Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ Lịch sử

 Môn lịch sử trong nhà trường phổ thông có chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ

 Ở các nước tiên tiến cũng chú trọng việc dạy môn lịch sử vì nó đào tạo con người có bản sắc dân tộc

 Đảng và nhà nước, bộ giáo dục coi trọng việc dạy và học bộ môn lịch sử. Đúng như Hồ Chí Minh đã khẳng định trong hai câu thơ mở đầu trong cuốn lịch sử nước ta:

 “ Dân ta phải biết sử ta

 Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

 Nhưng trong thực tế cũng không ít người cho rằng:

Môn lịch sử là bộ môn học thuộc nặng về ghi nhớ những sự kiện năm tháng dài lê thê và xếp vào môn phụ, vì vậy ảnh hưởng không tốt vào mục tiêu đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ

 Trong quá trình giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập học sinh, tổ khoa học xã hội đã xác định môn lịch sử là một bộ môn khoa học có ưu thế hình thành nhân sinh quan cách mạng cho học sinh rèn tư duy sáng tạo cho các em, đặc biệt giúp cho học sinh từ hiểu biết lịch sử rút ra kinh nghiệm quý giá sẽ xây đắp cho tương lai

 Để đạt được kết quả trên thì bản đồ lược đồ tranh ảnh trong kênh hình SGK là phương tiện đóng vai trò quan trọng giúp cho giáo viên học sinh nâng cao được hiệu quả giờ lên lớp

 

doc7 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 30/07/2015 | Lượt xem: 1155 | Lượt tải: 23Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ Lịch sử", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chuyên đề:
“Sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ lịch sử”
 Môn lịch sử trong nhà trường phổ thông có chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ
 ở các nước tiên tiến cũng chú trọng việc dạy môn lịch sử vì nó đào tạo con người có bản sắc dân tộc 
 Đảng và nhà nước, bộ giáo dục coi trọng việc dạy và học bộ môn lịch sử. Đúng như Hồ Chí Minh đã khẳng định trong hai câu thơ mở đầu trong cuốn lịch sử nước ta:
 “ Dân ta phải biết sử ta
 Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
 Nhưng trong thực tế cũng không ít người cho rằng: 
Môn lịch sử là bộ môn học thuộc nặng về ghi nhớ những sự kiện năm tháng dài lê thê và xếp vào môn phụ, vì vậy ảnh hưởng không tốt vào mục tiêu đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ 
 Trong quá trình giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập học sinh, tổ khoa học xã hội đã xác định môn lịch sử là một bộ môn khoa học có ưu thế hình thành nhân sinh quan cách mạng cho học sinh rèn tư duy sáng tạo cho các em, đặc biệt giúp cho học sinh từ hiểu biết lịch sử rút ra kinh nghiệm quý giá sẽ xây đắp cho tương lai 
 Để đạt được kết quả trên thì bản đồ lược đồ tranh ảnh trong kênh hình SGK là phương tiện đóng vai trò quan trọng giúp cho giáo viên học sinh nâng cao được hiệu quả giờ lên lớp 
 Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của môn lịch sử như đã nêu trên nên tổ khoa học xã hội đã họp bàn thống nhất triển khai chuyên đề trong năm 2003- 2004
Một trong những đặc điểm của việc học tập lịch sử là học sinh không thể: “ trực quan sinh động cũng không thể tiến hành diễn tả trong phòng thí nghiệm. 
 Để tạo biểu tượng cho học sinh thì lược đồ tranh ảnh có vai trò ý nghĩa to lớn. 
 Tranh ảnh bản đồ lược đồ không chỉ có tác dụng cho nội dung, mà còn là nguồn tri thức không thể thiếu đựợc trong bài học. Nếu bản đồ lược đồ tranh ảnh được sử dụng tốt, sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy, tạo điêù kiện cho học sinh dễ hiểu nhớ lâu, gây được mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát huy đựơc năng lực chú ý quan sát, hứng thú của học sinh.
 Việc sử dụng tranh bản đồ lược đồ ở mỗi loại có mỗi cách sử dụng riêng: 
 Cách thức tiến hành:
 a. Sử dụng bản đồ : 
 *Đối với bản đồi câm hay còn gọi là bản đồ trống. 
 Trước tiên cho học sinh trực quan bản đồ,chỉ mới vài nét cơ bản về phạm vi lãnh thổ, vài địa danh chính làm nên sau đó dạy đến đâu giáo viên dùng bút các màu giấy màu các loại điền vào tới đó thể hiện được nội dung trong sách. 
 Sử dụng bản đồ câm có tác dụng rất lớn, nó thu hút sự tập trung chú ý của học sinh. Học sinh chú ý tìm hiểu một cách sinh động, các sự kiện được quan sát một cách rõ ràng dễ nhớ. 
 Ví dụ khi giảng phần: các cuộc tiến công của ta trong đại chiến cuộc Đông Xuân ( 1953- 1954). Giáo viên treo lược đồ chiến trường Đông Dương ( trên đất liền 1953-1954). 
 Chỉ ghi một vài địa danh như: Hà Nội, Điện Biên Phủ, Thà Khẹt, Sê Nô, Plây, Luông Pha Băng.
 Chuẩn bị một bông hoa màu tím than. 
 Khi tường thuật địch tập trung quân ở đồng bằng Bắc Bộ 44 tiểu đoàn để chủ động đánh ta thực hiện kế hoạch Nava hòng xoay lại tình thế chuyển bại thành thắng, giáo viên đính bông hoa đã chuẩn bị sẵn vào vị trí đồng bằng Bắc Bộ.
	Khi giảng đến các đợt tiến công của ta:
Ngày 10 tháng 3 năm 1953 ta tấn công Lai Châu bao vây Điện Biên Phủ. Nava buộc phải điều 6 tiểu đoàn cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ lên tăng cường cho Điện Biên Phủ làm cho Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung binh lực thứ 2 của địch, giáo viên tách một phần bông hoa ở đồng bằng Bắc Bộ đính lên Điện Biên Phủ.
	Đầu tháng 12 năm 1953 cùng với bộ đội Pha Thét – Lào ta tấn công trung Lào giải phóng thị xã Thà Khẹt, uy hiếp Sê Nô, biến Sê Nô thành tập trung binh lực thứ 3, giáo viên tách một phần bông hoa ở đồng bằng Bắc Bộ đính sang vị trí Sê nô.
Đầu tháng 2 năm 1954 ta tấn công địch ở bắc tây Nguyên giải phóng Kom Tum, uy hiếp Plây trở thành nơi tập trung binh lực thứ 4 của địch. Giáo viên dùng bút màu tím đen chấm lên địa danh Plây một chấm trong.
	Cũng trong thời gian này ta tấn công sang thượng Lào. Quân đội nhân dân Việt Nam và Pha Thét Lào tấn công địch và giải phóng vùng Phong Xa Lì, uy hiếp Luông Pha Băng, địch phải tăng cường Luông Pha Băng, Luông Pha Băng trở thành nơi tập trung binh lực thứ 5 của địch. Giáo viên dùng bút tím màu đen chấm một chấm tròn to ở vị trí Luông Pha Băng.
	Qua các ký hiệu được nổi lên trên lược đồ trống học sinh hiểu được một cách dễ dàng, qua các đợt tấn công của ta quân địch bị phân tán lực lượng chủ yếu từ một nơi thành 5 nơi, giống như võ sĩ khổng lồ nay bị ta căng tay căng chân ra thì võ sĩ ấy dứt khoát khoẻ mấy cũng thua. Như vậy địch từ chỗ chủ động tập trung đánh ta nay bị động phải phân tán ra đối phó với lực lượng của chúng bị tiêu hao.
	Học sinh sẽ chứng minh ngay được kế hoạch Na Va của địch nay bước đầu đã bị phá sản.
	b) Việc sử dụng bản đồ trong sách giáo khoa:
Thứ nhất là cho học sinh trực quan bản đồ.
Giới thiệu các ký hiệu đã ghi trên bản đồ.
Giáo viên tường thuật miêu tả thích ứng với các ký hiệu đã ghi trên bản đồ.
Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích đánh giá rút ra bài học lịch sử.
Ví dụ: Khi giảng Đức đánh chiếm Châu Âu trong phần I của bài “Chiến tranh thế giới thứ 2” trong sách tập I – sách giáo khoa lớp 9.
Để học sinh hiểu được vì sao Đức miệng hô là tiêu diệt Liên Xô nhưng mở đầu cuộc chiến tranh Đức lại đánh Ba Lan.
Trước hết giáo viên treo bản đồ cho học sinh trực quan.
	Chỉ các ký hiệu vị trí các nước, tường thuật: Ngày 1 tháng 9 năm 1939 Đức tấn công Ba Lan, Anh, Pháp buộc phải tuyên chiến với Đức vì Ba Lan là đồng minh.
	Tháng 4 năm 1940 đến tháng 6 năm 1940 Đức tập trung lực lượng đánh chiếm các nước Tây Âu với chiến thuật tốc chiến tấn công bằng xe tăng, máy bay tấn công bao vây lãnh thổ đối phương. Trong 2 tuần Đức đánh Đan Mạch, Na Uy, Bỉ, Hà Lan, Luých Xăn Bua sau đó tràn sang Pháp. Ngày 22/6/1940 chính phủ Pháp kí với Đức hiệp ước đầu hàng nhục nhã. Tháng 6 năm 1940 đe doạ đổ bộ lên nước Anh.
	Sau khi giáo viên tường thuật.
Giáo viên hỏi: Tại sao Đức chọn Ban Lan tấn công đầu tiên.
Học sinh mắt thấy, tai nghe phân tích phán đoán và trả lời các ý sau:
Đức chọn Ba Lan tấn công đầu tiên vì: 
Ba Lan có tài nguyên phong phú phục vụ cho chiến tranh: than, dầu, sắt thiếc.
	 Ba Lan có vị trí chiến lược quan trọng nằm giữa Tây và Đông Âu.
	 Là bình phong án ngữ cho Đức tránh được sự tấn công Liên Xô để Đức có thể đánh chiếm các nước Tây Âu sau đó sẽ trở lại tấn công các nước Đông Âu: Đặc biệt là Liên Xô.
	Đánh Ba Lan trước Anh, Pháp chưa phản ứng gì vì vậy Đức nuốt chửng Ba Lan làm bàn đạp tấn công các nước Tây Âu.
Ví dụ: Khi giảng Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở phần II trong bài: “Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn” (Sách giáo khoa lớp 7). 
Giáo viên treo bản đồ khởi nghĩa Lam Sơn 1418 – 1424
Giới thiệu các kí hiệu đặc biệt là vùng địa danh nhân văn vùng Lam Sơn giáo viên thuật 
Lam Sơn nay là Thọ Sơn - Thanh Hoá là nơi có nhiều cây tràm
Nằm bên tả ngạn sông Chu là đầu mối giao thông quan trọng
Là nơi giao tiếp của các anh em Việt – Mường – Thái là quê hương của anh hùng Lê lợi và nhiều anh hùng khác.
Là nơi xa chính quyền của địch.
Là nơi quê hương có truyền thống đấu tranh anh dũng chống giặc ngoại xâm.
Sau khi học sinh trực quan về địa lí và nghe nhân văn vùng núi Lam Sơn có điều kiện thuận lợi như thế nào mà Lê Lợi lại dựng cờ khởi nghĩa ở nơi đây.
Học sinh qua suy nghĩ phân tích thảo luận các em sẽ trả lời được:
Lam Sơn là vùng núi hiểm trở che chở cho nghĩa quân, nghĩa quân có thể có động nơi này đến nơi khác, là nội dung cấp sức người, sức của cho nghĩa quân, là nơi tụ nghĩa của các hào kiệt bốn phương trời. Lam sơn có điều kiện kinh tế chính trị xã hội, thuận lợi cho nghĩa quân, từ tay không mà dựng cờ khởi nghĩa. Lam Sơn là nơi thiên thời địa lợi nhân hoà.
	c) Sử dụng tranh minh hoạ:
- Khi sử dụng tranh minh hoạ, giáo viên hết sức tránh cho học sinh xem các bức tranh hỏi một cách chung chung là bức tranh nói lên điều gì. Trước hết cần giới thiệu bức tranh cho HS quan sát, nhận biết các nhân vật một cách khoa học, qua miêu tả học sinh phân tích, giải thích để đi đến nét khái quát và rút ra nhận xét kết luận lịch sử.
Để học sinh hiểu đựơc rằng nhìn hoa văn trên mặt trống đồng ta hình dung ra cuộc sống hồn hậu của ông cha ta.
Giáo viên treo bức tranh mặt trống đồng Đông Sơn cho học sinh trực quan hướng dẫn học sinh quan sát các hoa văn trên mặt trống đồng gồm có ai hình dung, hoạt động như thế nào.
Hỏi: Em hãy miêu tả những hình ảnh hoa văn trên các vòng của mặt trồng đồng?
ở giữa mặt trống đồng có hình ngôi sao toả ra 14 tia sáng biểu hiện không gian bao la rực rỡ
Vòng 1 của trống ta thấy hình ảnh các con chim mỏ dài đuôi dài, chân duỗi ra phía sau và nghiêng mình về phía phần phía trước đang hướng đến các tia sáng
Vòng 2 những con chim, con nai sừng dài đối xứng nhau từng đôi một.
Vòng 3 là những hình người cải trang hình chim, tay cầm giáo, tay cầm mũi tên, người thổi kèn, người đánh trống đi nhịp nhàng, người cầm chày giã gạo, người rung chuông đâu đâu cũng có hình chim, chim đậu mái nhà, chim đậu vai người giã gạo.
Giáo viên hỏi: Quan sát văn hoá trên mặt trống đồng em hình dung ra cuộc sống của ông cha ta như thế nào?
Học sinh dễ dàng trả lời được ngay: cuộc sống của ông cha ta rất lạc quan yêu đời, vui tươi con người và cảnh vật thiên nhiên hoà quyện với nhau chứng tỏ cuộc sống của ông cha ta rất hồn hậu.
Ví dụ: Khi giảng phần 2 Xô Viết Nghệ Tĩnh trong bài: Phong trào công nhân và nông dân 1930 – 1931 Xô Viết Nghệ Tĩnh trang 24 sách giáo khoa tập II lớp 9. Để học sinh chứng minh được đường nối của Đảng vạch ra hoàn toàn đúng đắn và xác thực với cách mạng Việt Nam, Xô Viết Nghệ Tĩnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 –1931 là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của cách mạng tháng 8 sau này.
Giáo viên quan sát bức tranh Xô Viết đặc biệt chú ý đến ký hiệu trang phục của giai cấp nông dân và công nhân, khí thế đấu tranh của họ.
Giáo viên hướng dẫn học sinh miêu tả
Giáo viên hỏi: Qua những hình ảnh trên bức tranh em có thể chứng minh rằng đường nối của Đảng đề ra là hoàn toàn sát thực với cách mạng Việt Nam?
 Học sinh liên hệ vơí đường nối của Đảng đề ra tháng 10 năm 1950 các em sẽ hiểu được rằng:Lần đầu tiên nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng giai cấp công nhân 8 nông dân ( đầy là 2 lực lượng đông đảo của CM đoàn kết bên nhau chống Đa và phong kiến)
Qua cao trào này Đảng đã huy động đông đảo quần chúng nhân dân (hàng vạn) đấu tranh có tổ chức qua đó giáo dục họ, đó là cuộc tổng diễn tập đầu tiên cho CM tháng 8 sau này.
Việc sử dụng tranh ảnh, bản đồ, lược đồ trong sáng giáo khoa có tác dụng rất lớn đỡ mất thời gian học sinh tiếp thu bài một cánh nhanh nhất nhớ lâu dễ hiểu tránh được 1 giờ học gò bó, ép đặt.
Học sinh tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng giờ học diễn ra sinh động đầy hứng thú. Qua biết được hiện tượng sự kiện lịch sử học sinh phân tích so sánh hiểu được bản chất cuả sự kiện, hiện tượng rút ra được bài học để xây đắp tương lai.Học sinh sẽ hiểu được quy luật và phát triển của loài người đồng thời cũng tìm ra được đặc thù riêng của môĩ vùng, môĩ chiến dịchHọc sinh sẽ thấy được cái hay cái đẹp trong khi học bộ môn lịch sử.
 Giáo viên sử dụng bản đồ, tranh ảnh thường xuyên sẽ rèn được khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ, đặc biệt là kỹ năng đọc bản đồ củng cố thêm kiến thức địa lý đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, rèn cho học sinh có khả năng phát triển tư duy sáng tạo.
Trên đây là những định hướng trong việc rèn kỹ năng sư dụng bản đồ tranh ảnh trong dạy học lịch sử. 
	Tổ chuyên môn triển khai học tập tinh thần của chuyên đề, sau đó dự giờ mẫu đ/c Ngọc dạy- rút kinh nghiệm.
 Tiếp theo các nhóm chuyên môn trao đổi bài dạy trong nhóm và áp dụng chuyên đề trong bài dạy của nhóm. Tổ chuyên môn sẽ họp đánh giá việc triển khai áp dụng chuyên đề vào cuối tháng 12. Sau đó rút kinh nghiệm tiếp tục triển khai chuyên đề ở các phân môn còn lại trong trương trình SGK thay sách lớp 7 cấp trung học cơ sở.
	Người viết

File đính kèm:

  • docSKKN Su dung do dung truc quan trong gio Lich Su (1).doc
Sáng Kiến Liên Quan