Sáng kiến kinh nghiệm về giáo dục đạo đức học sinh bậc THCS năm 2010-2011

Đạo đức là những chuẩn mực xã hội về thái độ, hành vi, ý thức của một cá nhân. Một xã hội mới không phải chỉ cần có nền kinh tế mới mà cần phải có những con người mới. Con người mới trong quan điểm phát triển của Đảng ta phải là một con người phát triển toàn diện cả đức lẫn tài, văn – trí – thể - mỹ, để có thể trở thành chủ thể có ý thức trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam XHCN.

 Trong tình hình đất nước ta hiện nay về xã hội cũng như về trình độ KHKT còn chậm phát triển so với các nước tiên tiến trên thế giới thì vấn đề giáo dục là một vấn đề hết sức cấp bách. Như Bác Hồ đã từng nói: “Muốn xây dựng CNXH trước hết cần có những con người XHCN”. Ta hiểu con người XHCN phải là con người có đạo đức cách mạng. Vị trí của cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa có vị trí đặc biệt quan trọng, trong đó GDĐĐ phải là vị trí hàng đầu.Vì vậy, nhiệm vụ của các nhà trường là phải đảm đương, gánh vác một phần rất quan trọng trong việc GDĐĐ cho các thế hệ tiếp theo.

 Hơn nữa, trong hiện thực xã hội nước ta hiện nay, vấn đề về đạo đức trong giới học sinh, sinh viên đang là vấn đề nổi cộm làm nhức nhối dư luận. Thực tiễn chất lượng GDĐĐ cho học sinh trong các nhà trường và ngoài xã hội đang dần dần đi xuống. Cho nên, vấn đề GDĐĐ cho học sinh phải được đặt ở vị trí hàng đầu, quan trọng và cần thiết. Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đoàn thể và các cấp có thẩm quyền phải cùng nhau tìm ra nguyên nhân và giải pháp để giải quyết vấn đề này. Cần phải chú trọng nhiều hơn nữa vào việc GDĐĐ cho học sinh để bồi dưỡng nhân sinh quan cộng sản cho các em, gột rửa những hành vi dối trá, những biểu hiện tiêu cực để tạo nên những con người cộng sản, góp phần thúc đẩy sự phát triển của một xã hội văn minh, tiến bộ.

 

doc12 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 25/12/2015 | Lượt xem: 805 | Lượt tải: 42Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm về giáo dục đạo đức học sinh bậc THCS năm 2010-2011", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 giới thì vấn đề giáo dục là một vấn đề hết sức cấp bách. Như Bác Hồ đã từng nói: “Muốn xây dựng CNXH trước hết cần có những con người XHCN”. Ta hiểu con người XHCN phải là con người có đạo đức cách mạng. Vị trí của cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa có vị trí đặc biệt quan trọng, trong đó GDĐĐ phải là vị trí hàng đầu.Vì vậy, nhiệm vụ của các nhà trường là phải đảm đương, gánh vác một phần rất quan trọng trong việc GDĐĐ cho các thế hệ tiếp theo.
	Hơn nữa, trong hiện thực xã hội nước ta hiện nay, vấn đề về đạo đức trong giới học sinh, sinh viên đang là vấn đề nổi cộm làm nhức nhối dư luận. Thực tiễn chất lượng GDĐĐ cho học sinh trong các nhà trường và ngoài xã hội đang dần dần đi xuống. Cho nên, vấn đề GDĐĐ cho học sinh phải được đặt ở vị trí hàng đầu, quan trọng và cần thiết. Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đoàn thể và các cấp có thẩm quyền phải cùng nhau tìm ra nguyên nhân và giải pháp để giải quyết vấn đề này. Cần phải chú trọng nhiều hơn nữa vào việc GDĐĐ cho học sinh để bồi dưỡng nhân sinh quan cộng sản cho các em, gột rửa những hành vi dối trá, những biểu hiện tiêu cực để tạo nên những con người cộng sản, góp phần thúc đẩy sự phát triển của một xã hội văn minh, tiến bộ. 
	Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi đã quyết định nghiên cứu và thực hiện đề tài này.
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI: 
Đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức học sinh bậc THCS, phân tích nguyên nhân, tìm ra những vấn đề liên quan đến công tác giáo dục đạo đức, từ đó đề ra một số biện pháp giáo dục đạo đức học sinh có hiệu quả trong công tác dạy học.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức học sinh bậc THCS. 
Phạm vi nghiên cứu: Cách ứng xử của giáo viên với học sinh THCS và cách ứng xử giữa học sinh THCS với nhau.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Phương pháp chủ yếu: 
	- Phương pháp quan sát sư phạm.
	- Phương pháp điều tra giáo dục.
	- Phương pháp thực nghiệm giáo dục.
2. Phương pháp hỗ trợ:
	- Phương pháp tổng kết.
	- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
	- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết.
V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 
1. Cơ sở lý luận: 
	 Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ người và người và con người với tự nhiên. Theo quan điểm Mác-Lê Nin thì đạo đức là phạm trù có ý thức xã hội. Nó là cấu trúc kinh tế xã hội của một xã hội cụ thể trong lịch sử. Đạo đức mang tính vĩnh hằng, tính lịch sử, tính giai cấp. Mỗi giai cấp có chuẩn mực đạo đức khác nhau. Đạo đức là những chuẩn mực xã hội về thái độ, hành vi và ý thức của một cá nhân. 
Trong phạm vi các nhà trường thì GDĐĐ là làm cho học sinh hiểu được thế nào là đạo đức, hình thành cho học sinh niềm tin đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi và thói quen đạo đức. GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cá nhân với chính mình.
Trong tất cả các mặt giáo dục thì GDĐĐ giữ một vị trí hết sức quan trọng. Vì Hồ Chủ Tịch đã nói: “Dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức Cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức Cách mạng thì có tài cũng vô dụng ”.
Giáo dục đạo đức có ý nghĩa lâu dài, được thực hiện thường xuyên và trong mọi tình huống chứ không phải chỉ được thực hiện khi có tình hình phức tạp hoặc có những đòi hỏi cấp bách.
Trong nhà trường THCS, giáo dục đạo đức là mặt giáo dục phải được đặc biệt coi trọng, nếu công tác này được coi trọng thì chất lượng giáo dục toàn diện sẽ được nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác.
Giáo dục là một quá trình liên tục, giáo dục suốt đời, giáo dục THCS có tính chất trung gian trong hệ thống giáo dục, nhằm chuẩn bị cho học sinh, thanh niên trực tiếp bước vào đời. Đặc biệt, GDĐĐ học sinh là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác chủ nhiệm. Bởi đạo đức học sinh trong lớp quyết định nề nếp thi đua của lớp. Giáo viên chủ nhiệm là lực lượng chính trong công tác GDĐĐ học sinh, là người quản lý mọi hoạt động của lớp học, là người triển khai mọi hoạt động của nhà trường đến từng học sinh.
Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, mỗi giáo viên cần xác định nhiệm vụ chủ yếu đối với học sinh là Giáo dục và Giáo dưỡng. Trong quá trình giảng dạy ta không nên coi nhẹ hai nhiệm vụ đó, bởi giáo dục và giáo dưỡng mới đào tạo được một học sinh toàn diện theo yêu cầu của nền giáo dục mới.
2. Thực trạng:
a) Thuận lợi:
Được sự lãnh đạo và chỉ đạo thường xuyên của Ban lãnh đạo phòng GD&ĐT huyện Bắc Sơn.
Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, BGH nhà trường, sự nhiệt tình của hội phụ huynh học sinh cùng tâp thể giáo viên trong nhà trường.
Đa số các em học sinh chăm ngoan, hiếu học, biết lễ phép với thầy cô giáo, đoàn kết, hòa nhã với bạn bè.
Cơ sở vật chất của nhà trường đã được nâng cao hơn năm cũ, lớp học khang trang, sân trường sạch sẽ, thoáng mát  tạo điều kiện cho việc dạy và học có hiệu quả hơn. 
b) Khó khăn:
Hiện nay, vấn đề đạo đức của học sinh trường THCS xã Đồng Ý đang là một vấn đề khiến cho các thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh phải phàn nàn, bởi tình trạng đạo đức học sinh ngày càng bị suy thoái, xuống cấp, ví dụ như tình trạng học sinh đánh nhau ngày càng phổ biến. Bên cạnh đó, tình trạng học sinh bỏ tiết, bỏ giờ, vi phạm nội quy, quy định của trường, lớp ngày càng gia tăng. Nhiều học sinh ý thức đạo đức còn kém như gặp thầy cô không biết chào hỏi, không biết giúp đỡ bạn bè khi gặp hoàn cảnh khó khăn, đơn giản như khi thấy bút của bạn hết mực nhưng chưa có bạn nào tự giác cho bạn mượn phải đợi cô giáo nhắc nhở  Một số học sinh còn hay nói tục, chửi bậy, nói năng chưa được lễ độ, ứng xử thiếu tế nhị. Một số học sinh chưa thật thà, trung thực trong việc báo cáo các thành tích và vi phạm của lớp mình hoặc của các bạn trong lớp Theo tôi, sở dĩ còn những tồn tại nêu trên là do tập trung ở một số nguyên nhân sau đây:
* Về phía bản thân học sinh:
Phần lớn học sinh đang ở lứa tuổi thay đổi về tâm, sinh lý, rất hiếu động, các em dễ bị nhiễm những thói quen xấu của các bạn khác. 
Một số học sinh chưa xác định đúng đắn động cơ và mục đích học tập, các em nghĩ đơn giản đến trường chỉ là đi chơi, trốn việc gia đình.
Một số học sinh vẫn còn thói quen lười biếng học tập, hay quay cóp, lừa dối bố mẹ và thầy cô, dọa nạt, gây gổ với bạn bè, lảng tránh hoạt động tập thể...
Nhiều em khi bị phê bình hoặc bị phạt lên đứng cột cờ vẫn không lấy làm xấu hổ, sau đó vẫn tiếp tục tái phạm.
Nhiều em có thái độ chống đối thầy, cô ra mặt.
* Về phần gia đình:
Một số phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến việc học hành của con em mình, họ phó thác hết trách nhiệm giáo dục cho nhà trường.
Nhiều phụ huynh vì hoàn cảnh phải đi làm ăn xa không có điều kiện ở gần chăm sóc con cái, họ gửi con cho ông bà hoặc người thân chăm sóc, lâu lâu gửi tiền gửi gạo về cho con, không biết con mình ở nhà ăn học ra sao. Khi giáo viên chủ nhiệm cần liên hệ thì cũng chẳng có cách nào tìm gặp được phụ huynh.
Một số gia đình khá giả, quá nuông chiều con, đưa tiền cho con cái nhưng không quan tâm xem chúng sử dụng tiền đó vào việc gì, có chính đáng hay không.
Nhiều phụ huynh cho con dùng điện thoại di động, các em mang đến lớp và chỉ chú trọng nhắn tin cho bạn bè, rồi nghe nhạc cả những lúc tròn giờ học
* Về phía xã hội: 
Trước xu thế phổ cập THCS, học sinh trong lứa tuổi này được xã hội ưu ái nhiều hơn nên đôi khi các em có nhiều yêu sách với giáo viên khi bị nhắc nhở, gây khó khăn cho việc giáo dục học sinh.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã nâng cao chất lượng cuộc sống, gây ra những biến động về giá trị đạo đức: tự do ngôn luận, tính lễ phép, tính trung thực, tính chăm chỉ bị suy thoái trầm trọng so với những năm học trước. 
Xã hội phát triển hơn, nền kinh tế của địa phương cũng khá so với những năm trước, trên địa bàn xã xuất hiện nhiều điểm vui chơi giải trí như quán karaoke, quán xá bán hàng, một số bàn bi-a, đặc biệt là bàn bi-a lại đặt ngay trên con đường vào gần tận cổng trường tạo điều kiện cho học sinh có chỗ chơi mỗi khi ra lớp hoặc các em bổ giờ bỏ tiết để ra đánh bi-a. Nhiều trò chơi điện tử hấp dẫn, lôi cuốn các em. Còn các nhà kinh doanh thì chỉ biết vui vẻ khi thu tiền, vì “khách hàng là thượng đế” họ không cần biết làm như vậy là đã vô tình làm cho các em học sinh ngày càng trở nên hư hỏng.
Một số học sinh ngày nay còn tung những video clip riêng tư hoặc nhưng clip đánh nhau lên mạng gây xôn xao dư luận và làm bao người làm cha, mẹ phải đau lòng, nhưng các em học sinh lại cho rằng đó là nổi, đó là hiện đại. Những việc phản giáo dục như thế đã vô tình ảnh hưởng đến cách nghĩ và cách sống của một bộ phận giới trẻ mà xã hội ta lại chưa thật sự xử lý nghiêm.
Chính vì vậy mà đây là nỗi lo không những của các bậc làm cha, làm mẹ, các thầy, cô giáo mà là nỗi nhức nhối chung của toàn xã hội. Đôi khi chỉ do một vài cá thể nào đó mà đã làm cho nhiều người đánh giá lệch lạc về cách giáo dục của nhà trường. 
* Về phía nhà trường: 
Một số ít thầy, cô còn chưa có cách xử xự khéo léo, thiếu kinh nghiệm sư phạm, chưa có phương pháp phù hợp nên gây ra những phản ứng không tốt từ phía học sinh. Ví dụ như đôi khi mắng học sinh không đúng lúc đúng chỗ, hoặc mắng học sinh bằng những lời lẽ khó nghe khiến các em không những không nghe lời mà càng trở nên cố chấp, bảo thủ và tiêu cực.
Một số giáo viên chưa thực sự nhiệt tình và trách nhiệm trong việc giáo dục học sinh. Ví dụ khi có học sinh vi phạm, giáo viên chỉ nhắc nhở qua loa mà không có biện pháp phù hợp để uốn nắn. 
Một số giáo viên còn thiếu kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm, lại ngại học hỏi kinh nghiệm ở các đồng nghiệp khác, giờ sinh hoạt còn khô khan, đôi khi giờ sinh hoạt chỉ là cô giáo chủ nhiệm lên nhắc nhở lớp các khoản thu nộp tiền mà chưa làm rõ những lỗi vi phạm của học sinh, chưa khắc sâu được những điều các em cần sửa chữa trong tuần tới
3. Biện pháp giải quyết:
3.1. Đối với giáo viên chủ nhiệm lớp: 
Cần phải nắm vững tình hình thực trạng của học sinh lớp chủ nhiệm: Phải nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh: học bạ, số điện thoại, hoàn cảnh gia đình. để liên hệ với phụ huynh khi cần thiết..
	Xây dựng ban cán sự lớp với tinh thần tự quản, ý thức trách nhiệm cao. Bầu cử những em có năng lực và được tập thể tín nhiệm. Báo cáo trung thực những diễn biến xảy ra hàng ngày cho giáo viên chủ nhiệm. Làm việc đúng lề lối quy định, đúng vị trí các chức danh.
	Xây dựng tập thể lớp đoàn kết, vững mạnh, có tinh thần yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Gần gũi, thương yêu ,trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu hướng sở thích của học sinh, giúp các em nêu ra “điều em muốn nói”. Tạo môi trường thân thiện để các em thấy được “mỗi ngày đến trường là một niềm vui”.
	Khêu gợi và từng bước phát huy tinh thần làm chủ tập thể của học sinh, cùng thi đua giúp đỡ lẫn nhau như biết động viên thăm hỏi kịp thời khi bạn đau ốm, hay gặp khó khăn, hoạn nạn.
	Phối hợp tốt ba môi trường giáo dục: Liện hệ, trao đổi với giáo viên bộ môn về tình hình đạo đức, nề nếp, chất lượng của lớp, để phối hợp giáo dục kịp thời. Trao đồi tình hình với BGH, tổng phụ trách, Bí thư chi Đoàn, phụ huynh học sinh và các tổ chức đoàn thể có liên quan để có được sự phối hợp chặt chẽ.
	Nhiệt tình, linh động với công việc, công bằng với học sinh, khen thưởng và phê bình kịp thời, đúng người, đúng việc.
	Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp thời cho BGH về tình hình đạo đức của học sinh.
	Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin, thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ. Các cuộc gặp gỡ với phụ huynh học sinh cần thiết thực và hiệu quả. Mỗi buổi họp phụ huynh là dịp để GVCN cung cấp thêm cho họ về quá trình học tập của con em mình. Khi tiếp xúc với phụ huynh học sinh cần nhớ rằng đối với họ đứa con là rất quí giá. Vì thế, hãy hết sức tế nhị, tránh đừng để phụ huynh bị tổn thương.
	Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy định, xử lý thông tin phản hồi kịp thời, có hiệu quả.
	Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với Cha mẹ học sinh để giải quyết kịp thời, có hiệu quả.
	Cuối tuần khen thưởng, xử lý kịp thời, dù chỉ những tiến bộ chậm chạp.
	Trong các buổi sinh hoạt không nên để không khí nặng nề nhưng cũng không được xuề xòa mà phải đảm bảo tính nghiêm túc trong việc nhắc nhở nề nếp học tập, việc thực hiện nội quy của lớp, của trường. Đồng thời GVCN nên sưu tầm những câu chuyện hay về những tấm gương người tốt việc tốt, những câu ca dao, tục ngữ, lời hay, ý đẹp  để học sinh học tập và noi theo.
	Khi xử lý một vấn đề nào đó thì nên đi từ nhẹ nhàng đến cương quyết và phải làm đến cùng chứ không nên bỏ dở giữa chừng, phải làm đến nơi đến chốn.
	GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trao dồi đạo đức nhà giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo.
	3.2. Đối với GVBM:
	Cần nắm được thông tin về học sinh như họ tên, hoàn cảnh gia đình, tính cách, khả năng học tập, năng khiếu, điểm mạnh của từng em để có những cách ứng xử phù hợp.
	GVBM cần nắm được sơ đồ lớp, vị trí chỗ ngồi của từng em, nắm được ban cán sự lớp để tiện việc nhắc nhở mỗi khi có vi phạm.
	Hãy vui cùng những thành tích nhỏ bé của học trò và hãy chia sẻ những thất bại của chúng. Đừng ngại thừa nhận với học trò là mình không biết về một vấn đề nào đó. Hãy cùng các em tìm câu trả lời. 
	Hãy cố gắng khơi dậy sự tự tin trong mỗi em học sinh. Khi đó các em sẽ đạt tới nhiều đỉnh cao trong học tập. Đừng đòi hỏi một “kỷ luật lý tưởng” trong giờ học. GVBM không nên độc đoán quá, hãy nhớ rằng giờ học là một phần cuộc sống của các em, vì vậy đừng làm cho giờ học gò bó quá, cứng nhắc quá. Qua mỗi giờ học các em cần trở thành một nhân cách cởi mở, say mê, sáng tạo và phát triển toàn diện. Hãy cố gắng để giờ giảng không khuôn mẫu quá, chuẩn mực quá.
	Mỗi giờ học, hãy bước vào lớp với nụ cười. Khi học trò chào, hãy nhìn vào mắt từng em để hiểu được tâm trạng của các em, vui thì chia vui, buồn thì động viên. Hãy luôn ghi nhớ: Học trò không phải là một chiếc bình cần đổ đầy kiến thức, các em là những ngọn đuốc cần được thắp lên. 
	Điểm kém ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành nhân cách của học trò.Vì vậy, ta hãy cố gắng chừng nào có thể để tránh cho các em điểm kém. Nếu phải cân nhắc giữa hai điểm số khi cho điểm học sinh thì hãy chọn điểm cao hơn. 
	Không cần che giấu tình cảm của mình với các em, nhưng cần tuyệt đối tránh sự ưu ái đặc biệt với một vài em nào đó. Hãy cố nhìn thấy những ưu điểm ẩn sâu trong mỗi em. Có thể chính các em cũng không biết mình có những ưu điểm đó. Ta phải là người giúp các em nhận ra, phát triển chúng thêm.
 	Đừng sợ xin lỗi học trò nếu thấy mình sai. Khi các em mắc lỗi, giáo viên cũng đừng nóng nảy quá. Hãy kiềm chế khi các em nói dối và cố gắng tìm ra nguyên nhân để có biện pháp khắc phục.
	Trong mỗi giờ học, nên lồng ghép những mẩu chuyện vui làm không khí lớp học thêm phần sôi nổi, hoặc kể những tấm gương tốt có tính giáo dục để các em học tập.
	Thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm giao tiếp sư phạm để giáo dục học sinh thông qua mỗi giời học.
	 Nói tóm lại, công bằng, kiên trì và trung thực là khẩu hiệu của mỗi người giáo viên. 
	3.3. Đối với Ban Đoàn – Đội:
	Tổ chức sinh hoạt đều đặn với nội dung phong phú, lành mạnh, tích cực, thu hút học sinh tham gia. Tổ chức các trò chơi dân gian, các hoạt động truyền thống bổ ích.
	Tổ chức sinh hoạt chi Đội, Ban chỉ huy Liên đội đều đặn, phân công trực tuần, theo dõi việc thực hiện nề nếp của đội viên, học sinh. Nhận xét, đánh giá, tuyên dương, phê bình kịp thời hợp lý.
	Tổ chức đội thanh niên xung kích, đội cờ đỏ theo dõi nề nếp cùng với lớp trực tuần và các hoạt động tập thể của Đoàn, Đội.
	Nếu có trường hợp khó xử lý được thì cần xin ý kiến của BGH để được sự giúp đỡ.
	3.4. Đối với BGH và nhà trường: 
	Cần luôn quan tâm, chỉ đạo, đôn đốc sát sao đến mọi hoạt động trong nhà trường. Chú trọng nhiều hơn nữa đến mảng GDĐĐ cho học sinh trong nhà trường. 	Việc xử lý học sinh vi phạm đạo đức tùy theo mức độ mà đưa ra Hội đồng kỷ luật. Đã xử lý thì phải làm cho công bằng, đến nơi đến chốn, có tác dụng giáo dục, không qua loa tùy tiện nhưng bằng tất cả tình yêu thương, lòng bao dung và tha thứ của người thầy đối với học sinh, cần có cái nhìn tiến bộ về các em.
	Cùng Chi bộ chỉ đạo các đoàn thể, đặc biệt là tổ chức Đoàn – Đội sinh hoạt truyền thống, tích cực tổ chức các hoạt động vui chơi lành mạnh, các hoạt động thể dục, thể thao, trò chơi dân gian  thu hút các em hoạt động mang tính rèn luyện giáo dục.
	Có sự khen ngợi, khuyến khích, động viên kịp thời đối với những thầy, cô giáo tích cực có nhiều đóng góp và nhiệt tình trong công việc. Đồng thời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng có hiệu quả đối với những trường hợp còn chưa có trách nhiệm cao trong công việc.
VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
	So với đầu năm học tình hình đạo đức của học sinh trường THCS Đồng Ý đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều em có biểu hiện vô lễ, nói năng thiếu văn hoá với giáo viên, nói tục, chửi bậy, xé bài kiểm tra, xem thường kỷ luật của lớp, bỏ tiết, bỏ giờ đã giảm xuống đáng kể. 
	Phần lớn các học sinh có cách cư xử thân thiện, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau như đã biết giúp đỡ nhau trong học tập, biết tự giác cho bạn mượn bút khi bạn quên bút hoặc bút hết mực. Tự nguyện chép bài giúp bạn khi bạn bị ốm hoặc nghỉ học có lý do chính đáng.
Tập thể các lôùp tương đối có nề nếp, vị trí thi đua lớp được cải thiện, đoàn kết, gắn bó. Biết nhắc nhở lẫn nhau trong việc thực hiện nề nếp thi đua của lớp.
	Các em chú trọng việc thực hiện nội quy, quy định của trường, lớp như đi học đúng giờ, nghiêm túc thực hiện 15 phút truy bài đầu giờ, hát đều, giữ gìn vệ sinh sân trường, lớp học và cá nhân sạch sẽ.
	Nhiều trò chơi dân gian được các em áp dụng trong giờ ra chơi. Số lượng học sinh hay la cà quán xá cũng giảm xuống rõ rệt.
	Mỗi giờ chào cờ đầu tuần đều có nhiều gương học sinh tiêu biểu trong học tập được tuyên dương. 
	Học sinh thêm yêu trường, lớp và cố gắng học tập tốt hơn.
	Nhiều phụ huynh đã quan tâm chặt chẽ hơn đến tình hình học tập của con em mình.
	Phần lớn, vấn đề đạo đức của học sinh trường THCS Đồng Ý so với thời gian đầu năm học 2010 - 2011 đã được cải thiện rõ rệt và có những biểu hiện rất đáng mừng.
	Kết quả và số liệu cụ thể như sau:
	* Hạnh kiểm: 
Kỳ học
Tổng số
học sinh
Hạnh kiểm
Tốt
Khá
TB
SL
%
SL
%
SL
%
I
230
112
48,8
102
44,3
16
6,9
II
227
138
60,8
80
35,3
9
3,9
Cả năm
227
140
61,7
78
34,4
9
3,9
	* Học lực:
Kỳ học
Tổng số
học sinh
Học lực
Giỏi
Khá
TB
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
I
230
8
3,5
82
35,7
108
46,9
32
13,9
II
227
17
7,5
98
43,1
102
45
10
4,4
Cả năm
227
14
6,2
95
42
111
48,8
7
3
VII. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
	Mỗi cán bộ giáo dục, mỗi thầy, cô giáo cần phải ghi nhớ rằng: “Thầy giáo dạy người chủ yếu bằng bản thân con người mình”, “Nghề dạy học không có phế phẩm”. Vì vậy, hãy thật sự yêu nghề, hãy thương yêu học sinh như con em ruột thịt của mình. Phải luôn luôn trau dồi năng lực chuyên môn, năng lực ứng xử sư phạm , xử lý mọi tình huống đều phải hợp tình, hợp lý, công bằng, khách quan, đáp ứng được lòng mong đợi của học sinh và nhân dân, phải luôn mở ra lối đi cho học sinh. Mỗi thầy, cô giáo, mỗi cán bộ giáo dục hãy luôn là tấm gương sáng, tự học và sáng tạo cho học sinh noi theo.
	Nhà nước hãy quan tâm và có những chế độ ưu ái hơn nữa đối với ngành giáo dục, động viên, khuyến khích tinh thần các thầy, cô giáo bằng những hình thức khác nhau cả về tinh thần lẫn vật chất để mỗi thầy, cô giáo đều cảm thấy yên tâm công tác, yêu nghề và gắn bó với nghề hơn nữa./.
 Ngày ..tháng  năm ..
Thủ trưởng Cơ quan
(Ký, họ và tên, đóng dấu)
Trần Văn Cường
Ngày 27 tháng 4 năm 2011
Chủ nhiệm đề tài:
Phương Thị Mỹ Liên

File đính kèm:

  • docSKKN_ve_Giao_duc_dao_duc_hoc_sinh_bac_THCS_nam_20102011.doc
Sáng Kiến Liên Quan