Sáng kiến kinh nghiệm Tổ chức đa dạng các hoạt động học tập của bộ môn Hóa học 9 nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Trong tiến trình đổi mới toàn diện về giáo dục đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng đất nước theo hướng CNH- HĐH. Đổi mới phương pháp dạy học là đòi hỏi tất yếu và được xem là khâu then chốt có ý nghĩa góp phần vào sự thắng lợi của sự nghiệp giáo dục. Bởi phương pháp dạy học, kết quả dạy học phản ánh chất lượng dạy học và chất lượng giáo dục. Các kết quả nghiên cứu về lý luận dạy học, cũng như thực tiễn dạy học ở trường phổ thông trong những năm qua đã khẳng định: Chỉ có phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh, giúp học sinh biết cách học, biết tự học với động cơ đúng đắn thì quá trình học tập của các em mới đạt được những kết quả cao về tri thức, kỹ năng và thái độ.

Như vậy, định hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) đã được khẳng định: Cốt lõi của đổi mới PPDH ở Trường THCS là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động, để có những thay đổi trong từng giờ dạy trên lớp thì việc đổi mới khâu soạn bài của giáo viên hết sức quan trọng.

 Thay đổi cách soạn để có giá trị thực sự là một kế hoạch từ khâu chuẩn bị đến tổ chức giờ học và sử dụng các phương tiện dạy học là một việc làm không thể thiếu được trong đổi mới phương pháp dạy học.

Đặc biệt, năm học 2008 – 2009 là năm học thực hiện chỉ thị số 55/2008/CT- BGD ĐT ngày 30/9/2008 về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy đễ phục vụ việc ĐMPPDH. Việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại (Máy Projectơ, máy Overhead) đã đem lại sự hứng thú cho học sinh như vậy học sinh chủ động, sáng tạo trong học tập.

 

doc12 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 07/08/2015 | Lượt xem: 1058 | Lượt tải: 38Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Tổ chức đa dạng các hoạt động học tập của bộ môn Hóa học 9 nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ch cực, chủ động tự tìm kiếm kiến thức, đa số các em nắm được kiến thức cơ bản. 
Tuy nhiên, việc giảng dạy trong nhà trường từ trước đến nay còn gặp một số khó khăn về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, năng lực nhận thức của học sinh dẫn đến chất lượng học tập bộ môn Hóa học là một vấn đề đáng lo ngại.
Về phía học sinh: Các em mới làm quen bộ môn Hóa học bắt đầu từ lớp 8, nên nhiều học sinh còn bở ngỡ, lúng túng trước những kiến thức mới lạ, chưa tìm tòi để phát hiện kiến thức dẫn đến khả năng tiếp thu bài học còn hạn chế, đặc biệt là kỉ năng thực hành. Hơn nữa, nội dung các bài học Hóa học có liên quan chặt chẽ với nhau nếu học sinh không tiếp thu và nắm được bài học ngay từ bài đầu tiên thì việc tiếp thu các bài học sau sẽ rất khó khăn.
Về phía giáo viên: Việc thay đổi chương trình, SGK, phương tiện dạy học đã làm cho một số giáo viên gặp không ít khó khăn trong khi dạy. Những năm gần đây vẫn còn một số giáo viên dạy theo chương trình cũ: Phần nhiều theo phương pháp thuyết trình, ít sử dụng phương tiện, thí nghiệm nên phần lớn học sinh thụ động trong việc tiếp nhận kiến thức. Một số tiết chưa phát huy hết khả năng hoạt động tích cực, chủ động của học sinh.Vì vậy chất lượng dạy học còn nhiều hạn chế. 
Trước khi chưa sử dụng các phương pháp dạy học nói trên kết quả kiểm tra bài 45 phút ( Bài số1 lớp 9 A,C Trường THCS Mai Thủy) đạt được kết quả khá thấp. Cụ thể:
 Lớp
Tổng số HS
Kết quả
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
TB trở lên
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9A
38
2
5,3
9
23,7
10
26,3
14
36,8
3
7,9
21
55,3
9C
39
3
7,7
9
23,1
 9
23,1
14
35,9
4
10,3
21
53,8
 Cộng 
77
5
6,5
18
23,4
19
24,7
28
36,4
7
9,1
42
54,5
Vậy làm thế nào để học sinh có hứng thú, tích cực học tập, đồng thời phát triển được khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh. Xuất phát từ vấn đề đó, bên cạnh việc thực hiện tốt việc dạy học theo hướng đổi mới, bản thân tôi đã không ngừng học hỏi, sáng tạo sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau trong đó có phương pháp "Tổ chức đa dạng các hoạt động học tập của bộ môn Hóa học 9"
Sau đây tôi mạnh dạn đưa ra một số hình thức, biện pháp cũng như kết quả bước đầu mà tôi đã áp dụng trong quá trình dạy học bộ môn ở trường THCS.
III/ Nội dung thực hiện
 Để giải quyết các vấn đề trên bản thân tôi đã áp dụng một số nội dung sau:
1/ Đổi mới khâu soạn bài- thiết kế bài soạn chu đáo
Để phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của người học sinh, trước hết trong khâu soạn bài; giáo viên phải đầu tư nhiều công sức và thời gian. Giáo án được coi là một kế hoạch dạy học, một công đoạn quyết định sự thành công của một tiết dạy.
Để kế hoạch dạy học có tính khả thi cao cần đổi mới khâu soạn và thiết kế bài soạn với một số nội dung sau:
1.1/ Trước lúc soạn giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung SGK, nghiên cứu các tài liệu tham khảo như: SGV, sách thiết kế bài soạn, tài liệu hướng dẫn làm thí nghiệm, đặc biệt bám sát tài liệu chuẩn kiến thức....để xác định được mục tiêu bài học.
1.2/ Những dự kiến của giáo viên phải tập trung chủ yếu vào các hoạt động của học sinh như tiến hành thí nghiệm, quan sát thí nghiệm, nhận xét hiện tượng giải thích hoặc quan sát mẩu vật, tranh luận vấn đề mà giáo viên đặt ra, giải bài toán nhận thức... trên cơ sở đó giáo viên mới hình dung được mình phải tổ chức các hoạt động như thế nào? Sử dụng các phương pháp và các phương tiện cần thiết cho tiết dạy là gì? Nhằm giúp học sinh tự lực phát huy tính tích cực, chủ động để chiếm lĩnh kiến thức. 
1.3/ Giáo viên phải suy nghĩ một cách công phu và khả năng diễn biến các hoạt động của học sinh, dự kiến những giải pháp điều chỉnh . Biết khai thác vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân học sinh, nhóm và tập thể lớp. Tăng cường mối liên hệ ngước từ trò đến giáo viên và mối liên hệ giữa trò và trò. 
1.4/ Trong bài soạn, đối với các câu hỏi: Tùy từng đặc điểm trình độ nhận thức của học sinh, phương pháp lựa chọn mà quyết định số lượng, chất lượng các câu hỏi thích hợp. Tránh khuynh hướng hình thức, tránh đặt câu hỏi mà không chuẩn bị trước. Mỗi bài học có một vài câu hỏi then chốt và cần quan tâm đến tính lô gíc của câu hỏi, câu hỏi phải vừa sức, phù hợp với đối tượng học sinh, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh hoạt động độc lập, theo cặp hoặc theo nhóm tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá, và đánh giá lẫn nhau, kết hợp đánh giá của giáo viên và đánh giá của học sinh. Cần tạo điều kiện cho học sinh yếu, kém tham gia hoạt động bằng cách có câu hỏi gợi mỡ, dẫn dắt cho học sinh trả lời.
2/ Chuẩn bị đồ dùng dạy học
Hóa học là khoa học thực nghiệm nên trong giảng dạy thì việc sử dụng thí nghiệm là phương tiện dạy học quan trọng, giúp học sinh độc lập, tích cực để chiếm lĩnh kiến thức. Trong chương trình hóa học lớp 9, phần lớn các tiết đều có sử dụng các phương tiện dạy học đặc biệt là các dụng cụ hóa chất phục vụ cho thí nghiệm trong bài học. Chính vì vậy, việc chuẩn bị đồ dùng dạy học là một việc làm không thể thiếu được của giáo viên trước khi lên lớp.
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung từng tiết học giáo viên phải đến phòng thí nghiệm kiểm tra dụng cụ hóa chất, có kế hoạch bổ sung nếu thiếu hóa chất hoặc hóa chất đã bị hư hỏng không bảo đảm chất lượng. Khi chuẩn bị thí nghiệm, cần có phương án dự phòng thêm những dụng cụ, hóa chất. Bởi có thể có những hóa chất, dụng cụ không đảm bảo chất lượng.
 Dù là những thí nghiệm đơn giản hay phức tạp thì giáo viên cũng không nên chủ quan mà phải làm thử thí nghiệm trước khi lên lớp.
Đối với học sinh, phải đọc kỉ nội dung các thí nghiệm có trong tiết học, chú ý phương pháp tiến hành, dự đoán trước hiện tượng và giải thích, học sinh phải chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ mà giáo viên yêu cầu.
Ví dụ: Trong bài Sắt( Fe) tiết 24 Học sinh có thể chuẩn bị một số đinh Sắt mới để làm thí nghiệm thay thế cho những mẫu Sắt có trong phòng thí nghiệm. 
Trong bài thực hành tính chất của Gluxit tiết 67, thí nghiệm phân biệt Glucozơ, Săccozơ và Tinh bột học sinh có thể chuẩn bị Hồ tinh bột.
Trong bài Khái niệm về hợp chất hữu cơ và hoá học hữu cơ tiết 43 học sinh có thể chuẩn bị bông làm thí nghiệm mục 2. Hợp chất hữu cơ là gì?....
3/ Tổ chức các hoạt động dạy học 
a/ Tổ chức dạy học theo nhóm
Mỗi phương pháp dạy học đều có một lợi thế nhất định. Việc dạy học theo nhóm nhỏ cho phép học sinh có nhiều cơ hội để diễn đạt và khám phá ý tưởng của mình, mở rộng suy nghĩ rèn luyện kỹ năng nói, kỹ năng giao tiếp. Học sinh phát huy được vai trò trách nhiệm cá nhân vừa có cơ hội để học tập từ các bạn qua cách làm việc hợp tác giữa các thành viên trong nhóm chính là đã đạt được môi trường thuận lợi đễ học sinh hình thành tính cách và phát triển kỹ năng học tập của mình. Kết luận của nhóm sau khi đã thống nhất là sản phẩm của nhóm, đó nhính là quá trình trao đổi, trình bày ý kiến của từng thành viên trong nhóm khi mỗi thành thành viên trong nhóm đều đưa ra ý kiến thì đó là điều kiện, là lúc mà các em thể hiện khả năng của mình. 
 Do vậy, việc tổ chức dạy học theo phương pháp hợp tác theo nhóm là rất cần thiết, vì nó đã đạt được mục tiêu đổi mới giáo dục phổ thông và phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. 
Đặc biệt trong dạy học Hóa học lớp 9 thì việc chia nhóm để thực hiện là một yêu cầu, một đòi hỏi còn quan trọng hơn.
Khi chia nhóm giáo viên cần nắm chắc đối tượng, nội dung bài học, đồ dùng có ở phòng thí nghiệm để chia nhóm cho phù hợp. Giáo viên cần lập kế hoạch chi tiết, xác định mục tiêu của bài học, mục tiêu của từng hoạt động chọn bài tập chia nhóm, làm việc theo nhóm, tổng kết rút kinh nghiệm.
Phương pháp chia nhóm có thể dẫn đến những hiện tượng chỉ có một số học sinh khá, giỏi tham gia học tập tích cực, còn một số em học yếu, kém thì ít tham gia hoạt động, đây là hạn chế lớn nhất trong phương pháp dạy học theo nhóm.
Để khắc phục tình trạng đó, trong quá trình giảng dạy giáo viên cần tạo điều kiện cho các em hoạt động nhóm, giải thích cho các em hiểu rằng: Em nào củng có khả năng đại diện cho nhóm, tổ đứng trước lớp, qua bảng đen, bảng phụ thực hiện yêu cầu của giáo viên khi làm bài tập củng như khi trả lời câu hỏi khuyến khích các em lần đầu tiên đại diện cho nhóm trả lời. Chú ý tạo điều kiện cho những học sinh có học lực yếu, kém trong các nhóm được tham gia hoạt động, bằng cách cho các em trả lời một số câu hỏi đơn giản, dễ hiểu từ đó khích lệ động viên các em có tinh thần học tập tốt hơn.
Yếu tố làm cho hoạt động nhóm có hiệu quả là câu lệnh phải rõ ràng, không gây tranh cải, đủ khó nhưng không quá phức tạp và phải gắn với kiến thức đã có của học sinh.
Khi đã cho hoạt động nhóm, giáo viên phải thể hiện rõ mình là vai trò chủ đạo trong việc hướng dẫn học sinh chủ động, sáng tạo học tập. Việc huy động nhóm nhỏ phải tùy từng bài học, từng nội dung và từng đối tượng để có hình thức hoạt động phù hợp.
 Ví dụ: 
- Có thể gọi 1, 2 nhóm gắn bài ở bảng ( hoặc chiếu kết quả của nhóm trên màn hình) các nhóm khác nhận xét, giáo viên chốt đáp án đúng. Sau đó các nhóm tự chấm điểm lẩn nhau.
- Có thể giáo viên đưa đáp án, thang điểm yêu cầu các nhóm đỗi bài đánh giá lẫn nhau từ đó các em tự bổ sung kiến thức.
- Cũng có thể gọi đại diện nhóm trả lời, các nhóm khác nhận xét bổ sung.
Tùy từng tiết học mà giáo viên có phương pháp tổ chức hoạt động nhóm phù hợp, tuy nhiên cần đa dạng hóa hoạt động nhóm nhỏ để tạo hứng thú học tập cho học sinh.
b/ Tổ chức dạy học kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động theo nhóm nhỏ
Không phải bài học nào, phần kiến thức nào cũng phải hoạt động nhóm mà phải linh hoạt trong các khâu lên lớp nhằm giúp học sinh nắm kiến thức tích cực,vững chắc.
Bản thân tôi có những bài học kết hợp linh động giữa hoạt động cá nhân học sinh và hoạt động nhóm theo từng nội dung kiến thức phù hợp. Có nội dung kiến thức, để học sinh hoạt động cá nhân sẽ phát huy được sự sáng tạo, thông minh trong mỗi bản thân của từng học sinh. Từ đó các em có hứng thú tự tìm tòi kiến thức cho riêng mình.
c/ Tổ chức dạy học theo phiếu học tập
Có những bài học với những nội dung dài, phức tạp thì thiết kế các hoạt động trên phiếu học tập cho học sinh là phương pháp phù hợp nhất. Cách dạy học đó vừa giúp giáo viên giảm phần diễn giải đồng thời giúp học sinh hoạt động tích cực ( kể cả học sinh yếu, kém) Tuy nhiên các hoạt động ở phiếu phải phù hợp với nội dung bài học và đối tượng học sinh ( Có một phần nhỏ hướng dẫn của giáo viên trên phiếu). Khi cho học sinh sử dụng phiếu giáo viên phải huy động học sinh nghiên cứu thông tin SGK, thảo luận... để hoàn thành hoạt động ở phiếu. Từ đó rút ra kiến thức cần lĩnh hội.
4/ Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy
Phương tiện dạy học (PTDH) là trợ thủ không thể thay thế được của người giáo viên. Đối với người học PTDH là công cụ mà nhờ đó họ nhận thức được thế giới xung quanh. Mặt khác, việc sử dụng phương tiện còn giúp họ có thông tin đầy đủ và sâu sắc hơn về đối tượng hoặc hiện tượng đang nghiên cứu từ đó tạo điều kiện nâng cao chất lượng trong học tập.
PTDH giúp người học có hứng thú, đồng thời làm cho tài liệu học tập của người học trở nên vừa sức hơn. 
Khi quan sát trực quan, người học có điều kiện để tăng cường hoạt động độc lập, tự lực và tăng tính tự giác trong học tập. Vì vậy, trong dạy học ngày nay ngoài việc sử dụng các phương tiện trực quan như: Mô hình, mẩu vật, tranh, hình vẽ, các thí nghiệm..còn có các phương tiện kỹ thuật dạy học mới, tiến bộ đó là các phương tiện nghe nhìn, máy dạy họcmà cụ thể trong dạy học đa số các trường đã sử dụng máy chiếu qua đầu( Overhead) và máy chiếu đa năng( Projector).
Năm học 2008 – 2009 nhiều trường đã ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy, kết quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin đó bước đầu cho thấy có sự chuyển biến tốt. Một số giáo viên đã biết sử dụng phần mềm Powrpoint và Violet đễ thiết kế bài giảng. (Powrpoint và Violet là một phương tiện trình diễn sinh động, nếu biết sử dụng hợp lí màu sắc, hình ảnh, âm thanh, sẽ làm bài giảng hết sức phong phú và hấp dẫn). Trong thời gian qua, bản thân tôi đã cố gắng học hỏi và đưa vào sử dụng trong quá trình giảng dạy. Song, bước đầu còn gặp nhiều khó khăn bỡi đây là một phần mềm còn mới mẽ mà nhiều giáo viên chưa được tập huấn kỷ cách sử dụng. 
 5. Thiết kế các thí nghiệm ảo đễ thay thế các thí nghiệm độc hại, khó thành công.
	Trong dạy học Hoá học, việc giáo viên làm thí nghiệm biểu diễn hay học sinh làm thí nghiệm để chứng minh là việc làm thường xuyên không thể thiếu được. Bỡi Hoá học là khoa học thực nghiệm. Nhưng có một số thí nghiệm quá độc hại( Ví dụ các thí nghiệm trong bài tính chất hoá học của kim loại, bài Clo ) Một số thí nghiệm khó thành công( theo điều kiện từng trường).Vì vậy, giáo viên phải khai thác thí nghiệm ảo trên mạng hoặc tự thiết kế thí nghiệm ảo phù hợp với nội dung bài học và đối tượng học sinh, nhằm nâng cao tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh trong học tập.
6. Tổ chức các buổi ngoại khóa, thí nghiệm vui hóa học.
Để tạo hứng thú học tập môn Hóa học nhằm nâng cao và mở rộng học vấn hóa học, kích thích lòng ham hiểu biết hóa học cũng như các vấn đề có liên quan về hóa học.
Rèn luyện kỹ năng giải quyết về vấn đề khoa học, sẵn sàng sử dụng kiến thức hóa học và thực tiễn nhằm mục đích giáo dục kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp và bồi dưỡng tài năng về hóa học.
Huy động học sinh tham gia vào các hoạt động công ích về văn hóa, khoa học, nghệ thuật mang nội dung hóa học, tiến hành thí nghiệm phục vụ nông - lâm nghiệp, bảo vệ môi sinh, tham gia các hoạt động công ích như: Vệ sinh, phòng bệnh...
Tổ chức nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và tạo không khí thoải mái cho người học.
IV/ Kết quả đạt được
Việc tổ chức đa dạng các hoạt động học tập của học sinh áp dụng trong quá trình giảng dạy thời gian qua đã phù hợp với từng đối tượng học sinh trong từng tiết học vì vậy, kết quả thu được khá khả quan. Thể hiện ở một số nội dung sau: 
+ Nâng cao được sự hứng thú học tập bộ môn: Lớp học sôi nỗi hơn, học sinh hăng say phát biểu xây dựng bài, hoạt động tích cực hơn. Đặc biệt đã thu hút được nhiều học sinh tham gia vào các hoạt động của bộ môn Hóa học.
+ Nâng cao về chất lượng bộ môn: Kết quả đạt được trong bài kiểm tra 45 phút ( Bài số 2 lớp 9A,C trường THCS Mai Thủy) đạt được như sau:

 Lớp
Tổng số HS
Kết quả
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
TB trở lên
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9A
38
3
7,9
11
28,9
15
39,5
8
21,1
1
2,6
29
76,3
9C
39
5
12,8
12
30,8
13
33,3
7
17,9
2
5,1
30
76,9
Cộng 
77
8
10,4
23
29,9
28
36,4
15
19,5
3
3,9
59
76,6
 So với kết quả bài số 1 khi chưa thực hiện các giải pháp trên, giỏi tăng 3,9 %, khá tăng 6,5 %, trung bình tăng 11,7 %, trung bình trở lên tăng 22,1 %, yếu giảm 16,9 %, kém giảm 5,2 %.
V/ Bài học kinh nghiệm
Kinh nghiệm thực tiễn dạy học áp dụng các nội dung đã nêu trên và kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy để hình thành và phát triển hứng thú nhận thức của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn cần phải thực hiện một số biện pháp sau:
- Đỗi mới một số nội dung: thiết kế bài soạn, chuẩn bị đồ dùng, tổ chức các hoạt động dạy học( hoạt động nhóm, kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm, hoạt động trên phiếu học tập), sử dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy, ngoại khoá
- Giáo viên phải là người hoạch định, biết cách định hướng về cách học cho từng học sinh ở lớp và ở nhà. Phải tìm mọi cách tạo bầu không khí học tập thân thiện, hứng khởi, trên tin thần cỡi mở đoàn kết thi đua lành mạnh, biết khơi dậy nhu cầu học hỏi, hiểu biết của học sinh và đánh thức khả năng tiềm ẩn trong học sinh.
- Giáo viên tạo môi trường học tập mà ở đó học sinh đều có thể tích cực tham gia cả quá trình học tập, luôn hào hứng và muốn biết được tiến bộ của mình. Liên tục tạo ra những thử thách cho học sinh trong quá trình học tập. Giáo viên cần tổ chức các hoạt động tự lực để học sinh thực hiện.
- Mục tiêu học tập luôn có ý nghĩa, giáo viên cần triển khai các mục tiêu và nhiệm vụ học tập một cách hợp lý, hấp dẫn đồng thời giải quyết được nhu cầu đòi hỏi của học sinh để các em luôn hăng hái học tập, sử dụng phương pháp đa dạng và phải biết phối hợp tốt các phương pháp: Nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, tổ chức thảo luận nhóm . 
- Sử dụng phương tiện hiện đại phù hợp với nội dung bài dạy. áp dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy phù hợp. Bản thân tôi đã sử dụng phần mềm Powpoint đễ thiết kế bài dạy chưa nhiều song xin đưa ra một số kinh nghiệm sau: Không nên quan niệm trong khi sử dụng giáo án điện tử là không cần sử dụng bảng, phấn. Những phần trình diễn là phương tiện hổ trợ cho giáo viên trong các hoạt động trên lớp có hiệu quả hơn. Song phần ghi bảng của giáo viên sẽ giúp cho học sinh dễ dàng nắm được kiến thức hơn. Bố cục trong mỗi Silde phải hợp lí về màu sắc, kiểu chữ, cở chữ và màu nền. Không lạm dụng các hiệu ứng hiển thị gây mất tập trung của học sinh vào nội dung bài giảng. Khi đưa các tình huống không nên nhanh quá cần có đủ thời gian cho học sinh tìm hiểu. Không nên thay thế hoàn toàn các thí nghiệm mà chỉ trình chiếu những thí nghiệm có tính chất độc hại, những thí nghiệm khó thành công.
- Phát huy tối đa tính tư duy tích cực của học sinh hay nhất là tổ chức tình huống có vấn đề đòi hỏi dự đoán, nêu giả thiết, tranh luận trái ngược.
- Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với hoạt động hàng ngày trong cuộc sống của học sinh. Biết vận dụng những kiến thức trong bài học để giải thích một số hiện tượng trong thực tế có liên quan.
- Tiến hành dạy học ở mức độ thích hợp nhất đối với trình độ phát triển của học sinh. Một nội dung quá dễ hoặc quá khó đều không đem lại hứng thú cho học sinh. Cần biết dẫn dắt để học sinh luôn tìm thấy những cái mới có thể tự mình dành được những kiến thức mới.
- Thường xuyên thay đổi hình thức động viên học tập bằng cách khuyến khích cho các em thấy rằng mạnh dạn phát biểu xây dựng bài, làm bài tập trên bảng đen, trên giấy trong, đọc tài liệu là một cách tiếp cận, khám phá, hiểu mà dễ nhớ kiến thức bài học một cách chắc chắn hơn. Người giáo viên phải hết lòng cởi mỡ, hoà đồng với học sinh đễ các em thấy rằng thầy, cô là người thân của mình.
- Tạo không khí có lợi cho lớp học, làm cho học sinh thích thú đến lớp mong đến tiết học, muốn vậy phải tạo sự giao tiếp thuận lợi giữa thầy và trò, giữa trò với trò phải tạo sự gần gủi thân mật.
C/ Kết luận
Với phạm vi nghiên cứu tại trường trong gần 4 năm thực hiện chương trình đổi mới giáo dục phổ thông đối với bộ môn Hóa học lớp 9, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Hóa học, qua việc tổ chức đa dạng các hoạt động học tập của học sinh mà tôi đã thực hiện và kết quả đạt được khá khả quan.
Với những kinh nghiệm có được qua những giờ lên lớp, trao đổi với các bạn đồng nghiệp, hội thảo chuyên đề, dù đã rất cố gắng song không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi xin trình bày như trên với mong muốn là nhận được nhiều ý kiến trao đổi, chỉ bảo của các bạn đồng nghiệp và những người làm công tác chuyên môn ở các cấp quản lý và bạn đọc quan tâm, để sáng kiến của tôi đưa ra được hoàn thiện hơn. 
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đánh giá XL của HĐKH trường Mai Thủy, ngày 28 tháng 01 năm 2009
	 Người viết
 	 Phạm Thị Thủy
Các tài liệu tham khảo
1.Một số vấn đề đổi mới PPDH ở trường THCS của Bộ giáo dục 2004.
2.Thế giới trong ta số 50, 75, 71 năm 2008
3.Giáo dục thời đại số 42 năm 2008 
4.Tạp chí giáo dục số 171( Kì I 9/2007)
5.Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì III 2004 – 2007. Chuyên đề phương tiện kĩ thuật dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin ở THCS – SGD ĐT Quảng Bình
Mục lục
 Trang
 A. Đặt vấn đề 1
 B. Nội dung 2 
 I. Cơ sở lý luận 2 
 II. Cơ sở thực tiển và thực trạng 2 
III. Nội dung thực hiện 3 
 1/ Đỗi mới khâu soạn bài- thiết kế bài soạn chu đáo 3 
 2/ Chuẩn bị đồ dùng dạy học 4 
 3/ Tổ chức các hoạt động dạy học 5 
 4/ Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy 7 
 5/ Thiết kế các thí nghiệm ảo đễ thay thế các thí nghiệm độc hại, 
khó thành công 8
 6/ Tổ chức các buổi ngoại khoá thí nghiệm vui hoá học 8 
IV. Kết quả đạt được 8 
V. Bài học kinh nghiệm 9 
C. Kết luận 11 

File đính kèm:

  • docSKKN_HS_chu_dong_sang_tao_trong_hoc_hoa_9.doc
Sáng Kiến Liên Quan