường cũng hứng thú học tập và làm được bài. Chất lượng kĩ năng đổi đơn vị đo lường trong đợt kiểm tra toán đợt 3 lớp 5 ở trường chúng tôi trong năm học 2013 – 2014 đạt kết quả cao. Cụ thể: 
Khối/ lớp
Giỏi 
Khá
TB
Yếu
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
Khối 5
32
 38,1
38
45,2
14
16,7 
0
0
Lóp 5C
12
40
12
40
6
20
0
0
PHẦN KẾT LUẬN
 3.1. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN:
 Dạy học chuyển đổi số đo đại lượng là một vấn đề quan trọng và có ý nghĩa đối với học sinh, bởi vì các kiến thức này gắn bó mật thiết với cuộc sống hằng ngày của các em, góp phần giúp các em làm tốt các bài tập toán trong chương trình toán 5 cũng như các bài toán có nội dung thực tế.
 Sáng kiến đã chỉ ra một số sai lầm mà học sinh thường gặp phải khi giải các bài toán liên quan đến chuyển đổi đơn vị đo đại lượng, kể cả học sinh học tốt môn toán .
 Sáng kiến cũng đã nêu ra một cách có hệ thống các dạng toán về chuyển đổi các đơn vị đo lường trong toán 5, một số biện pháp giúp học sinh nhận dạng và làm đúng các bài tập có liên quan. 
 Sáng kiến còn đưa ra một số ví dụ cụ thể, thường gặp trong SGK toán 5 và cách giải quyết từng ví dụ đó theo nhiều cách khác nhau.
 Để giúp HS chuyển đổi số đo đại lượng được tốt thì ngoài việc cung cấp các kiến thức cơ bản cho học sinh, giáo viên cần tăng cường cho HS được luyện tập, thực hành dưới nhiều hình thức khác nhau, với nhiều dạng bài tập khác nhau để hình thành cho các em thói quen và kĩ năng chuyển đổi đơn vị đo. Vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy và học, đòi hỏi mỗi một người giáo viên cần đầu tư thời gian nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, nội dung chương trình và các phương pháp giảng dạy, để nâng cao trình độ kiến thức:
- Hướng dẫn HS nắm vững các kiến thức về môn Toán .
- Chú ý khai thác vốn sống của học sinh, sử dụng đồ dùng dạy học một cách hợp lý để hỗ trợ cho việc truyền thụ kiến thức.
 - Tạo không khí học tập thoải mái để học sinh có cơ hội bộc lộ khả năng cũng như hạn chế , từ đó giúp giáo viên đề ra được các biện pháp khắc phục.
 - Nên cho HS liên hệ Bảng đơn vị đo khối lượng với Bảng đơn vị đo độ dài để giúp HS củng cố nhận thức : mỗi đơn vị đo ứng với 1 chữ số. Còn đơn vị đo diện tích và đơn vị đo thể tích thì khác: "Khi viết số đo diện tích, mỗi đơn vị đo ứng với hai chữ số" ; "Khi viết số đo thể tích, mỗi đơn vị đo ứng với ba chữ số". Riêng với chuyển đổi đơn vị đo thời gian học sinh học sinh tự nhẩm và tính toán chứ không bằng cách dời dấu phẩy hay lập bảng như các đơn vị khối lượng, diện tích, thể tích.
 3.2. KIẾN NGHỊ:
 - Các kết quả nghiên cứu có thể được mở rộng và áp dụng cho HS các lớp 2, 3,4 khi giải các bài toán về đổi đơn vị đo lường ( không liên quan đến số thập phân).

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_ren_ky_nang_doi_don_vi_do_luong_cho_ho.doc
Sáng Kiến Liên Quan