Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy tốt tiết trả bài tập làm văn Lớp 4-5

I. CƠ SỞ KHOA HỌC.

1. Cơ sở lí luận.

Năng lực của con người chỉ được hình thành và phát triển trong HĐ. Nói năng cũng là một HĐ, HĐ lời nói. Chính vì vậy, việc đầu tiên của dạy học TLV - dạy sản sinh lời nói - là tạo ra được động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích HS tham gia vào cuộc giao tiếp (nói, viết). Dạy TLV phải bắt đầu từ những HĐ sống khác của HS: KNS, phải dạy cho các em biết suy nghĩ, tạo cho các em có cảm xúc, tình cảm rồi mới dạy cho các em cách thể hiện những suy nghĩ, tình cảm đó bằng ngôn ngữ nói và viết.

HĐ lời nói là một cấu trúc động bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau. Có thể thấy mối quan hệ này trong sơ đồ ở (phụ lục 1). Như vậy ứng với giai đoạn kiểm tra là nhóm KN kiểm tra kết quả gồm KN phát hiện lỗi: lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu, lỗi dựng đoạn . và KN chữa lỗi.

 2. Cơ sở thực tiễn.

 Dạy tiết trả bài TLV lớp 4 - 5 thế nào cho hiệu quả là một vấn đề không phải đơn giản vì giờ trả bài văn có mục đích rèn cho HS KN kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh bài viết. Đây là một KN quan trọng trong HĐ giao tiếp. KN kiểm tra là KN đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt, sửa lỗi về ND và HT diễn đạt. Để có được KN này, HS cần phải tập NX văn bản nói hay viết của bạn, tự sửa chữa bài viết chính thức ở lớp, rút kinh nghiệm và tự chữa bài văn (đoạn văn) đã được GV chấm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc hình thành KN và thói quen như vậy còn bộc lộ không ít hạn chế. Về ND chương trình phân phối các tiết trả bài văn dạy trong SGK rất ít. HS rất khó mạnh dạn, tự tin NX và chữa lỗi, dẫn đến tiết học trở nên nhàm chán. Để tháo gỡ khó khăn đó rất cần có một PP tổ chức tốt nhất, có hiệu quả nhất cho tiết dạy trả bài TLV lớp 4 - 5.

 

doc13 trang | Chia sẻ: thuydung3ka2 | Ngày: 05/03/2022 | Lượt xem: 761 | Lượt tải: 5Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy tốt tiết trả bài tập làm văn Lớp 4-5", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hát triển trong HĐ. Nói năng cũng là một HĐ, HĐ lời nói. Chính vì vậy, việc đầu tiên của dạy học TLV - dạy sản sinh lời nói - là tạo ra được động cơ, nhu cầu nói năng, kích thích HS tham gia vào cuộc giao tiếp (nói, viết). Dạy TLV phải bắt đầu từ những HĐ sống khác của HS: KNS, phải dạy cho các em biết suy nghĩ, tạo cho các em có cảm xúc, tình cảm rồi mới dạy cho các em cách thể hiện những suy nghĩ, tình cảm đó bằng ngôn ngữ nói và viết.
HĐ lời nói là một cấu trúc động bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau. Có thể thấy mối quan hệ này trong sơ đồ ở (phụ lục 1). Như vậy ứng với giai đoạn kiểm tra là nhóm KN kiểm tra kết quả gồm KN phát hiện lỗi: lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu, lỗi dựng đoạn ... và KN chữa lỗi.
 	2. Cơ sở thực tiễn.
 	Dạy tiết trả bài TLV lớp 4 - 5 thế nào cho hiệu quả là một vấn đề không phải đơn giản vì giờ trả bài văn có mục đích rèn cho HS KN kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh bài viết. Đây là một KN quan trọng trong HĐ giao tiếp. KN kiểm tra là KN đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt, sửa lỗi về ND và HT diễn đạt. Để có được KN này, HS cần phải tập NX văn bản nói hay viết của bạn, tự sửa chữa bài viết chính thức ở lớp, rút kinh nghiệm và tự chữa bài văn (đoạn văn) đã được GV chấm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc hình thành KN và thói quen như vậy còn bộc lộ không ít hạn chế. Về ND chương trình phân phối các tiết trả bài văn dạy trong SGK rất ít. HS rất khó mạnh dạn, tự tin NX và chữa lỗi, dẫn đến tiết học trở nên nhàm chán. Để tháo gỡ khó khăn đó rất cần có một PP tổ chức tốt nhất, có hiệu quả nhất cho tiết dạy trả bài TLV lớp 4 - 5.
II. THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC TIẾT TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN CỦA GV - HS LỚP 4-5.
1. Về phía GV:
	GV còn rất e ngại, lúng túng: thường là nêu những NX chung chung về bài làm của HS trong lớp, sau đó tổ chức cho HS thực hiện lần lượt các bài tập trong sách, tiết học trở nên nặng nề.
	GV vốn quan niệm “giáo án chỉ là hình thức đối phó” nên ít tìm tòi, sáng tạo, hoặc còn xem nhẹ, không đầu tư, không quan tâm đúng mức nên các tiết trả bài soạn chung chung và trừu tượng. Xử lí các tình huống trên lớp không linh hoạt,
thiếu tính thuyết phục.
Tổ nhóm chuyên môn chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của mình nên tiết Trả bài đạt hiệu quả chưa cao.
2. Về phía HS:
	HS chưa chủ động tìm được các lỗi sai cũng như cách khắc phục các lỗi sai của mình, bạn (thường thì các em phải chờ đợi sự gợi ý của GV), còn rụt rè, e ngại khi nói trước lớp.
Chỉ muốn xem lời cô giáo NX trong bài làm của mình là gì còn rất ngại khi thực hiện khâu NX - chữa bài.
HS có tâm lý khá phổ biến là muốn học môn Toán và các môn tự nhiên, rất ít em yêu thích môn TLV. 
Tủ sách của HS thường rất ít sách phục vụ tốt cho việc học môn này.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GV DẠY TỐT TIẾT TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN LỚP 4-5.
Biện pháp 1: Chỉ đạo GV chấm bài, đánh giá ưu điểm, tồn tại của HS. 
Đây là khâu chuẩn bị chiếm mất nhiều thời gian, ngoài việc nhận thức đúng đắn giá trị của tiết trả bài, mỗi người GV phải có sự chuẩn bị cho giờ trả bài một cách công phu, kỹ lưỡng bằng cả lương tâm và trách nhiệm của một người thầy đứng trên bục giảng. Khi chấm bài, GV cần chú ý:
1. Về thái độ: 
Bài văn là sản phẩm tinh thần, kết quả lao động trí óc của HS. Do vậy, GV cần có thái độ đúng đắn, chắt lọc mọi thành công dù nhỏ nhất. Với các lỗi của HS cần phải ân cần, chỉ rõ, không được qua loa tắc trách hoặc giận dữ bực bội, lời phê cần tạo cho HS hứng thú, niềm tin.
	Có thái độ kiên trì, nhẫn nại, khách quan, công bằng. Chỉ có thái độ như vậy chúng ta mới thực sự đánh giá đúng bài làm của HS. Sự công bằng khách quan cần thể hiện trong lời phê, trong lời NX, đánh giá. Nếu có sự chiếu cố đến hoàn cảnh học tập chung của cả lớp hay những khó khăn cá biệt của một số em kém thì phải giải thích rõ. (Những HS thiểu năng trí tuệ được học hoà nhập)
2. Các bước chấm bài:
	* Nghiên cứu kĩ đề bài nhằm xác định yêu cầu đề bài, XD tiêu chí ĐG, NX. Tiêu chí càng cụ thể việc chấm bài càng thuận lợi. Có hai cách XD tiêu chí ĐG:
	- Cách 1: Phân tích yêu cầu của bài thành 2 yếu tố: ND và HT, hai phần được coi trọng như nhau. Mỗi phần lại tách ra thành các tiêu chí nhỏ. 
	- Cách 2: Định mức đánh giá có tính chất tổng hợp toàn bài và ở từng mức:
bài làm tốt, đạt yêu cầu, chưa đạt.
	* Bước chấm bài: 
- Đọc bài của HS: GV xem xét cả hai mặt ND và HT:
	Về ND: Bài có sát đề không? HS hiểu đến mức độ nào? (sâu sắc, bình thường hay hời hợt)? Các chi tiết (miêu tả, kể chuyện, viết thư) có đầy đủ, chính xác không? Tình cảm nhận thức thể hiện trong bài như thế nào? (Chỗ nào hay, chỗ nào chưa hay,cần uốn nắn).
	Về HT: bài viết có đúng thể loại không? Bố cục có hợp lí, cân đối, chặt chẽ, mạch lạc không? Câu văn, từ dùng có chỗ nào đúng hay chỗ nào sai? Chữ viết, lỗi chính tả ra sao?
	- Chữa lỗi, viết lời phê: Các lỗi hoặc sai sót, GV gạch dưới và ghi NX ra ngoài lề bên trái còn chỗ có nét đặc sắc gạch dài ngoài lề bên trái sát với phần làm bài đồng thời cũng ghi rõ NX bên cạnh. Khi chấm bài, GV nên ghi bằng một số ký hiệu quy định trước từ đầu năm nhằm tiết kiệm được thời gian, không gây tâm lí bài làm bị chữa nhiều với HS, các em nhận thấy những ưu điểm, hạn chế của mình:
+ Lỗi chính tả: gạch chân: chổ hoa, yên nặng
+ Lỗi từ: dùng ngoặc đơn: Hàng ngày, em (chăm bẵm) cho cây hồng nhung.
+ Lỗi câu: dùng móc vuông [ ]: [ Những lá bàng ấy.]
+ Lỗi diễn đạt: dấu móc ngoài lề + ký hiệu dđ:
dđ{
Chỉ một tuần thôi, từ những cành khẳng khiu xuân đến, tiết trời ấm áp lên. Thoáng một cái toàn lá cây đã chuyển sang màu xanh đậm. 
GV cần tránh NX chung chung như câu, từ saihoặc chấm bài qua loa cả bài không nêu NX. Đối với HS kém quá, GV cần chỉ ra những sai sót trầm trọng nhất, tránh gạch kín cả bài gây cho HS đó tâm lý thất vọng, chán nản. Lời phê của GV phải mang tính động viên, phải cân nhắc kĩ để phê sao cho đúng, nếu có thiếu sót phải ghi cụ thể để khi xem bài, HS có thể sửa được. 
* Lập bảng thống kê: 
- Khi chấm bài, GV có bảng ghi ưu, khuyết điểm (cơ bản) của từng HS để chuẩn bị đưa ra phân tích trong giờ trả bài. Bảng gồm 2 phần: một phần ghi ưu điểm, hạn chế về ND và một phần ghi các ưu điểm, hạn chế về HT (phụ lục 2). Việc lập bảng thống kê sẽ giúp GV chủ động hơn trong quá trình tổ chức các HĐ học tập trong tiết học.
* Sắp xếp chọn lọc lỗi dự định sửa trên lớp:
	- Chọn lỗi tiêu biểu cần chữa và HT chữa lỗi để không bị lúng túng trước ý kiến của HS: có thể phiếu, chữa miệng, chữa chung
+ Lỗi về nội dung và phương pháp làm bài.
. Lỗi lạc đề: chưa hiểu đề nên sai lạc về ND và PP.
. Lỗi lệch đề: Chưa xác định đúng trọng tâm yêu cầu bài làm.
. Lỗi lậu đề: Bỏ sót một số yêu cầu cần thực hiện trong đề bài.
+ Lỗi về hình thức bài làm.
. Nhóm lỗi về dùng từ, lỗi chính tả.
. Nhóm lỗi về viết câu văn, diễn đạt ý.
. Nhóm lỗi về đoạn văn, bố cục
. Nhóm lỗi về trình bày bài làm...
Sau khi chấm bài xong, GV cần chuẩn bị chu đáo bảng thống kê (phụ lục 2) và tập lưu những bài văn hay của HS lớp 4 - 5 qua mỗi năm.
Biện pháp 2: Chỉ đạo GV chú trọng khâu soạn, thiết kế giáo án giảng dạy Tiết trả bài tập làm văn
	Đây là khâu quyết định 50% thành công của tiết dạy. Trước khi lên lớp, GV cần soạn GA thực sự có chất lượng thể hiện rõ ND và PP tiến hành tiết dạy. Ngay buổi SHCM đầu năm học, tôi yêu cầu tổ 4, 5 tập trung thiết kế, trình bày 1 GA trả bài TLV phù hợp với đối tượng HS lớp, triển khai dạy rút kinh nghiệm. Để soạn tốt GA của tiết học này, GV cần xác định rõ MT từng tiết về KT, KN, thái độ, đặc biệt trong phần các HĐ cụ thể lên lớp. GV cần quan tâm đến rèn KN NX bài làm của mình, bạn nhằm giúp HS xác định lại yêu cầu của đề bài để tự đối chiếu với kết quả bài viết xem đã thực hiện được đến đâu; nhận rõ ưu điểm, khuyết điểm của mình, bạn trong việc thực hiện yêu cầu của đề bài (dẫn chứng qua bài viết được GV chấm); 
So với các tiết dạy khác, soạn tiết trả bài TLV cần được GV chuẩn bị công phu từ lúc chấm bài (thống kê các loại lỗi để tìm ra lỗi phổ biến, ghi chép tư liệu để phục vụ cho việc NX và hướng dẫn chữa lỗi) thì mới soạn GA được (lựa chọn ND và cách tiến hành tiết trả bài), tổ chức các HĐ dạy học trên lớp. GV cần thiết kế GA trả bài phù hợp với đối tượng HS theo quan điểm tích hợp và đổi mới PPDH. GA trả bài không đơn thuần là sắp xếp thứ tự các tri thức cần truyền đạt. Nó phải là một kết cấu chặt chẽ, linh hoạt các đơn vị KT cần đạt của tiết trả bài. Hệ thống KT đó phải được HS chủ động chiếm lĩnh dưới sự dẫn dắt của GV. Muốn vậy, ngay khi thiết kế GA trả bài, GV phải dự kiến sử dụng PP, các thao tác dạy học cụ thể để cho mỗi bước trong quá trình dạy học tiết trả bài đạt kết quả tốt.(phụ lục 3)
Biện pháp 3: Giúp GV nắm vững phương pháp dạy tiết trả bài TLV. 
GV không được trả bài một cách tùy tiện mà phải tiến hành tiết trả bài trong
một tiết học có thể theo các bước với một giáo án trả bài nghiêm túc. 
* Bước 1: Khởi động.
GV cần phải tạo tâm thế cho HS học tiết trả bài. GV nên chủ động dùng lời dẫn dắt thật sinh động, thuyết phục, gây ấn tượng để thu hút HS và tạo không khí thoải mái cho giờ trả bài. Lời dẫn dắt của GV cần thể hiện rõ mục tiêu, ý nghĩa của giờ trả bài để HS chủ động, tập trung vào bài học tạo sự say mê hứng thú cho HS.
* Bước 2: GV nhận xét chung bài làm của HS.
 - Tổ chức cho HS tái hiện và tìm hiểu đề bài thông qua các câu hỏi: nhắc lại đề bài viết tiết trước? Đề bài thuộc kiểu loại văn bản gì?... 
- Tổ chức cho HS nhớ lại dàn ý của bài văn thông qua việc nhắc lại những ý chính cần có trong bài văn đó. Đây là dịp để các em đối chiếu, nhìn lại những ý lớn, ý nhỏ đã nêu trong bài viết, tự đánh giá mức độ đạt, chưa đạt trong bài làm. Với những HS yếu đây là cơ hội để củng cố, rèn luyện bồi đắp thêm KN lập dàn ý. Ở bước này, GV cần tôn trọng và khuyến khích những ý tưởng độc đáo, sáng tạo của HS đề xuất tránh áp đặt.
 - GV nhận xét đánh giá chung về bài làm của HS.
Bước này giúp HS nhận ra và nắm được tình hình bài làm của mình, của các bạn trong lớp. Những NX đánh giá của GV về bài làm của HS chỉ thực sự có cơ sở và sức thuyết phục khi GV làm tốt phần tổng kết bài chấm trong khâu chấm bài ở phụ lục 2. GV đưa ra bảng tổng hợp trên màn hình để HS quan sát và phát biểu ý kiến của mình sau đó GV mới đánh giá về tình hình bài viết của các em trên những phương diện như tinh thần, thái độ viết bài, những ưu nhược điểm chính, những hiện tượng đáng chú ý, có tiến bộ, những cá nhân đáng biểu dương, kết quả chung của cả lớp...khi nhận xét, GV cần nêu những ví dụ cụ thể để HS rút kinh nghiệm, học hỏi ở bạn mình.
* Bước 3: Chữa bài:
- Trả bài: GV trả bài cho HS đọc và xem lại những NX của GV, giải quyết thắc mắc của HS. Lúc này, các em cũng sẽ được nhìn lại toàn diện bài viết của mình trong sự đối chiếu với những gì cả lớp đã thực hiện trong suốt tiết học dưới sự hướng dẫn của thầy. Những thắc mắc của các em về bài làm của mình, về sự đánh giá của GV cũng nảy sinh từ bước này. Vì thế trước khi phát bài, GV cần làm tốt công tác tư tưởng với HS bài làm còn yếu để tránh những phản ứng tiêu cực đồng thời cần tạo không khí thoải mái để HS mạnh dạn trao đổi những điều còn thắc mắc và chuẩn bị tâm thế để trả lời những thắc mắc đó. GV cần trực tiếp phát bài cho HS để thể hiện sự quan tâm với các em và có điều kiện quan sát thái độ, phản ứng của
HS. Trên cơ sở đó có những cách ứng xử thích hợp.
- Chữa lỗi + Chung: Đây là bước không thể thiếu, dành nhiều thời gian trong tiết trả bài tập làm văn. GV cần có cách phân tích, chữa lỗi sao cho phù hợp và hiệu quả. Quan trọng hơn, các em sẽ biết cách sửa chữa để không tái phạm trong những bài viết sau. GV nên hướng dẫn để HS tập trung phân tích, chữa các lỗi điển hình, phổ biến của cả lớp. Trong bước này GV phải phát huy hết tính chủ động, tích cực của HS để nhận ra lỗi và đề xuất các phương án sửa chữa theo hướng dẫn của GV. Chúng ta không thể làm thay việc này cho các em. GV tổng hợp các lỗi HS đã mắc chia ra các loại lỗi điển hình. Căn cứ vào phiếu tổng hợp ở phần chấm bài, GV có thể thiết kế phiếu bài tập hay vận dụng các HT tổ chức khác nhau cho HS chữa lỗi: Tổ chức trò chơi “Thi tuyển biên tập viên của lớp”, Hái hoa dân chủ
+ Riêng: HS tiếp tục sửa lỗi trong bài làm của mình dưới sự hướng dẫn của
GV. Đây là bước HS tự làm việc, tự động não suy nghĩ để tìm cách sửa lỗi. GV sẽ kiểm tra việc tự sửa lỗi, tự bổ sung để hoàn thiện bài viết của HS. Việc kiểm tra này được thực hiện thông qua HT đổi bài cho bạn để kiểm tra việc chữa lỗi. 
	- Bước 4: Tham khảo các đoạn, bài văn hay
	+ Đọc và thảo luận về bài văn, đoạn văn hay: Mỗi bài văn đều mang một sắc thái khác nhau, đều có cái hay, cái riêng của nó nên qua đọc cho HS tham khảo các bài văn đó các em sẽ học tập những ý, cách dùng từ rất hay của bạn, trau dồi vốn KT, suy nghĩ tích cực và tạo cho mình niềm hứng khởi với môn học “khó nhằn”. Muốn làm tốt bước này, GV cần có bộ sưu tầm các bài văn đoạn văn hay của HS trong quá trình chấm hoặc của các năm học trước.
	+ Viết lại 1 đoạn văn hay: Bước này yêu cầu HS chọn một đoạn trong bài làm của mình để viết lại cho hay. GV cần quan tâm đến HS còn yếu, chưa đạt yêu cầu để giúp các em sữa bài.
	Bước 5: Củng cố, dặn dò 
Củng cố cho HS về PP thực hiện kiểu bài và nhấn mạnh những yêu cầu quan trọng trong việc làm bài. Rút kinh nghiệm, chuẩn bị bài sau
Tóm lại, tiết trả bài cần đạt hai yêu cầu chính: HS phải nhận ra được ưu,
khuyết điểm của mình trong bài làm và hướng khắc phục tiến lên; HS phải tự sửa chữa những lỗi trong bài làm của mình.
Biện pháp 4: Tổ chức đa dạng các hình thức học tập tạo hứng thú học tập cho HS trong tiết học 
	Tổ chức đa dạng các HTHT là một trong những biện pháp gây hứng thú học tập và đặc biệt rất phù hợp với tâm sinh lý trẻ tiểu học. Do vậy trong tiết trả bài
TLV, GV cũng có thể vận dụng một cách linh hoạt các HTHT ở các bộ môn khác
để tạo hứng thú học tập cho HS như:
1) Thảo luận nhóm để phát hiện lỗi sai - cách sửa những lỗi sai đó.
2) Tổ chức cho HS tự chấm bài (thực hiện trong các tiết hướng dẫn học).
3) Thi tìm từ thay thế, sắp xếp câu hợp lí :
Ví dụ : Tìm những từ thay thế cho từ gạch chân trong câu sau :
 	Lúc này, sân trường nườm nượp hẳn lên.
Với yêu cầu này, GV có thể gọi mỗi tổ một đại diện lên chơi hoặc gọi 2,3 HS bất kì lên thi. Trong cùng một thời gian, HS nào tìm được nhiều từ nhanh và đúng sẽ thắng. Với yêu cầu trên, sau khi thi xong HS có thể đưa ra được các từ thay thế là : đông vui, nhộn nhịp, ồn ào, ...
4) Thi viết câu văn sinh động, có hình ảnh.
Ví dụ 1: Thêm từ gợi tả màu sắc, âm thanh vào câu sau cho hợp lí:
Mấy con chim hót trong bụi cây. 
HS thi viết được: Mấy con chim hót ríu rít trong bụi cây.
	 Mấy con chim nhảy nhót, líu lo trong bụi cây.
Ví dụ 2 : Tập dùng phép nhân hoá, so sánh:
Bài HS: Những con sáo kêu ríu rít trên cây.
HS thi viết được: Những con sáo đang ríu rít chuyện trò trên cành cây.
Bài HS: Trên bàn có bộ ấm chén rất đẹp.
HS thi viết được: Trên bàn có bộ ấm chén trắng tinh như đàn cò trắng nằm phơi mình trong nắng.
5) Thi sửa lỗi ngữ pháp:
Với HT này, GV có thể tổ chức như sau: Nêu rõ yêu cầu bài tập rồi dành thời gian cho các nhóm cùng làm. Cuối cùng nhóm trưởng dán bài của nhóm mình lên bảng. Nhóm nào nhanh có nhiều cách chữa hay sẽ thắng cuộc.
6) Trò chơi phóng viên nhỏ (dùng trong phần củng cố bài)
Ví dụ: Bài văn thuộc thể loại gì? Kiểu bài? Trọng tâm của bài?
- Bí quyết để có bài văn hay? Tiết trả bài giúp bạn điều gì? 
7) Dùng tranh, ảnh minh họa để gợi ý HS chữa lỗi về dùng từ, diễn đạt (dựa vào tranh, ảnh, chọn được từ ngữ miêu tả cho chính xác, cụ thể và sinh động).
Thông qua các HTHT như trên, tôi thấy các em tự tin hơn, mạnh dạn, học tập hứng thú hơn khi học tiết trả bài TLV cũng như khi học các môn khác.
IV. KẾT QUẢ
Qua 1 năm chỉ đạo thực hiện kế hoạch giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học tiết trả bài TLV lớp 4-5, nhà trường đã đạt được những kết quả sau:
1. Về phía GV
100% GV trong tổ khối nắm vững PP giảng dạy tiết trả bài TLV. Đội ngũ GV dạy giỏi thực chất ngày càng tăng. Hai năm học gần đây, GV khối 4,5 tham gia thi GV giỏi môn Tiếng Việt cấp Quận đều đạt giải ba.
GV thực hiện tốt việc tổ chức các HT dạy - học hiệu quả trong tiết trả bài TLV giúp HS tích cực, hứng thú, chủ động nắm vững KT và rèn luyện các KN tạo giờ học nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả.
- Tổ chức thành công chuyên đề dạy tiết trả bài TLV khối 4-5, thực sự tạo nên khí thế đổi mới về phương pháp dạy TLV nói chung và tiết trả bài TLV nói riêng trong tập thể GV nhà trường.
- Không khí tự học, tự BDCM trong tập thể GV được nâng cao. HĐ tổ chuyên môn mạnh, chất lượng.
- GV gần gũi HS hơn qua việc hướng dẫn các em bộc lộ tài năng của cá nhân, thế mạnh của lớp.
2. Về phía HS
- Phát huy được tính chủ động tích cực và trí lực của từng HS, của tập thể HS
- Chất lượng học tập của HS cũng không ngừng được nâng cao. Đa số HS đã mạnh dạn, yêu thích phân môn TLV.
- Các em đã biết diễn đạt những suy nghĩ, cảm xúc của mình bằng lời nói, bài viết một cách mạch lạc, rõ ràng và tự tin với kiến thức của mình.
- Chất lượng viết văn của HS có tiến bộ rõ rệt so với năm học trước, cụ thể kết quả điểm TLV trong bài kiểm tra định kì năm học 2018 - 2019 như sau:
Xếp loại
Điểm 9, 10
Điểm 7, 8
 Điểm 5, 6
 Điểm dưới 5
Giữa kì 1
Cuối kì I
Giữa HKII
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM 
1. Ban giám hiệu: BGH phải nắm vững khả năng của GV khi giảng dạy
tiết trả bài TLV để có những kế hoạch chỉ đạo chuyên môn hiệu quả. Đẩy mạnh
những biện pháp thích hợp nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng HĐ của tổ chuyên môn. Tích cực dự SHCM với các tổ khối để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong giảng dạy.
Thực hiện tốt công tác BDCM cho GV thông qua việc tổ chức các chuyên
đề, cung cấp các tài liệu, băng hình, sách tham khảo liên quan tới việc dạy TV, dạy
tiết trả bài TLV. 
Thực hiện tốt kế hoạch dự giờ để kịp thời phát hiện, chỉ đạo GV khắc phục những hạn chế trong giảng dạy cũng như động viên, khuyến khích kịp thời, những thành tích mà GV đã đạt được.
Biết phát huy khả năng sáng tạo, tích cực chủ động của các đồng chí GV trong quá trình giảng dạy. Đánh giá khả năng giảng dạy, mức độ hoàn thành nhiệm vụ, sự nỗ lực phấn đấu của GV qua kết quả, sự tiến bộ của HS. Kịp thời khen thưởng, động viên, khuyến khích những GV, tổ khối đạt được những kết quả cao trong giảng dạy, học tập.
2. Với GV: Ngay từ đầu năm, GV phải có kế hoạch phân loại chất lượng học phân môn TLV của lớp phụ trách để từ đó có biện pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng HS. GV cần đầu tư kĩ hơn từ khâu chấm, soạn, dạy. Việc hướng dẫn HS học tiết trả bài trên lớp cũng đòi hỏi sự gợi mở, dẫn dắt và cách ứng xử linh hoạt của GV. Vì vậy, bản thân GV phải thường xuyên BDCM nghiệp vụ để nâng cao tầm hiểu biết về lĩnh vực văn học. Xây dựng thói quen tích luỹ các bài văn hay của HS để làm tư liệu. Trong bài giảng, GV cần tổ chức nhiều HTHT phong phú để giờ học trở nên hấp dẫn, hứng thú với HS. GV cần thương yêu, tôn trọng, kiên trì uốn nắn cho HS phát huy tính sáng tạo, mạnh dạn của mình. Khuyến khích HS đọc sách tham khảo có sổ tay văn học.
II. KHUYẾN NGHỊ
	Với kinh nghiệm chỉ đạo, tôi đã mạnh dạn đưa ra PP cụ thể hơn. Tôi muốn cụ thể hóa vấn đề nhưng có ý kiến cho rằng cứ dạy tốt phần quan sát, tìm ý hay lập dàn ý thì học sinh sẽ làm tốt môn TLV. Điều đó cũng không loại trừ cũng không nên lơ là tiết trả bài. Tôi muốn khẳng định rằng tiết Trả bài là khâu quan trọng trong quá trình hoàn thiện bài văn hay, diễn đạt lưu loát hơn trong tiết sau. Trong tiết này thì khâu chấm bài, nhận xét bài viết của HS lại rất quan trọng. Để luyện cho học sinh KN dùng từ, đặt câu chính xác, câu cần phải đủ thành phần, diễn đạt lôgic người GV phải biết kết hợp giữa thầy và trò tôn trọng quy tắc “thầy chủ đạo, trò chủ động”...Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng để chỉ đạo dạy tiết trả bài TLV ở khối 4 - 5 bước đầu đã đạt kết quả tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS trong trường.
	Rất mong được sự đóng góp của các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được áp dụng hiệu quả hơn giờ trả bài TLV lớp 4-5.
	Tôi xin chân thành cảm ơn!

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_chi_dao_giao_vien_day.doc
Sáng Kiến Liên Quan