Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng làm văn biểu cảm ở THCS

 “Văn học là nhân học”. Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Bộ môn văn học là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống .

 Môn văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn: Văn học, Tiếng việt, Tập làm văn. Trong thực tế dạy và học, phân môn tập làm văn là phân môn “nhẹ kí” nhất. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Dạy làm văn là chủ yếu là dạy cho học sinh diễn tả cài gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng tỏ chính xác, làm nỗi bật điều mình muốn nói”. . . (Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, Nghiên cứu giáo dục, số 28, 11/1973) .

 Trong giảng dạy môn ngữ văn 7, tôi nhận thấy mặc dù biểu lộ tình cảm, cảm xúc là một nhu cầu thiết yếu của con người nhưng học sinh chưa biết cách bộc lộ cảm xúc của mình để “khơi gợi lòng đồng cảm nơi người đọc” ( Văn 7 – tập 1). Khi hành văn, các em còn lẫn lộn, chưa phân biệt rõ ràng, rạch ròi giữa văn biểu cảm với các thể loại văn khác. Chính vì thế, điểm các bài kiểm tra và điểm trung bình môn văn của các em còn thấp. Thực tế đó qủa là đáng lo ngại. Thực trạng vấn đề này ra sao? Vì sao học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc làm văn biểu cảm? Cần phải làm gì để nâng cao chất lượng dạy và học văn biểu cảm cho học sinh THCS? Đó là những vấn đề tôi trăn trở, muốn cùng được chia sẻ với các đồng nghiệp trong sáng kiến kinh nghiệm này .

 

doc17 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 29/07/2015 | Lượt xem: 3647 | Lượt tải: 137Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng làm văn biểu cảm ở THCS", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
y tập làm văn thông qua hoạt động, phương pháp trực quan, hình thức vấn đáp, thảo luận, tự học . . .Giáo viên cần vận dụng sáng tạo một số phương pháp khác như phương pháp đóng vai, phương pháp sử dụng trò chơi học tập Và theo tôi chúng ta khi dạy văn biểu cảm cho học sinh cần:
* Dù dạy văn biểu cảm về sự vật và con người hay văn biểu cảm về tác phẩm văn học, giáo viên luôn phải định hướng và hướng dẫn các em nắm vững quy trình để làm một bài văn biểu cảm tốt. Quy trình đó bao gồm :
a.Tìm hiểu đề và tìm ý 
 	 Tìm hiểu đề 
 Một đề bài thường ra dưới dạng khái quát nhằm thích hợp với tất cả đối tượng học sinh. Do đó, quá trình tìm hiểu đề bài sẽ diễn ra như một hoạt động nhằm cá thể hóa đề bài cho từng học sinh kết quả của quá trình này là mỗi học sinh có một đề bài cho riêng mình. Trong đề bài văn biểu cảm, giáo viên cần định hướng cho các em tìm hiểu đề bằng cách tìm ra lời giải cho các câu hỏi sau :
Em định phát biểu cảm nghĩ, tình cảm, mong muốn về đồ vật (con vật , loài cây, cảnh vật . . .)nào? về người nào? về tác phẩm nào ?
Em viết bài biểu cảm đó nhằm mục đích gì?(giãi bày cảm xúc, tình cảm nào?)
Em viết bài biểu cảm đó để ai đọc(cô giáo, thầy giáo, bố mẹ, bạn bè. . .)?
Lời giải đáp cho ba câu hỏi trên sẽ quyết định nội dung bài viết (trình bày cảm xúc gì ?), giọng điệu bài viết (viết cho bạn bè phải là giọng văn thân mật, có thể suồng sã; còn viết cho thầy cô hoặc bố mẹ phải thân thiết nhưng nghiêm trang )
 Tìm ý 
 Giáo viên chỉ ra cho học sinh cách đi tìm ý như sau: Tìm ý cho bài văn biểu cảm chính là tìm cảm xúc, tìm những ý nghĩ và tình cảm để diễn đạt thành nội dung của bài. Ý nghĩ, cảm xúc, tình cảm muôn màu muôn vẽ trong các bài văn biểu cảm đều bắt nguồn từ việc quan sát cuộc sống xung quanh, từ những gì người viết đã sống và trải qua, đã tiếp xúc trong tác phẩm. Vì thế, muốn tìm ý cho bài văn biểu cảm không phải cứ ngồi một chỗ mà đợi ý nghĩ, cảm xúc đến. Sau khi có một đề bài, hãy quan sát kĩ đối tượng đề bài nêu ra để từ đó, cảm xúc xuất hiện. Nếu không có điều kiện quan sát trực tiếp, hãy lục lọi trong trí nhớ, trong kỉ niệm những gì mình biết về đối tượng và từ từ nhớ lại các chi tiết. Nếu cả kỉ niệm trong kí ức cũng không có thì tìm đọc sách báo, xem phim ảnh về đối tượng để ghi nhận các chi tiết cần thiết.
 Đối với văn biểu cảm về tác phẩm văn học, cảm xúc và suy nghĩ về tác phẩm văn học được nảy sinh từ bản thân tác phẩm. Tìm ý trong trường hợp này chính là đọc kĩ ,đọc đi đọc lại nhiều lần tác phẩm, ngẫm nghĩ tìm ra vẻ đẹp, tìm ra triết lí của nội dung, tìm ra cái mới, cái độc đáo của các yếu tố hình thức nghệ thuật.
b. Lập dàn ý 
 Bài văn biểu cảm cũng có kết cấu ba phần (mở bài, thân bài, kết bài ) như các kiểu văn bản khác. Mở bài nhằm giới thiệu đối tượng và cảm xúc chính về đối tượng. Phần thân bài là sự phát triển các cảm xúc chính đã nêu ra ở phần mở bài. Phần kết bài khép lại các ý đã trình bày. 
c. Viết bài 
 Viết bài văn biểu cảm là việc viết các đoạn văn và nối chúng với nhau, tạo thành chỉnh thể thống nhất. Khi viết bài cần thực hành thành thạo kĩ năng hành văn, đặt câu, sử dụng từ, chọn giọng điệu, cách bộc lộ cảm xúc phù hợp. Khi viết bài, kết nối các đoạn trong bài văn biểu cảm cần chú ý đến lôgíc phát triển của cảm xúc, của tình cảm. Theo lôgíc này, mỗi đoạn trong bài đều phải hướng vào làm nổi rõ lên cảm xúc chính, tình cảm chính.
d. Sửa bài 
 Đa số học sinh khi làm bài không biết cách phân phối thời gian hợp lí nên viết xong là nộp bài, thậm chí hết thời gian nhưng vẫn chưa làm xong bài. Do đó, khâu tự sửa bài sau khi viết không được coi trọng. GV cần nhắc nhở các em chú trọng hơn đến việc sửa bài trước khi nộp. 
 Như vậy: Để dạy tốt văn biểu cảm, giáo viên nên chú ý trước tiên đến việc đổi mới cách ra đề. Từ đề tài chung cho cả lớp (có tính định hướng chung), phải thực hiện quá trình cá thể hóa đề bài (quá trình hướng dẫn mỗi học sinh đi từ đề tài chung cho cả lớp đến việc xác định đề bài riêng, đề bài cụ thể phù hợp với vốn sống, với tình cảm, cảm xúc riêng của mỗi học sinh). Một lí luận sư phạm tôi đã rút ra được trong quá trình giảng dạy, đó là: Giáo viên không được bắt học sinh viết bài văn biểu cảm về đề tài các em chưa được sống, chưa có hiểu biết, có cảm xúc nếu giáo viên muốn học sinh làm tốt yêu cầu mình đưa ra. 
 Khi chấm bài làm văn biểu cảm của học sinh, giáo viên nên coi trọng tính cá biệt, sự độc đáo trong suy nghĩ, rung động có trong nội dung hơn là độ dài của bài. Nếu bài văn biểu cảm của các em chỉ cần có được một, hai cảm nhận hoặc một, hai nội dung có sắc thái tình cảm riêng, các thầy cô giáo nên trân trọng, biểu dương và tỏ thái độ đánh giá cao qua cách cho điểm. 
 Giáo viên cần hướng dẫn, khuyến khích và khuyến khích hơn nữa việc học sinh đọc sách, bắt đầu từ việc đọc các văn bản trong SGK. Thực tế cho thấy học sinh rất lười đọc sách dẫn đến đọc yếu, gây khó khăn cho việc cảm thụ văn bản. Chính vì thế, giáo viên cần khơi nguồn và nuôi dưỡng thói quen đọc sách của học sinh bằng cách: trong mỗi tiết dạy giáo viên lấy dẫn chứng, ví dụ, trích các câu nói, đoạn thơ, đoạn văn hay từ các sách tham khảo, sách nâng cao, các tác phẩm văn học và cho các em trực tiếp nhìn thấy. Khi giáo viên làm được như thế, không cần phải “Khua chiêng gõ mõ”, tự các em sẽ tìm đến với sách, làm bạn với sách. Khi tôi bồi dưỡng học sinh năng khiếu văduwowtooi phát hiện thấy học sinh thích dùng sách theo cô giáo, có lẽ là mong có tài liệu để làm đúng ý cô. Tôi đã cất công đến hiệu sách và tìm sách để đọc qua có tính chất “thẩm định sách ” tôi cung cấp cho các em sách nào tốt hợp với các em, tôi cũng dùng để khuyến khích các em đọc. Tôi thấy cách này cũng có hiệu quả vì học sinh của tôi đã thích mua sách tìm sách để đọc.
 Một học sinh muốn học tốt văn biểu cảm cần phải có kĩ năng diễn đạt trôi chảy, hấp dẫn. Giáo viên nên giao các bài tập rèn viết ở nhà cho học sinh sau mỗi tiết học. Đặc biệt, giáo viên nên hướng dẫn các em cách viết nhật kí để giúp các em nuôi dưỡng tình cảm đẹp khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
* Giáo viên hướng dẫn cho học sinh biết cách tạo cảm xúc khi làm văn biểu cảm:
 Văn là cuộc sống, vì thế muốn có cảm xúc để viết văn biểu thì cần có cảm xúc với chính cuộc sống đời thường xung quanh chúng ta. Giáo viên nên khơi gợi cảm xúc của học sinh bằng cách nói chuyện gợi cho các em có cơ hội nói lên em thấy thế nào trước vật ấy, người ấy, sự việc ấy? Ví dụ khi biểu cảm về loài cây tôi thường hỏi các em thích cây nào vì sao em thích, vì sao không thích? Nếu các em không trả lờí được tôi sẽ gợi ý cho các em: vẻ đẹp lơi ích , kỉ niệm gắn bó.với cây đó. Từ đó để các em nảy sinh tình cảm tích cực về các loài cây. Khi biểu cảm về người tôi hỏi các em o khu chúng ta hiện nay có rất nhiều người lang thang và có vấn đề về thần kinh các em nghĩ gì khi gặp họ? Các em nói: sợ họ, ghét họ, thấy gê tởm, thấy thương họ. Tôi nói tiếp các em thử nghĩ nếu nhưng người ấy là bố mẹ, cô dì, chú bác, anh em mình thì sao? Các em nghĩ một lát rồi đều nói là thương họ. Tôi cũng nói cho các em biết hàng ngày khi gặp họ tôi đã nghĩ gì cảm thấy thế nào, muốn làm gì. Tôi cảm nhận sau khi chia sẻ các em nảy sinh tình cảm rất tích cực. Hoặc trước khi viết bài về mẹ tôi đã chia sẻ cảm xúc của tôi khi mẹ mình mắc bệnh nan y và những cảm xúc của mình khi mẹ qua đời Tất cả những chia sẻ ấy đã có ích rất nhiều trong việc khơi gợi, nuôi dưỡng cảm xúc của học sinh. Giáo viên chỉ cho học sinh thấy tất cả mọi thứ quen thuộc đôi khi ta không lắng lòng cảm nhận ta sẽ quên mất nó và vô cảm với nó rồi dần dần trái tim sẽ chai sạn, khô cằn. Biết nuôi cảm xúc là cách hiệu quả để có thể làm tốt văn biểu cảm.
* Giáo viên hướng dẫn cho học sinh biết cách thể hiện cảm xúc khi làm văn biểu cảm:
- Biểu cảm trực tiếp: 
 Biểu cảm trực tiếp là cách diễn đạt tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ của người viết một cách rõ ràng bằng các từ ngữ, câu chữ chứ không phải thông qua các hình thức biểu hiện khác. Đây là cách dùng phổ biến trong văn biểu cảm. Học sinh vận dụng cách biểu cảm trực tiếp vào bài viết cũng dễ dàng hơn hình thức biểu cảm gián tiếp vì nó dễ nhận biết, dễ thực hiện và dễ tác động một cách trực tiếp đến tình cảm của người đọc. Nhưng nếu vận dụng không khéo, bài viết của các em dễ rơi vào tình trạng giả tạo, gượng ép, sáo mòn, gây phản cảm cho người đọc. Vì thế khi viết bài các em cần chú ý kĩ năng vận dụng cách tạo cảm xúc sao cho tự nhiên, chân thực. Hình thức biểu cảm trực tiếp thường sử dụng các cách tạo cảm xúc sau:
+ Sử dụng từ ngữ biểu cảm:
Sử dụng những động từ chỉ cảm xúc, trạng thái tình cảm của con người:
 Ví dụ: “Tôi phập phồng cùng những nụ hoa đang bắt đầu hé nở. Tôi mê mẩn trước những bông hoa đang tỏa bừng rực rỡ. Tôi ngây ngất trước những hàng hoa đang lặng lẽ đưa hương, như muốn ủ vào đất, ướp lên trời, như muốn len vào hồn người. Tôi ngạc nhiên cùng mảnh đất ấy, âm thầm và lặng lẽ, giản dị và lớn lao, suốt đời đất ở dưới chân người bất ngờ bung lên tỏa bao sắc màu” 
( Trích Loài hoa tôi yêu – Hạ Huyền )
Nhận xét: Trong đoạn văn trên để bộc lộ cảm xúc của mình về các loài hoa, tác giả sử dụng những động từ chỉ trạng thái cảm xúc một cách tự nhiên say mê.
Sử dụng từ ngữ gợi hình, gợi cảm, đặc biệt từ tượng thanh, tượng hình:
 Ví dụ: “Hằng năm, cứ vào cữ hạ sớm này, người Hà Nội lại được hưởng những cơn mưa lá sấu vang ào ạt rơi trong hương sấu dìu dịu thơm thơm. Hương lá sấu dịu dàng, ướp cả bầu không khí tinh khôi khiến ta muốn hít thật sâu cho căng tràn lồng ngực... Những mảng hoa hình sao màu trắng chao nghiêng trong gió, đậu xuống mái tóc các cô gái lấm tấm khắp cả mặt đường” 
( Tạ Việt Anh )
Nhận xét: Trong đoạn văn trên để bộc lộ cảm xúc của mình về cây sấu, hoa sấu, mùi hương của hoa tác giả sử dụng những từ láy gợi tình yêu, sự gắn bó với cây sấu Hà Nội. Qua đó bộc lộ tình yêu của Hà Nội của người viết.
+ Dùng từ cảm thán, câu cảm thán:
 Ví dụ: “ Bố ơi! Bố chữa làm sao được lành lặn đôi bàn chân ấy: đôi bàn chân dầm sương dãi nắng đã thành bệnh”
 ( Tuổi thơ im lặng – Duy Khán )
 Ví dụ: “ Quê tôi lắm nằng nhiều mưa Chao ôi! Sức sống của cây cau sao mà bền bỉ, mãnh liệt như vậy!”
Nhận xét: Trong hai ví dụ trên tác giả bộc lộ cảm xúc trực tiếp bằng từ cảm thán và câu cảm thán. 
- Biểu cảm gián tiếp:
 Là cách biểu đạt tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ của người viết thông qua các hình thức biểu hiện khác như dùng biện pháp tu từ ẩn dụ, tượng trưng Ngoài ra cũng có thể diến đạt qua cảnh vật, con người có liên quan đến cảm nghĩ; trong trường hợp này họ thường sử dụng yếu tố từ sự, miêu tả để khêu gợi cảm xúc. 
+ Dùng biện pháp tu từ ẩn dụ tượng trưng:
Ví dụ: “ Thân gầy guộc, lá mong manh
	Mà sao nên lũy, nên thành tre ơi? ()
	Nòi tre đâu chịu mọc cong
	Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường
	Lưng trần phơi nằng phơi sương
	Có manh áo cộc tre nhường cho con ”
	( Tre Việt Nam – Nguyễn Duy )
Nhận xét: Nhà thơ Nguyễn Duy đã lấy cây tre làm hình ảnh ẩn dụ để thể hiện cảm nghĩ về con người Việt Nam. Bằng cách này tác giả tạo ra hai lớp nghĩa cho bài thơ: ca ngợi đặc điểm của cây tre, ca ngợi phẩm chất của con người Việt Nam kiên cường bất khuất nhưng giàu lòng yêu thương, đùm bọc, nhân hậu.
+ Dùng yếu tố tự sự, miêu tả:
	Yếu tố miêu tả:
Ví dụ: “ Những ngón chân của bố khum khum, lúc nào cũng như bám vào đất để khỏi trơn ngã. Người ta nói “Đấy là bàn chân vất vả”. Gan bàn chân bao giờ cũng xám xịt và lỗ rỗ, bao giờ cũng khuyết một miếng, không đầy đặn như gan bàn chân người khác. Mu bàn chân mốc trắng, bong da từng bãi, lại có nốt lấm tấm.” 
(Tuổi thơ im lặng- Duy Khán)
Nhận xét: Qua việc miêu tả bàn chân của bố, tác giả đã thể hiện lòng thương cảm, thấu hiểu sự vất vả, nhọc nhằn của bố. Tác giả đã truyền đến người đọc tình yêu với người cha sâu sắc.
 Yếu tố tự sự:
Ví dụ: “Bố đi chân đất. Bố đi ngang dọc đông tây đâu đâu con không hiểu. Con chỉ thấy ngày nào bố cũng ngâm chân xuống nước, xuống bùn để câu quăng. Bố tất bật đi từ khi sương còn đẫm cành cây, ngọn cỏ. Khi bố về cũng là lúc cây cỏ đẫm sương đêm” 
(Tuổi thơ im lặng- Duy Khán)
Nhận xét: Đoạn văn đã kể lại những việc bố làm nhưng không nhằm mục đích để kể mà để thể hiện tình cảm của con với bố.
Như vậy các yếu tố miêu tả, tự sự có tác dụng là phương tiện khơi gợi cảm xúc, làm cho cảm xúc được thăng hoa.
+ Dùng câu hỏi tu từ và các biện pháp nghệ thuật khác:
Ví dụ: “Nước biển Cô Tô sao chiều nay nó xanh quá quắt đến như vậy? (...) Cái màu xanh luôn luôn biến đổi của nước biển chiều nay trên biển Cô Tô như là thử thách cái vốn từ vị của mỗi đứa tôi đang nổi gió trong lòng. Biển xanh như gì nhỉ? Xanh như lá chuối non? Xanh như lá chuối già? Xanh như mùa thu ngả cốm làng Vòng? Nước biển Cô Tô đang đổi từ vẻ xanh này sang vẻ xanh khác. Nó xanh như cái màu áo Kim Trọng trong tiết Thanh Minh? Đúng một phần thôi. Bởi vì con sóng vừa dội lên kia đã gia giảm thêm một chút gì, đã pha biến sang màu khác. Thế thì nước biển xanh như cái vạt áo nước mắt của ông quan Tư mã nghe đàn tỳ bà trên con sóng Giang Châu thì có đúng không? Chưa được ư? Thế thì nó xanh như một màu áo cưới, được không? Hay là nói thế này: nước biển chiều nay xanh như một trang sử của loài người, lúc con người còn phải viết vào thân tre? Nghe hơi trừu tượng phải không?...”
(Cô Tô – Nguyễn Tuân)
Nhận xét: Tác giả thể hiện sự bất ngờ, sự say mê, thích thú của mình trước vể đẹp kì diệu của nước biển Cô Tô qua các hình ảnh so sánh, câu hỏi tu từ.
+ Dùng các kết cấu trùng điệp, điệp từ, điệp ngữ:
Ví dụ: “Tôi yêu Sài Gòn da diết như người đàn ông vẫn ôm ấp bóng dáng mối tình đầu chứa nhiều ngang trái. Tôi yêu trong nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào, vào buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ. Tôi yêu thời tiết trái chứng với trời đang ui ui buồn bã, bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh. Tôi yêu cả đêm khuya thưa thớt tiếng ồn. Tôi yêu phố phường náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm. Yêu cả cái tĩnh lặng của buổi sáng tinh sương với làn không khí mát dịu, thanh sạch trên một số đường còn nhiều cây xanh che chở”.
(Sài Gòn tôi yêu- Minh Hương)
Nhận xét: Tác giả đã bộc lộ tình yêu của mình với Sài Gòn nồng nhiệt, sâu sắc qua biện pháp tu từ điệp từ, điệp cấu trúc. Giọng văn tha thiết nhịp nhàng cũng chính là do các biện pháp này tạo ra. Rõ ràng người đọc đã rất ấn tượng với cảm xúc của tác giả.
Rõ ràng nếu giáo viên hướng dẫn học sinh cách biểu cảm cụ thể, giúp học sinh học biểu cảm theo những ví dụ cụ thể thì học sinh sẽ hiểu và nhanh chóng nắm bắt được kỹ năng biểu cảm. Phân biệt văn tự sự, miêu tả với việc dùng tự sự, miêu tả để biểu cảm, chứ không nhầm biểu cảm thành kể, tả.
3.1.2: Đối với học sinh 
 Để học tốt văn biểu cảm, cần biết tạo nên cảm xúc; bởi cảm xúc là sự cảm thụ của trái tim, của tấm lòng và tình cảm người học. Các em hãy đến với giờ văn bằng trái tim, bằng tấm lòng của mình thì những cung bậc tình cảm vui, buồn, thương, hờn giận từ bài giảng của thầy cô sẽ đi vào lòng các em. Các em sẽ biết thương cảm những số phận bất hạnh, bết căm ghét sự bất công, cái xấu, cái ác; biết yêu thiên nhiên hoa cỏ, yêu quê hương đất nước, “Người với người sống để yêu nhau” ( Tố Hữu).
 Để làm tốt một bài văn biểu cảm, khi làm bài, trước tiên, các em cần định rõ cho mình các yêu cầu cụ thể để biến đề tài chung cho cả lớp thành đề bài của riêng mình. Sau đó, cần xác định rõ những tình cảm cảm xúc, những rung động nào là mạnh mẽ, là riêng của mình. Hãy tập trung trình bày những tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp (qua miêu tả cảnh vật, qua một câu chuyện . . . ). Các em cần chú ý đến sự riêng biệt, độc đáo của nội dung hơn là ham viết dài. Đồng thời, cần lựa chọn các từ ngữ, hình ảnh (so sánh ví von, so sánh ngầm . . . )thích hợp để diễn tả những tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ của mình. Điểm quan trọng nhất để làm bài văn biểu cảm đạt kết quả cao là tự bản thân các em hãy tích cực đọc sách, tích cực tham gia các hoạt động trong nhà trường, ngoài xã hội để có thêm vốn sống, vốn hiểu biết. Các em nên viết nhật ký hoặc những bài viết ngắn ghi nhanh lại cảm xúc của mình trong cuộc sống hàng ngày. Qua đó, các em cần chú ý rèn luyện cho tâm hồn mình trở nên chứa chan những tình cảm yêu, ghét, buồn, thương, hờn giận, nhớ nhung . . . dạt dào những suy nghĩ đẹp đẽ cao thượng về tình bạn, tình yêu thương cha mẹ thầy cô, yêu quê hương đất nước . . . Đó là cái gốc to, là những chùm rễ sâu cung cấp chất bổ dưỡng cho cây văn biểu cảm luôn xanh tươi, nở hoa, kết trái. 
3.2. Hiệu quả của sáng kiến:
 Qua rút kinh nghiệm và thay đổi, áp dụng những giải pháp nêu trên tôi nhận thấy chất lượng dạy và học văn biểu cảm ở môn văn khối 7 năm học 2014 – 2015 được nâng cao rõ rệt. Ở phương diện là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi thấy mình vững vàng hơn trong chuyên môn; tự tin say mê hơn với sự nghiệp trồng người. Ai đó đã từng nói “Nghiệp văn là nghiệp khổ” nhưng tôi chẳng thấy khổ chút nào mà ngược lại, tôi thấy mình sung sướng hạnh phúc vì được cống hiến, góp sức mình làm đẹp cho đời. Đối với các em học sinh, các em bước đầu đã ý thức được tầm quan trọng của môn văn, biết bộc lộ cảm xúc của mình đúng cách, đúng nơi, đúng lúc. Số lượng học sinh có kĩ năng làm văn biểu cảm tốt khá nhiều. Cụ thể, thống kê điểm trung bình môn văn học kì I năm học 2014 – 2015 là rất khả quan.
Tỉ lệ học sinh giỏi
Tỉ lệ học sinh khá
Tỉ lệ học sinh trung bình 
Tỉ lệ học sinh yếu 
Tỉ lệ học sinh kém
16,5%
71%
12,5%
 3.3. Ứng dụng vào thực tiễn.
          3.3.1. Bài học kinh nghiệm
          3.3.2. Ý nghĩa
          3.3.3. Tính khả thi và khả năng áp dụng triển khai của sáng kiến ở mức độ nào và đối tượng nào sẽ có kết quả
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Có lẽ trong nhà trường không có môn khoa học nào có thể thay thế được môn văn. Đó là môn học vừa hình thành nhân cách vừa hình thành tâm hồn. Trong thời đại hiện nay, khoa học kĩ thuật phát triển rất nhanh, môn văn sẽ giữ lại tâm hồn con người, giữ lại những cảm giác nhân văn để con người tìm đến với con người, trái tim hòa cùng nhịp đập trái tim. Sau khi nghiên cứu, tham khảo sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân người dạy và người học sẽ có cái nhìn mới mẻ, tích cực hơn về phương pháp dạy và học văn biểu cảm. Từ đó, rất hi vọng kết quả học văn của các em sẽ tốt hơn; các em sẽ yêu thích, ham mê môn văn hơn nữa.
2. Một số khuyến nghị:
Đối với phụ huynh 
Quan tâm hơn đến việc học hành của con em mình, đầu tư nhiều về thời gian cho con cái học tập, không nên để cho các em phụ giúp nhiều công việc gia đình. 
Hướng dẫn và tạo cho con thói quen đọc sách; chia sẻ tư vấn, định hướng, bồi dưỡng tâm hồn cho con để các em có nhiều thuận lợi trong việc bộc lộ và phát triển cảm xúc, tình cảm trong cuộc sống nói chung và trong việc làm văn biểu cảm nói riêng.
Phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với giáo viên bộ môn văn để tìm hiểu, nắm bắt kịp thời tình hình học tập của con em mình. 
Đối với phòng giáo dục 
Tổ chức hội thảo chuyên đề cho giáo viên bộ môn văn trong từng năm để giáo viên có dịp trao đổi kinh nghiệm, bàn luận tìm ra biện pháp tối ưu, tích cực nâng cao chất lượng dạy học môn văn.
Có kế hoạch tham mưu với cấp trên có chế độ đãi ngộ hợp lí đối với giáo viên giảng dạy phụ đạo thêm cho học sinh yếu kém môn văn.
Đầu tư trang thiết bị, dụng cụ trực quan, đặc biệt là đầu tư công nghệ thông tin để hỗ trợ cho giáo viên giảng dạy văn.
 Đối với địa phương 
Quản lí chặt chẽ các điểm kinh doanh internet và các điểm dịch vụ không lành mạnh, làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh.
Quan tâm sát sao, hiệu quả đến chất lượng giáo dục ở địa phương, đầu tư cơ sở vật chất kịp thời phục vụ cho việc dạy và học. 
Hà nội, Ngày 1 tháng 4 năm 2015
 Người viết
 Vũ Thị Hảo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 7 tập 1
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004–2007 ) môn ngữ văn – quyển 1 và 2 – NXB Giáo dục
Phương pháp dạy học ngữ văn ở trường THCS theo hướng tích hợp và tích cực – Đoàn Thị Kim Nhung - NXB Đại học quốc gia TPHCM
Dạy học tập làm văn ở trung học cơ sở - Nguyễn Trí – NXB Giáo dục
Văn biểu cảm trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở - Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn – NXB Giáo dục

File đính kèm:

  • docSKKN_van_7.doc
Sáng Kiến Liên Quan