Sáng kiến kinh nghiệm Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan từ thủ công đến công nghệ thông tin

 Lịch sử là khoa học nghiên cứu, tái hiện lại một cách chân thực quá khứ của xã hội loài người . Trong phạm vi nhà trường , lịch sử là môn học có tác dụng tốt nhất trong việc giáo dục đạo đức, truyền thống yêu nước của dân tộc cho học sinh , hơn thế nữa là sự biết ơn , kính trọng không chỉ đối với cha ông, các vị anh hùng dân tộc mà còn là sự biết ơn , kính trọng đối với những người có cống hiến lớn cho nhân loại .

 Học tốt lịch sử giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về quá khứ , rút ra được những kinh nghiệm quý báu cho hiện tại và từ đó đưa ra những dự báo chính xác cho tương lai . Nhấn mạnh tầm quan trọng của môn lịch sử trong nhà trường , Tsec nư sepx ki nhà văn dân chủ Nga thế kỷ XIX đã nói : “ Có thể không biết , không cảm thấy say mê học toán , tiếng Hi Lạp hoặc chữ La tinh , hóa học . Có thể không biết hàng ngàn môn học khác nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ ”.

 Thế nhưng một nghịch lý , thực tế đáng buồn là hiện nay thế hệ trẻ , những chủ nhân tương lai lại khá thờ ơ đối với môn học lịch sử vì rất nhiều lý do như : lịch sử chỉ là những sự kiện , con số khô khan , rất khó hình dung , ngoài ra một bộ phận không nhỏ phụ huynh và học sinh cho rằng học lịch sử sẽ không có nhiều cơ hội lựa chọn nghành nghề cho tương lai, vì vậy học sinh không mặn mà lắm với môn học lịch sử dẫn đến hậu quả là một bộ phận lớn không chỉ học sinh mà thậm chí cả sinh viên đại học khá mơ hồ về lich sử dân tộc . Thực tế đó thể hiện rất rõ trong kết quả các kỳ thi tốt nghiệp THPT , đại học gần đây và trên cả các chương trình trò chơi truyền hình của đài truyền hình Việt Nam có sự tham gia của sinh viên . Nguyên nhân của thực tế đau lòng đó theo chúng tôi ,ngoài những yếu tố vừa nêu trên còn có lý do không nhỏ xuất phát từ phía người dạy môn học lịch sử đó là việc dạy chay , đọc chép đã biến giờ học lịch sử thành một giờ học nhàm chán đối với học sinh đương độ tuổi hiếu kỳ , ham thích yếu tố mới lạ . Tôi xin nhắc lại , lịch sử là khoa học nghiên cứu , tái hiện lại quá khứ của loài người do đó chúng ta không thể làm thí nghiệm đối với lịch sử giống các môn học khác , như vật lý , hóa học , sinh học để học sinh quan sát nhưng chúng ta hoàn toàn có thể gây hứng thú học tập lịch sử đối với học sinh bằng việc sử dụng đồ dùng trực quan ( bao gồm : hình ảnh , bản đồ , sơ đồ , hiện vật ). Có thể nói hiệu quả của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử là rất lớn do đó một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc đổi mới phương pháp dạy học là sử dụng đồ dùng trực quan , là chống dạy chay trong dạy học lịch sử . Vì vậy hiện nay các nhà trường đã được trang bị một số lượng thiết bị khá lớn bao gồm những tranh ảnh , lược đồ , bản đồ bao gồm cả bằng giấy và dưới dạng những phần mềm để trình chiếu trên máy chiếu . Tuy nhiên số lượng trang thiết bị đó không phải là không có những hạn chế . Thứ nhất : số lượng tranh ảnh , lược đồ, bản đồ còn quá ít so với nhu cầu thực tế của bộ môn . Thứ hai : những thiết bị dưới dạng phần mềm được sử dụng để trình chiếu cũng rất ít , lại phụ thuộc vào điện năng . Do đó để đáp ứng nhu cầu sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử , giáo viên phải tự thiết kế , tự làm rất nhiều . Vấn đề là làm và sử dụng như thế nào .

 

doc14 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 06/08/2015 | Lượt xem: 892 | Lượt tải: 7Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan từ thủ công đến công nghệ thông tin", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sở giáo dục - đào tạo thanh hóa
trường thpt cẩm thủy 3
****************************
sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài 
thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan từ thủ công đến công nghệ thông tin
 Người thực hiện : Nguyễn Quốc Tuấn 
 Tổ : Sử - Địa - GDCD
Cẩm Thủy tháng 5 - 2008 .
	 Phần I
Đặt vấn đề
1 lý do chọn đề tài .
 Lịch sử là khoa học nghiên cứu, tái hiện lại một cách chân thực quá khứ của xã hội loài người . Trong phạm vi nhà trường , lịch sử là môn học có tác dụng tốt nhất trong việc giáo dục đạo đức, truyền thống yêu nước của dân tộc cho học sinh , hơn thế nữa là sự biết ơn , kính trọng không chỉ đối với cha ông, các vị anh hùng dân tộc mà còn là sự biết ơn , kính trọng đối với những người có cống hiến lớn cho nhân loại . 
 Học tốt lịch sử giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về quá khứ , rút ra được những kinh nghiệm quý báu cho hiện tại và từ đó đưa ra những dự báo chính xác cho tương lai . Nhấn mạnh tầm quan trọng của môn lịch sử trong nhà trường , Tsec nư sepx ki nhà văn dân chủ Nga thế kỷ XIX đã nói : “  Có thể không biết , không cảm thấy say mê học toán , tiếng Hi Lạp hoặc chữ La tinh , hóa học . Có thể không biết hàng ngàn môn học khác nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ ”. 
 Thế nhưng một nghịch lý , thực tế đáng buồn là hiện nay thế hệ trẻ , những chủ nhân tương lai lại khá thờ ơ đối với môn học lịch sử vì rất nhiều lý do như : lịch sử chỉ là những sự kiện , con số khô khan , rất khó hình dung , ngoài ra một bộ phận không nhỏ phụ huynh và học sinh cho rằng học lịch sử sẽ không có nhiều cơ hội lựa chọn nghành nghề cho tương lai, vì vậy học sinh không mặn mà lắm với môn học lịch sử dẫn đến hậu quả là một bộ phận lớn không chỉ học sinh mà thậm chí cả sinh viên đại học khá mơ hồ về lich sử dân tộc . Thực tế đó thể hiện rất rõ trong kết quả các kỳ thi tốt nghiệp THPT , đại học gần đây và trên cả các chương trình trò chơi truyền hình của đài truyền hình Việt Nam có sự tham gia của sinh viên . Nguyên nhân của thực tế đau lòng đó theo chúng tôi ,ngoài những yếu tố vừa nêu trên còn có lý do không nhỏ xuất phát từ phía người dạy môn học lịch sử đó là việc dạy chay , đọc chép đã biến giờ học lịch sử thành một giờ học nhàm chán đối với học sinh đương độ tuổi hiếu kỳ , ham thích yếu tố mới lạ . Tôi xin nhắc lại , lịch sử là khoa học nghiên cứu , tái hiện lại quá khứ của loài người do đó chúng ta không thể làm thí nghiệm đối với lịch sử giống các môn học khác , như vật lý , hóa học , sinh học để học sinh quan sát nhưng chúng ta hoàn toàn có thể gây hứng thú học tập lịch sử đối với học sinh bằng việc sử dụng đồ dùng trực quan ( bao gồm : hình ảnh , bản đồ , sơ đồ , hiện vật). Có thể nói hiệu quả của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử là rất lớn do đó một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc đổi mới phương pháp dạy học là sử dụng đồ dùng trực quan , là chống dạy chay trong dạy học lịch sử . Vì vậy hiện nay các nhà trường đã được trang bị một số lượng thiết bị khá lớn bao gồm những tranh ảnh , lược đồ , bản đồ bao gồm cả bằng giấy và dưới dạng những phần mềm để trình chiếu trên máy chiếu . Tuy nhiên số lượng trang thiết bị đó không phải là không có những hạn chế . Thứ nhất : số lượng tranh ảnh , lược đồ, bản đồ còn quá ít so với nhu cầu thực tế của bộ môn . Thứ hai : những thiết bị dưới dạng phần mềm được sử dụng để trình chiếu cũng rất ít , lại phụ thuộc vào điện năng . Do đó để đáp ứng nhu cầu sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử , giáo viên phải tự thiết kế , tự làm rất nhiều . Vấn đề là làm và sử dụng như thế nào . 
 Như vậy xuất phát từ vị trí của môn học lịch sử , từ hiệu quả của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử và để đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học hiện nay , tôi đã quyết định lựa chọn đề tài này .
 2 . lịch sử vấn đề .
 Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng không còn là vấn đề mới mẻ , thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan theo ý đồ của mình có lẽ cũng đã có nhiều người đã và đang làm . Song đúc rút các việc làm trên thành đề tài hoàn chỉnh thì có thể nói là chưa có .
Phần 2 các giải pháp cải tiến
I Nội dung 
 1 Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan bằng thủ công .
 2 Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trên máy tính .
II. Phương pháp 
 Đây là phương pháp chắc chắn đã có rất nhiều người làm vì không phải bài học nào cũng có sẵn thiết bị . Theo tôi phương pháp này có 2 dạng : 
 Thứ nhất : Phóng to những lược đồ , sơ đồ đã có sẵn trong sách giáo khoa nhưng chưa có thiết bị . Ví dụ : Hình 12 . Lược đồ thuộc địa của các nước đế quốc ở châu Phi đầu thế kỷ XX . Đây là dạng lược đồ đã có sẵn chúng ta chỉ việc vẽ lại hoặc hiện đại và chính xác hơn thì dùng máy quét để quét . Đối với dạng lược đồ này thì việc tự làm của chúng ta khá đơn giản .
 Thứ hai :Những bài học chưa có sẵn thiết bị dạng được cấp và không có cả hình ảnh thể hiện trong sách nhưng yêu cầu của bài dạy là phải có ,đối với loại này chúng ta phải tự thiết kế để trình bày theo nội dung của bài và theo ý đồ của chúng ta . Ví dụ : Muốn cho học sinh thấy vị trí và vai trò của kênh đào Xuy ê trong bài 5 “ Châu Phi và khu vực Mĩ la tinh” , ( phần lịch sử 11 cơ bản ) , sự phân chia Nam - Bắc triều và Đàng Trong - Đàng Ngoài  đương nhiên giáo viên phải tự làm . 
 Đối với cả hai dạng này chúng ta hoàn toàn có thể thiết phục vụ cho việc trình chiếu . 
III . Cách thức thực hiện 
 Việc thiết kế các dạng đồ dùng trực quan như đã nêu trên hầu như bài nào giáo viên cũng phải làm song trong đề tài này tôi chỉ giới hạn trong việc trình bày kinh nghiệm của bản thân về vấn đề thiết kế đồ dùng trực quan nói chung và một số bài cụ thể như ví dụ ở trên .
 1 Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan bằng thủ công . (Vẽ trên giấy) .
1.1 Sơ đồ , bảng biểu . 
 Sơ đồ, bảng biểu là dạng đồ dùng trực quan rất quen thuộc đối với chúng ta đó thực ra chỉ là kiến thức được chuyển từ dạng kênh chữ sang dạng bảng biểu (bao gồm : niên biểu , bảng thống kê ...) và sơ đồ . Đây là dạng đồ dùng trực quan khá đơn giản và dễ làm và chắc chắn có rất nhiều người đã từng làm . 
 Trên cơ sở kiến thức trong sách giáo khoa hoặc giáo viên sưu tầm từ các tài liệu liên quan ( các giáo trình ) trình bày thành bảng biểu hoặc sơ đồ. 
 1.1.1Sơ đồ .
 1.1.1.1 . Dạng sơ đồ thể hiện sự biến chuyển .Ví dụ : Để trình bày quá trình hình thành xã hội phong kiến ở Trung Quốc ( bài 5 “ Trung Quốc thời Tần – Hán” ) , giáo viên có thể chuẩn bị trước ra giấy A0 sơ đồ sau .(đã có trong sách giáo viên)
Quý tộc
Quan lại địa chủ
Nông dân công xã
Nông dân giàu 
Nông dân tự canh
Nông dân nghèo
Nông dân lĩnh canh
 Với sơ đồ này học sinh sẽ hiểu rất nhanh và rõ về sự phân hóa, chuyển biến từ xã hội cổ đại lên xã hội phong kiến ở Trung Quốc .
 Ngoài sơ đồ cụ thể này ra còn rất nhiều bài có nội dung có thể trình bày ở dạng sơ đồ này như : về sự tiến hóa của loài người , ở bài 1: “ Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thủy”. Quá trình hình thành xã hội phong kiến Tây Âu ở bài 13 “ Sự hình thành các quốc gia phong kiến Tây Âu” .
 1.1.1.2 , Dạng sơ đồ thể hiện tổ chức bộ máy nhà nước: Ví dụ : để trình bày chức bộ máy nhà nước phong kiến thời nhà Nguyễn ( cụ thể là thời Minh Mạng ), giáo viên trên cơ sở nghiên cứu tư liệu và kiến thức trong sách giáo khoa chuẩn bị trước sơ đồ sau .
 Kèm theo sơ đồ này giáo viên có thể thuyết minh về sơ đồ như sau :
 Đứng đầu nhà nước là vua , có quyền tối cao .
 Dưới vua là các cơ quan bao gồm : 
Nội các : giúp vua giải quyết giấy tờ , văn thư và ghi chép .
Viện cơ mật : lo việc quân quốc trọng sự .
Tôn nhân phủ : phụ trách các việc của Hoàng gia 
 Bên dưới nữa là các cơ quan : 
Hàn lâm viện : phụ trách sắc dụ , công văn 
Đô sát viện : phụ trách việc thanh tra quan lại .
Ngũ quân đô thống : phụ trách quân đội .
6 bộ ( Lễ , Binh , Hình , Công , Lại , Hộ ) : chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của nhà nước .
Phủ nội vụ : phụ trách kho tàng .
5 tự : phụ trách một số công tác, sự vụ .
Quốc tử giám : phụ trách giáo dục .
 Rõ ràng với sự cụ thể hóa bộ máy nhà nước thành sơ đồ như trên giúp học sinh thuận tiện hơn trong việc tiếp thu kiến thức và giáo viên tiết kiệm được thời gian . ngoài sơ đồ cụ thể này , trong chương trình sử 10 cơ bản và nâng cao còn có rất nhiều bài đề cập đến nội dung nhà nước phong kiến như : thời Đinh , tiền Lê , Lý ,Trần , hậu Lê ( thời Lê sơ ) phần lịch sử Việt nam . Thời Tần , Hán, Đường , Tống , Minh , Thanh ở Trung Quốc . Giáo viên có thể diễn giải ở dạng như trên.
 1.1.2, Bảng biểu . 
 Bảng biểu là hình thức tổng hợp , khái quát nội dung kiến thức cơ bản của một bài , một chương hoặc của một vấn đề nào đó như diễn biến của các cuộc chiến tranh , các cuộc cách mạng hay một cuộc cách mạng cụ thể Với việc chuẩn bị trước các bảng biểu này giáo viên hoàn toàn có thể chủ động hơn về mặt thời gian, kiến thức trên lớp . Sau đây tôi xin đưa ra một ví dụ cụ thể về các giai đoạn phát triển của thời nguyên thủy trên đất nước ta (bài 21 : “ Các giai đoạn phát triển của xã hội nguyên thủy” . Đối với vấn đề này giáo viên có thể sử dụng bảng thống kê sau : 
Các giai đoạn 
Thời gian
Địa bàn 
cư trú 
Công cụ lao động 
Hoạt động kinh tế
Tổ chức 
xã hội
Người tối cổ ở Việt Nam
30 đến 40 vạn năm
Lạng Sơn , Thanh Hóa, Đồng Nai, Bình Phước
Đồ đá cũ
Săn bắt , hái lượm 
Sống thành bầy đàn 
Người Sơn Vi
15 đến 20 vạn năm .
Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang , Thanh Hoá , Nghệ An , Quãng Trị .
Đá cuội được ghè đẽo ở rìa cạnh tạo thành lưỡi sắc .
Săn bắt , hái lượm
Sống thành tong bầy trong các hang động mái đá .
Người Hoà Bình , Bắc Sơn 
7000 đến 12000 năm
Hoà Bình,Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Ninh Bình, Bắc Giang, ThanhHoá,Nghệ An , Quãng Bình, Quãng Trị .
Đá được ghè đẽo hai mặt , xương tre gỗ .
Săn bắn , hái lượm , đánh cá , chăn nuôi , bắt đầu sản xuất nông nghiệp . 
Sống trong các thị tộc .
Người Hạ Long , Cái Bèo , Đa Bút , Cầu Sắt .
5000 đến 6000 năm 
Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Hải Phòng,Quãng Ninh,ThanhHoá,
Nghệ An , Hà Tĩnh, Quãng Bình, Quãng Nam , Đắc Lắc , Đồng Nai .
Đá được mài cưa , khoan lỗ .
Nông nghiệp lúa nước .
Bộ lạc , gia đình mẫu hệ 
 Về việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan này : Giáo viên chuẩn bị trước ở nhà trên giấy lớn khổ A0 . Trong quá trình giảng dạy , căn cứ vào nội dung bài giảng , giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện trước trên phiếu học tập ( theo nhóm) hoặc trình bày trực tiếp trên bảng . Sau đó giáo viên đưa bảng biểu đã chuẩn bị sẵn ra để đối so sánh là cơ sở để học sinh tự đánh giá kết quả của mình và các học sinh khác đánh giá kết quả của bạn.
 1.2 Bản đồ , lược đồ .
 - Dạng bản đồ , lược đồ có sẵn trong sách giáo khoa .
 Đối với dạng này giáo viên chỉ cần phóng to ra khổ giấy A0 như trong sách giáo khoa . 
 - Dạng bản đồ , lược đồ chưa có trong sách giáo khoa nhưng nội dung bài học có liên quan đến . 
VD : Bài 33 “chiến tranh phong kiến và sự chia cắt đất nước”(phần nâng cao) . Trong nội dung bài học đề cập đến nội chiến , phạm vi ảnh hưởng của Nam – Bắc triều , nội chiến Trịnh – Nguyễn và sự phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài, song trong sách không hề có một lược đồ nào thể hiện nội dung đó . Vì vậy học sinh sẽ không nắm được một cách cụ thể phạm vi ảnh hưởng , sự phân chia Nam – Bắc triều , Đàng Trong - Đàng Ngoài . Do đó để bài giảng có hiệu quả , học sinh nắm chắc được vấn đề bắt buộc giáo viên phải có sự chuẩn bị , phải vẽ được lược đồ thể hiện các nội dung trên . 
 Để làm được việc này đòi hỏi giáo viên phải có những kiến thức nhất định về địa lý Việt Nam , nếu không thì phải có bản đồ hành chính Việt Nam .
 Thực hiện cụ thể các bước như sau : 
- Vẽ lại lược đồ khu vực đó ( phần thô)
 - Dựa vào nội dung kiến thức trong sách giáo khoa xác định sự phân chia , phạm vi ảnh hưởng . Tức là hoàn thiện lược đồ theo ý đồ của mình . 
 Việc làm này thực ra là thao tác chuyển kiến thức từ kênh chữ cụ thể thành lược đồ . Với việc làm này giáo viên hoàn toàn có thể chủ động được các lược đồ bản đồ mà trong sách không có nhưng yêu cầu của bài học phải có .
 2 . Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trên máy tính ( sử dụng để trình chiếu )
 Cũng như phần vừa trình bày ở trên chỉ khác là chuẩn bị các dạng bảng biểu , sơ đồ, lược đồ trực tiếp trên máy tính ( trong giáo án điện tử - powepoint)
2.1 Bảng biểu , sơ đồ .
Thiết kế bảng biểu , sơ đồ trên phần mềm powepoint là những thao tác rất đơn giản , những giáo viên đã soạn được giáo án điện tử hoàn toàn có thể làm được điều đó . 
2.2 Bản đồ , lược đồ .
 Như đã trình bày ở trên bản đồ , lược đồ gồm có hai loại . Loại có sẵn trong sách và loại chưa có nhưng nội dung bài học cần phải có . vậy để thiết kế các loại lược đồ này trên máy như thế nào ? Sau đây là một vài kinh nghiệm rất thủ công trên máy mà tôi đã làm thấy có hiệu quả .
 2.2.1 Dạng bản đồ , lược đồ có sẵn .
Với dạng lược đồ này , thông thường chúng ta sử dụng phương pháp quét từ sách hoặc bản gốc vào máy . Tuy nhiên hạn chế của cách này là không phải nơi nào cũng có máy quét , không có dịch vụ đó và nếu có mỗi lần quét cũng tốn một khoản tiền nhất định . Để khắc phục hạn chế đó tôi đã từng làm phương pháp rất thủ công nhưng hiệu quả như sau : 
 - Trong trường hợp trong máy tính chưa có khuân hình lược đồ đó thì có thể sử dụng điện thoại hoặc mày ảnh để chụp lược đồ , bản đồ cần dùng , sau đó chuyển vào trong máy . Hình ảnh thu được có thể rõ hoặc mờ tuỳ vào tính năng của máy ảnh hoặc camera trong điện thoại . Nếu thấy rõ thì có thể để sử dụng luân . Trong trường hợp không rõ có thể làm theo cách sau : 
 + Copi , paste hình ảnh đó vào 1 trang trong giáo án điện tử của bạn .
 + Vào nút Auto Shapes lines Scribble 
như hình bên 
khi đó chuột sẽ biến thành bút .Sử dụng bút mạc lại hình hảnh trên lược đồ với điều kiện nét bút phải khép kín như vậy mới tô được màu . Sau khi hoàn chỉnh các nét vẽ theo ý đồ của mình trên lược đồ , thực hiện tiếp phần tô màu . Để tô màu nháy chuột vào các phần mới mạc lại , sau đó nháy chuột vào nốt fill color trên thanh công cụ Drawing và tuỳ chọn các màu để tô .
 Như vậy sẽ có một lược đồ mới hoàn toàn như ý .
VD : Trong bài 5 “Châu Phi và khu vực Mĩ la tinh” (sử 11 cơ bản ) bằng cách đó tỗi làm được các bản đồ sau 
 Đây là bản đồ mới chụp vào
Bản đồ sau khi đã xử lý bằng cách trên .
Vì mỗi một nét vẽ lại khép kín sẽ là một nội dung độc lập do đó để trình chiếu được phải đặt rất nhiều hiệu ứng , như vậy sẽ rất mất thời gian và dễ nhầm lẫn . Để khắc phục hạn chế đó phải biến toàn bộ lược đồ mới vẽ lại thành một ảnh mới bằng cách như sau : 
- Để nguyên bản đồ mới được vẽ lại đã tô màu hoàn chỉnh đưa vào chương trình trình chiếu . 
- ở chế độ trình chiếu nhấn vào nút Print Screen ( dãy trên cùng của bàn phím ) 
- Mở chương trình Paint và Paste vào 
- Nháy chuột vào nút này để cắt ảnh 
- Cóp pi ảnh đã cắt , dán trở lại slide trong giáo án .
Như vậy sẽ có 1 ảnh hoàn toàn mới và chỉ cần đặt 1 hiệu ứng cho ảnh mới đó . 
Trong trường hợp nếu muốn trình chiếu từng phần của lược đồ thì để nguyên lược đồ khi mới vẽ song và đặt hiệu ứng .
2.2.2 Dạng bản đồ , lược đồ chưa có sẵn trong sách nhưng nội dung bài học cần phải có 
 Với dạng lược đồ này giáo viên phải tự thiết kế hoàn toàn theo cách sau :
Cách 1: Thực hiện như vừa trình bày ở trên bằng cách chụp một khuân lược đồ khác tương tự .
Cách 2 : Trong trường hợp máy tính của bạn có khuân lược đồ đó cũng làm tương tự như cách 1 với điều kiện bạn phải có kiến thức về địa lý .
 VD : Thiết kế lược đồ thể hiện sự phân chia Nam – Bắc triều và Đàng Trong - Đàng Ngoài . ( bài 33 “ Chiến tranh phong kiến và sự chia cắt đất nước” 
 Nếu trong máy đã có bản đồ Việt Nam thì không phải chụp và đưa vào máy . Nếu chưa có thì chụp và đưa vào theo cách đã trình bày .
 Khi đã có bản đồ Việt Nam dựa vào nội dung trong sách giáo khoa để trình bày trên bản đồ theo sách và theo ý mình . 
 Bằng các thao tác như trên tôi đã thiết kế được lược đồ thể hiện nội chiến Nam – Bắc triều và phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài như sau :
lược đồ Việt Nam chưa xử lý
Bản đồ sau khi đã được sử lý bằng các thao tác trên theo kiến thức trong sách giáo khoa và theo ý đồ của giáo viên . 
 Bằng cách làm trên trong năm học vừa qua tôi đã thiết kế được khá nhiều đồ dùng phục vụ cho công việc dạy học của mình và nhận thấy cách làm đó vừa đơn giản , hiệu quả mà hầu như không tốn kém. Hiệu quả dạy học được nâng lên rõ rệt .
Phần III Kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm
1. Kết quả đạt được .
 Với việc sử dụng đồ dùng trực quan trong việc dạy học , ngoài những đồ dùng sẵn có cộng với việc thiết kế thêm đồ dùng để đáp ứng yêu cầu dạy học ,đặc biệt trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế đồ dùng trực quan đã tạo nên được những hình ảnh mới , sinh động đã đạt được những kết quả tốt hơn rất nhiều so với việc dạy chay . Học sinh hứng thú , hăng hái và tích cực học tập , xây dựng bài và yêu thích bộ môn hơn . Từ đó kết quả học tập cao hơn.
 Cụ thể trong năm học qua (2007 - 2008) như sau : 
Lớp
HK
sĩ số
giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém 
10A2
1
48
5
25
18
0
0
2
48
8
30
10
0
0
10A3
1
55
2
20
33
0
0
2
54
3
25
26
0
0
 Đây là kết quả cụ thể của 2 lớp 10 , là những lớp tôi đã tích cực thực hiện phương pháp trên nhiều nhất . Qua đó có thể thấy tỷ lệ học sinh khá , giỏi đã tăng lên đáng kể trong học kỳ 2 so với học kỳ 1 . 
2 . Bài học kinh nghiệm .
 Từ kết quả thu được tôi nhận thấy việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học là rất cần thiết , đặc biệt đối với môn lịch sử . Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng mang tính chất bắt buộc của việc đổi mới phương pháp dạy học . Điều đó cho thấy đổi mới phương pháp dạy học là một định hướng đúng đắn . 
 Chuẩn bị tốt đồ dùng trực quan cho một giờ học giúp giáo viên cảm thấy tự tin, chủ động , tránh được sự nhầm lẫn thiếu sót trong quá trình dạy học . Học sinh yêu thích bộ môn, hứng thú và tích cực học tập hơn , như vậy sẽ cho kết quả cao hơn .
 Giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp , giành nhiều thời gian cho việc rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh .
3 Kiến nghị đề xuất : 
 - Tăng thêm thời gian thực hành cho học sinh 
 - Bổ sung thêm các đồ dùng trực quan còn thiếu, các sơ đồ , lược đồ tương ứng với nội dung kiến thức trong sách giáo khoa . 
Tài liệu tham khảo
1 Sách giáo viên lịch sử 10 nâng cao .
2 Câu hỏi và bài tập lịch sử 10.
3 Bài tập và câu hỏi trắc nghiệm lịch sử 10 .

File đính kèm:

  • docSang_kien_kinh_nghiem_lich_su.doc