Sáng kiến kinh nghiệm Rèn chữ giữ vở cho học sinh Tiểu học

Môn Tiếng Việt là một trong các môn học chủ chốt của chương trình Tiểu học. Tiếng Việt là một môn học công cụ, một môn học mang tính chất nhân văn góp phần hình thành nhân cách của người lao động mới, đồng thời nó cũng làm tăng tính tiện dụng của môn học với người học. Giúp cho học sinh có nhiều cơ hội vận dụng những gì đã học vào thực tế cuộc sống.

 Môn Tiếng Việt giúp cho học sinh có bốn kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết, có thói quen học tập tốt và có những hiểu biết ban đầu về văn học nghệ thuật. Nó còn bồi dưỡng cho học sinh thói quen tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.

 Cùng với giáo dục nói chung thì giáo dục Tiểu học vừa có vị trí quan trọng, vừa có nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển con người toàn diện. Đó là nền tảng để các em tiếp tục học lên các lớp trên.

 Một trong những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng xuyên suốt trong cấp Tiểu học là kỹ năng : Nghe, nói, đọc ,viết. Căn cứ vào kế hoạch, nhiệm vụ năm học của Bộ GD - ĐT, của Sở GD - ĐT Phú Thọ và chỉ đạo hoạt động chuyên môn của Phòng giáo dục Thanh Ba về việc dạy đủ, có chất lượng 9 môn học bắt buộc đã đưa việc rèn chữ giữ vở thành phong trào thi đua sôi nổi hàng năm giữa các lớp trong trường vì:

ã Chữ viết là một trong những ngôn ngữ giao tiếp rất quan trọng của con người và chỉ có ở con người.

ã Chữ viết còn thể hiện nét văn hoá của dân tộc. Chữ viết đúng đẹp còn góp phần gìn giữ những giá trị văn hoá, truyền thống của dân tộc.

 

doc25 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 05/08/2015 | Lượt xem: 8524 | Lượt tải: 141Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn chữ giữ vở cho học sinh Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chất lượng chữ viết, tôi thường xuyên cho học sinh ôn lại các loại nét. Vị trí các đường kẻ ngang trong vở Tập viết, đơn vị độ cao giữa các đường kẻ.
+ Độ cao của các chữ cái viết thường:
Các chữ cái b, g, h, k, l, y được viết với chiều cao 2,5 đơn vị chữ.
Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị chữ.
Chữ cái r, s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị chữ.
Chữ cái d, đ, p, q được viết với chiều cao 2 đơn vị chữ
- Các chữ cái còn lại: o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, c, n, m, v, x được viết với chiều cao 1 đơn vị chữ.
+ Độ cao của các chữ cái viết hoa.
	- Chiều cao của cá chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị chữ. Riêng hai chữ cái viết hoa Y, G được viết với độ cao 4 đơn vị chữ.
+ Các dấu thanh được viết trong phạm vi một ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị.
	Khi rèn chữ cho các em, tôi căn cứ vào đặc điểm, cấu tạo các nét chữ và mối quan hệ về cách viết các chữ cái mà chia ra các nhóm như sau:
	Nhóm 1: Nhóm chữ cái cấu tạo từ nét cong là cơ bản: c, o, ô, ơ, e,ê, x.
	Nhóm 2: Nhóm chữ cái cấu tạo từ nét cong phối hợp với nét móc: a, ă, â, d, đ, q.
	Nhóm 3: Nhóm chữ cái cấu tạo có nét cơ bản là nét móc: i, t, u, ư, p, n, m
	Nhóm 4: Nhóm chữ cái cấu tạo từ nét khuyết ( nét khuyết phối hợp với nét móc) : l, b, h, k, y.
	Nhóm 5: Nhóm chữ cái cấu tạo từ nét móc phối hợp với nét cong:v,r,s.
	Nhóm 6: Nhóm chữ cái cấu tạo từ nét cong phối hợp với nét khuyết: g
	Trong quá trình dạy học sinh tôi đặc biệt chú ý đến điểm đặt bút, dừng bút sao cho chữ viết đúng, đẹp mà không phải nhấc bút. Vì vậy tôi mạnh dạn cải tiến điểm đặt bút một số chữ cái thuộc nhóm chữ có cấu tạo nét cong là nét cơ bản.
	Vì sao lại cải tiến như vậy. Trong quá trình viết tôi tự rút ra cho mình kinh nghiệm: Nếu đặt bút theo cách cải tiến sẽ tạo điều kiện thuận lợi khi viết nối sang chữ khác.
Cách cũ
* Chữ 0
Điểm kết thúc của chữ o nối sang chữ n, t, m,hơi cao làm cho nét móc của các chữ n, m, t.xấu không đúng với điểm đặt bút vốn có.
* Chữ A
Khi viết như cách cũ lia sang nét móc hay bị hở, không trùng với nét cong
Cải tiến
Điểm kết thúc của o chính là điểm đặt bút của n, m, ..
Điểm đặt bút và điểm kết thúc của nét cong gặp nhau không phải lia bút viết nét móc, nét khuyết mà đưa thẳng bút để viết luôn vì vậy mà nét móc, nét khuyết sẽ thẳng, trùng mà không lệch với nét trước. Tương tự với a là d, đ, g, q, â, ă.
	- Khi học đến bài nào, giáo viên cần cho học sinh nhận xét chữ đó thuộc nhóm nét chữ cơ bản nào: Độ cao, độ rộng của chữ viết thường, viết hoa, các điểm chuẩn khi viết chữ, nối các điểm chuẩn tạo nét chữ, nối các nét chữ thành chữ cái.
	- Khi học sinh viết được các chữ cái thì học sinh phải biết:
+ Liên kết chữ cái viết thường tạo chữ, khoảng cách các nét chữ, các chữ cái khi liên kết.
+ Liên kết chữ cái viết hoa với chữ cái viết thường.
	Khi rèn chữ viết cho các em học sinh, thông qua giờ Tập viết, người giáo viên cần quán triệt quan điểm: Học sinh phải được thực hành viết nhiều dưới mọi hình thức:
Tập viết trên bảng lớp.
Tập viết trên bảng con.
Tập viết trên vở tập viết.
Tập viết ở các môn học khác.
Trong giờTập viết người giáo viên phải luôn thay đổi hình thức dạy học, hình thức luyện viết để các em học sinh hứng thú hơn, tích cực hơn khi viết.
VD : Khi dạy bài 7 . Tập viết lớp 3. Các em luyện viết chữ B. GV giáo viên gắn chữ B vào các từ, câu cụ thể là: “ Biên Hoà” , “ Bác nông dân quanh năm một nắng hai sương”. Khi ra bài tập về nhà cho các em, tôi yêu cầu các em viết các câu khác có chữ B như : Hoà bình, Buổi sáng quê em thật đẹp.Qua đó các em vừa có ý thức viết hoa đúng quy tắc, thích viết hoa và viết cẩn thận hơn.
	Nếu học sinh viết sai giáo viên phải cho học sinh tự phát hiện chỗ sai của mìmh để các em nhớ ( Nếu học sinh không tự phát hiện được thì giáo viên phải chỉ rõ cho học sinh biết mình sai ở đâu? sai biên độ, sai độ cao, sai nét hay sai khoảng cách các con chữ. và cần phải sửa như thế nào). Sau đó học sinh tự sửa bằng cách đọc lại chữ và nêu lại cách viết chữ đó. Nếu học sinh viết sai cỡ chữ thì cho học sinh xác định lại đơn vị chữ của từng chữ. Nếu học sinh viết sai khoảng cách thì cho các em ước lượng lại nửa thân chữ, một thân chữ hoặc hai thân chữ rồi sửa.
Đối với dạy Chính tả:
Giáo viên luôn nâng cao ý thức trách nhiệm và giúp học nhận thức được tầm quan trọng của chữ viết trong quá trình học tập.
	Có ý thức rèn luyện và tích cực hướng dẫn học sinh để các em nắm được kỹ thuật viết chữ, các em viết ngày càng đẹp hơn.
	Cùng với việc rèn chữ cho học sinh, người giáo viên phải dần dần hình thành cho các em những phẩm chất tốt đẹp như tính cẩn thận, khiếu thẩm mỹ, tính kiên trì bền bỉ.
	Trong quá trình dạy học, giáo viên nên phân loại nhóm đối tượng học sinh để có mục tiêu cụ thể cho từng nhóm đối tượng học sinh đó.
VD : Nhóm viết đúng - phấn đấu viết đẹp.
	Nhóm viết sai nét - phấn đấu viết đúng nét.
	Nhóm viết sai chính tả - phấn đấu viết đúng chính tả.
	Nếu học sinh viết xấu thì giáo viên phải chỉ rõ nguyên nhân vì sao viết xấu và khắc phục viết xấu bằng cách viết lại chỉnh sửa nhiều lần, không tẩy xoá, bôi bẩn làm nhoè chữ.	
	Cụ thể: Trong giờ học chính tả tôi luôn kết hợp cho các em học quy 
tắc chính tả; cách viết hoa chữ cái đầu câu; tên riêng. Đặc biệt là tôi chú ý đến chính tả vùng miền. Tức là học sinh sai ở đâu thì sửa ở đó chứ không sửa theo nguyên tắc chung, cụ thể ở lớp tôi phân biệt 3 cặp phụ âm đầu: ch - tr, s - x, r - d - gi và các khuôn vần như: ươu, iêu, iu, ưu
	- Phải phối hợp việc luyện tập thường xuyên về chính tả với việc luyện tập toàn diện về ngôn ngữ ( coi trọng việc phối hợp chính âm và đối chiếu ngữ nghĩa)
	- Phải phối hợp sinh động giữa phương pháp không có ý thức với phương pháp có ý thức, phương pháp tiêu cực với phương pháp tích cực.
	- Phối hợp việc rèn chữ với quy tắc viết tên riêng Việt Nam.
Tên người và tên địa lý: Viết hoa tất cả các chữ cái đầu tiên của các âm tiết.
VD : Tên người : Nguyễn ái Quốc	
	Tên địa lý: sông Hồng, huyện Thanh Ba
Các tên riêng khác ( tên cơ quan, tên các tổ chức xã hội.) chỉ viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu:
VD : Trường Tiểu học Ninh Dân; Công ty Bảo hiểm - Xã hội.
Các từ chỉ phương hướng: hướng bắc, hướng nam không viết hoa nhưng khi giáo viênắn với tên địa lý thì viết hoa.
VD : miền Bắc, vùng Tây - Tây Bắc.
Những từ vốn là tên địa lý nếu đã mất tính chất riêng thì không viết hoa nữa.
VD : mực tàu, cá rô phi.
Tên chức vụ danh hiệu.khi cần viết hoa để biểu thị ý nghĩa kính trọng thì chỉ cần viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu.
VD : Hiệu trưởng, Giám đốc, Chiến sỹ thi đua.
Về việc dùng dấu nối: 
Dấu nối dùng trong các liên doanh:
VD : Bộ môn Hoá - Dược; Thừa Thiên - Huế.
Dấu nối chỉ giới hạn không gian, thời gian, số lượng:
VD : Chuyến tàu Hà Nội - Sài Gòn, Hà Nội thời kỳ 1945 - 1954
Dấu nối giữa các số để phân biệt ngày tháng.
VD : 2 - 9- 1945
* Học sinh:
 áp dụng tuyệt đối các nguyên tắc viết ở môn Tập viết để thực hiện viết ở phân môn Chính tả. Vì Chính tả là một văn bản, một đoạn văn, đoạn thơ. chứ không phải một dòng, một câu thơ như ở Tập viết.
	- Nâng dần tốc độ viết để đảm bảo yêu cầu về chuẩn kỹ năng nhưng vẫn phải đảm bảo kỹ thuật viết.
	- áp dụng các luật chính tả khi viết để ngoài viết đẹp còn viết đúng.
	- Rèn luyện cách trình bày khoa học; cách ghi tên bài, cách viết chữ đầu câu, đầu đoạn, cách trình bày các khổ thơ, đoạn thơ.
	- Từ việc rèn chữ ở phân môn Chính tả đến rèn chữ ở tất cả các môn học. Khi kiểm tra kết quả học tập của học sinh giáo viên luôn lưu ý và kiểm tra chất lượng chữ viết để kịp thời phát hiện lỗi sai và chỉ ra cho học sinh sửa.
4. Biện pháp thứ tư:
Người giáo viên thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo
	Do đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học thường hay bắt trước và coi tất cả việc làm , hành vi, cử chỉ, lời nói của giáo viên là mẫu mực. Cho nên chữ của giáo viên xấu, đẹp sẽ ảnh hưởnh rất nhiều đến các em.
	Để chữ viết của mình được đẹp, đúng thì trước hết trong giáo án, hồ sơ sổ sách chữ viết của mỗi giáo viên phải đúng, đẹp và thực sự chuẩn mực.
	VD : Bản thân tôi trước đây chữ viết chưa thực sự đẹp và đúng kỹ thuật nhưng từ khi xác định được tầm quan trọng chữ viết của người thầy đối với học sinh nên tôi tích cực rèn chữ. Vì vậy đến nay chữ của tôi được đồng nghiệp và BGH đánh giá cao và hồ sơ luôn được xếp loại A.
	Để chữ viết của người thầy thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo thì người thầy cần thực hiện tốt những nội dung sau:
Tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng về nội dung và phương pháp giảng dạy bộ môn Tập viết
Tự xây dựng thói quen, nề nếp trong việc rèn chữ và dạy rèn chữ cho HS
Luôn tìm tòi học hỏi đồng nghiệp những kinh nghiệm để học tập phương pháp của nhau.
5. Biện pháp thứ năm:
Người giáo viên phải có kế hoạch kiểm tra thường xuyên việc rèn chữ viết của các em học sinh và từ đó có những biện pháp cụ thể.
	Để đánh giá được sự tiến bộ của học sinh thì người giáo viên phải có kế hoạch kiểm tra cụ thể. Tuỳ tình hình đặc điểm của học sinh mà phân định thời gian cụ thể.
ở lớp tôi:
	Với nhóm học sinh viết đẹp phấn đấu đến viết đúng kĩ thuật và viết thẩm mỹ thì sau hai tuần tôi kiểm tra đánh giá, xếp loại một lần.
	Với nhóm học sinh viết đúng phấn đấu đến viết đẹp thì sau một tuần tôi kiểm tra,xếp loại một lần.
	Với nhóm học sinh viết sai thì tôi kiểm tra thường xuyên.
	Sau mỗi lần kiểm tra đánh giá như vậy, tôi có buổi tổng kết cuối mỗi tháng để lại phân nhóm đối tượng và đưa ra mục tiêu mới. Trong quá trình đó, ngoài việc chia nhóm cùng trình độ, tôi kết hợp chia nhóm nhiều trình độ để những em viết tốt giúp đỡ những em viết chưa tốt. Đồng thời các em tự đánh giá được chất lượng chữ viết của nhau.
6. Biện pháp thứ sáu:
Bồi dưỡng cho các em lòng say mê hứng thú “Rèn chữ - Giữ vở”
	Đây là biện pháp rất quan trọng, nó ảnh hưởng không nhỏ tới kĩ năng viết chữ của các em học sinh. Bởi có lòng say mê thích thú với công việc gì thì làm công việc đó mới toàn tâm, toàn ý và mới đạt kết quả cao được.
	Việc tạo ra hứng thú học tập cho học sinh cũng là một nghệ thuật của người giáo viên. Khi người giáo viên đã tạo cho các em lòng say mê, hứng thú thì việc viết chữ sẽ là niềm vui của mỗi em học sinh.
	Trong quá trình rèn chữ không phải em nào cũng tiến bộ ngay và sự tiến bộ là không đồng đều. Vì có những em trước đây viết xấu không phải vì không viết được đẹp mà là do ẩu, cẩu thả, viết ngoáy cho xong..có em viết xấu là do không viết được đẹp hoặc chưa tìm ra biện pháp rèn chữ thích hợp. Cho nên tôi đã tìm hiểu nguyên nhân rồi “kê đơn thuốc” thích hợp cho từng đối tượng:
Với học sinh viết chậm thì phải quy định thời gian nhất định.
Với học sinh viết ẩu, cẩu thả, viết ngoáy thì yêu cầu các em viết chậm, nắn nót cà quy định ngược về thời gian. Nếu xong trước thời gian sẽ bị phạt, sau đó thời gian sẽ giảm dần.
Với học sinh cố gắng mà chữ vẫn xấu, tôi viết một bài mẫu chuẩn phô tô, ép plastic để buổi học thứ hai và về nhà các em tô theo mẫu dần dần tay các em đưa ngòi bút cho thuần, mềm mại thì tách khỏi mẫu và viết vào vở độc lập.
Tổ chức cho các em tham gia trò chơi để không khí học tập vui vẻ, nhẹ nhàng sinh động.
Ví dụ:	Trò chơi:	Thi viết tiếp sức
Giáo viên chuẩn bị 4 - 5 băng giấy ghi tên một bài học thuộc lòng. Giáo viên giao cho mỗi tổ một băng giấy. Các tổ cử số người ứng với số câu thơ. Mỗi người lần lượt viết một câu thơ theo hình thức tiếp sức. Tổ nào xong trước nhưng viết đúng, đẹp sẽ thắng cuộc.
	Trò chơi:	Thi sức mạnh đoàn kết
	Trò chơi này dựa vào một tiết học cụ thể là tiết Tập viết hoặc tiết Chính tả.
Cách tiến hành: Khi đến giờ Tập viết hoặc Chính tả, giáo viên công bố: giờ hôm nay chúng ta thi đấu giữa các tổ, tổ nào có tổng điểm số cao nhất sẽ thắng cuộc. Giáo viên cho học sinh viết bài bình thường sau đó thu bài về nhà chấm. Giáo viên chấm xong cộng tổng số điểm của từng tổ và công bố tổ nào viết chữ đẹp nhất vào ngày hôm sau.
	- Từng bước, từng bước như vậy, khi “điều trị đúng thuốc” các em sẽ tiến bộ ( dù nhiều hay ít). Giáo viên cũng sẽ động viên khuyến khích kịp thời ngay.
	- Những học sinh trong cùng một nhóm đối tượng cùng thi đua phấn đấu để xem ai tiến bộ nhanh hơn.
	- Tất cả những việc làm đó sẽ tạo nên không khí sôi nổi trong lớp. Các em thực sự phấn khởi, thích thú trong mỗi giờ “Rèn chữ viết”.
7. Biện pháp bảy:
Tổ chức cho các em thi viết chữ
	Đối với Trường Tiểu học, việc tổ chức cho các em thi viết chữ đẹp nhân các ngày lễ lớn là hết sức quan trọng. Qua các cuộc thi này không chỉ tạo cho các em sân chơi bổ ích mà khả năng viết chữ của các em cũng tốt hơn rất nhiều. Khi tham gia cuộc thi các em rất vui thích, bạn nào cũng mong mình đoạt giải. Vì vậy: Trước các cuộc thi như vậy tôi tổ chức các cuộc thi trong tổ để chọn ra người dự thi trong lớp để lớp chọn ra người thi vòng trường. Vì vậy các em tích cực rèn chữ của mình ở tất cả các giờ học, luôn chuẩn bị chu đáo để tham gia cuộc thi.
	Ngoài việc tham gia cuộc thi viết chữ, tôi còn phát động phong trào giũ vở sạch giữa các tổ trong lớp. Tổ nào có nhiều vở sạch, chữ đẹp sẽ được cộng điểm thi đua và được tuyên dương trước lớp.
	Do đặc điểm tâm lý của lứa tuổi này nên qua các cuộc thi viết chữ hoặc các phong trào thi đua sẽ để lại cho các em những ấn tượng sâu sắc. Đó là sự ham mê hứng thú từ đó sẽ góp phần to lớn trong kết quả rèn chữ viết của học sinh.
8. Biện pháp thứ tám:
Công tác tham mưu
	Tham mưu với Liên đội - BGH và thông tin hai chiều với phụ huynh học sinh. Đây cũng là biện pháp khá quan trọng. Nó sẽ có tác dụng kịp thời trong việc học tập của các em nói chung và việc rèn chữ nói riêng.
+ Tham mưu với Liên đội: Phong trào rèn chữ sẽ sôi nổi hơn, các em sẽ thấy tầm quan trọng cao hơn.
+ Tham mưu với BGH: Đáp ứng về CSVC - thời gian và điều kiện để tổ chức các cuộc thi.
+ Tham mưu với PHHS: để gia đình quan tâm hơn, thấy được hiệu quả cụ thể hơn từ đó cùng giáo viên tạo điều kiện thuận lợi để các em học tập.
	Trên đây là 8 biện pháp mà tôi đã nghiên cứu và sử dụng trong quá trình thực hiện SKKN “Rèn chữ cho học sinh Tiểu học” ngay trong lớp tôi chủ nhiệm. Lớp 3C năm học 2009 - 2010, Lớp 4C năm học 2010 - 2011, Lớp 4B năm học 2011 - 2012. Sau 3 năm thực hiện tôi thấy đã đem lại hiệu quả rất cao. Chất lượng chữ viết tăng lên rõ rệt.
* * * * * * * *
C. Kết quả của SKKN:
	Sau thời gian áp dụng giải pháp mới cho học sinh lớp tôi. Tôi thấy chất lượng chữ viết của học sinh tăng lên đáng kể. Cụ thể:
Năm học 2009 - 2010
Chính tả
Thời
gian
TSHS
Loại A
Loại B
Loại C
TS
%
TS
%
TS
%
Cuối kì I
25
20
80%
5
20%
0
0
Cuối kì II
25
22
88%
3
12%
0
0
Tập thể lớp: 	Đạt loại A về rèn chữ giữ vở
Cá nhân :	Giải nhất vòng trường: Nguyễn Thị Khánh Ly
	Giải nhì vòng trường: Đỗ Thùy Linh
	Giải ba vòng trường: Đinh Thị Kiều Oanh, Nguyễn Tiến Chí.
Năm học 2010 - 2011
Chính tả
Thời
gian
TSHS
Loại A
Loại B
Loại C
TS
%
TS
%
TS
%
Cuối kì I
25
22
88
3
12
0
0
Cuối kì II
25
24
96
1
4
0
0
Năm học 2011 - 2012
Chính tả
Thời
gian
TSHS
Loại A
Loại B
Loại C
TS
%
TS
%
TS
%
Cuối kì I
35
25
71,4
10
28,6
0
0
Cuối kì II
35
27
77,1
8
22,9
0
0
Tập thể lớp: Đạt loại A về Rèn chữ giữ vở.
Cá nhân:	Vòng trường:	Giải nhất : 1
	Giải nhì : 2
	Giải ba : 2
	Vòng huyện:	Không tổ chức
	Vòng Tỉnh : 	Không tổ chức.
	Qua việc so sánh chất lượng sau mỗi kì khảo sát tôi nhận thấy chất lượng chữ viết của cả tập thể lớp được nâng lên rõ rệt. Học sinh không còn tình trạng viết chữ xấu, nát, thiếu nét, thieeus dấu. Lỗi chính tả theo vùng miền được khắc phục. Độ cao các chữ dòng quy định. Viết hoa đúng quy tắc.
	Qua việc sử dụng những biện pháp mới tôi rhấy ngoài việc nâng cao
chất lượng chữ viết của các em còn hình thành ở các em những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, tinh thần kỷ luật và khiếu thẩm mỹ. Các em có ý thức , thái độ đúng đắn trong học tập, tích cực và hứng thú hơn, yêu thích và say sưa học Tếng việt hơn, có ý thức viết chữ đẹp, khi ngồi viết, cầm bút, để vở. Các em có tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm, tính kiên trì, bền bỉ, thông qua việc rèn luyện và các trò trơi luyện viết chữ ở Tiểu học.
	Với lòng kiên trì, ham học hỏi, ham nghiên cứu tôi sẽ tiếp tục đưa ra những biện pháp để kết quả chữ viết của các em không dừng lại ở đó mà tiến xa hơn nữa.
* * * * * * * * *
PHầN 3: BàI HọC KINH NGHIệM
	Sau hai năm áp dụng những biện pháp về việc “rèn chữ giữ vở cho học sinh tiểu học” kết quả đạt được rất khả quan, đó cũng là bước khởi đầu tốt đẹp để tôi tiếp tục nghiên cứu và mở rộng phạm vi áp dụng biệnn pháp mới của mình trong thời gian tiếp theo. Trong quá trình đó bản thân tôi đã rút ra những kinh nghiệm sau:
Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của chi bộ, Đảng và sự quan tâm chỉ đaọ sâu sắc của BGH, tổ chuyên môn tới toàn thể giáo viên và học sinh về phong trào RC - GV.
Người giáo viên chủ nhiệm lớp phải biết đổi mới quan điểm, phương pháp dạy, điều chỉnh nội dung, mật độ dạy học, chú trọng dạy tập viết là hình thành cho học sinh “kỹ năng viết chữ” và luôn rèn kỹ năng đó dể có chữ viết đúng,đẹp.
Trong tám biện pháp thực hiện thì biện pháp nào cũng đem lại lợi ích đáng kể song biện pháp thứ 3 là biện pháp cần thiết và hiệu quả nhất.
Trong quá trình thực hiện giáo viên cần xây dựng tiêu chí, kế hoạch và biện pháp cụ thể có kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm sau mỗi giai đoạn.
Giáo dục học sinh ý thức tự giác rèn chữ, xác định mục đích đúng đắn trong quá trình học tập.
Tạo không khí thi đua lành mạnh, động viên khuyến khích kịp thời và tổ chức nhiều hình thức khác nhau để tránh nhàm chán.
Kết hợp chặt chẽ giữa “Gia đình - nhà trường” tạo điều kiện cho các em có môi trường học tập khoa học, thuận lợi nhất.
Giáo viên cần kiên trì, bền bỉ không nóng vội và nghiên cứu kĩ mẫu, cỡ chữ. Chuẩn bị kĩ kế hoạch bài học và đồ dùng dạy học.
Bản thân tôi cũng sẽ cố giắng hơn nữa trong việc dạy nói chung và rèn chữ viết nói riêng để các em có đủ diều kiện phát triển thành những con người toàn diện.
Phần 4: ý kiến đề xuất
	Để việc nghiên cứu của tôi đạt kết quả tốt hơn và các lớp mới của tôi thực hiện được nhân rộng rãi tôi xin có một vài đề xuất với BGH và PGD Thanh Ba như sau:
Thường xuyên tổ chức các cuộc thi “Chữ đẹp” cho giáo viên và học sinh để nâng cao chất lượng chữ viết của thầy và trò.
Tăng cường bồi dưỡng cho giáo viên về trình độ, năng lực dạy học phân môn Tiếng Việt.
Động viên khuyến khích kịp thời những giáo viên và học sinh có thành tích xuất sắc.
Vở tập viết in của học sinh về chất lượng giấy chưa được tốt, giấy mỏng, học sinh viết đến giữa vở thường bị bung, rách.
Vở viết ô li của học sinh dù là li cỡ to hay li cỡ nhỏ cũng nên là vở 5 li để khi viết các nét khuyết trên và khuyết dưới của học sinh không bị chạm, chồng lên nhau.
Bất kì người cha mẹ nào khi có con bước vào lớp cấp một nói chung và lớp 1 nói riêng trong lòng đều cảm thấy vui vui, mong ước con mình học giỏi, thông minh, ngoan ngoãn. Đó là niềm vui chính đáng, cần có ở mỗi chúng ta.
Nhưng làm thế nào để niềm vui và mong ước ấy trở thành sự thật ở đứa con mình. Đó là vấn đề tôi muốn nói với các bạn, những người làm cha, làm mẹ, những thầy cô giáo dạy Tiểu học trong bài viết này.
 Ninh Dân, ngày 12 tháng 5 năm 2012
 Người viết
 Lại Thị Hải
Nhận xét của Hội đồng khoa học
Trường Tiểu học Ninh Dân
Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Thanh Ba
Phần 5: tài liệu tham khảo
1/ Bộ chữ mẫu của BGD và ĐT ban hành 2002.
2/ Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Tiểu học - chu kỳ III.
3/ QĐ số 31/2002/QĐ - BGD & ĐT về việc ban hành mẫu chữ viết trong trường Tiểu học.
4/ Văn bản hướng dẫn: Chuẩn hoá chính tả và thuật ngữ - NXBGDHN
5/ Một số quy định về chính tả trong SGK cải cách của BGD và Uỷ ban khoa học xã hội công bố ngày 30/11/1980
6/ Vở tập viết các lớp 1 - 2 – 3.
7/ Luật giáo dục 2005.
Mục lục
Đề mục
A. Phần mở đầu
Phần I: Đặt vấn đề
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phần II: Giải quyết vấn đề
 I. Cơ sở lý luận
Cơ sở thực tiễn
Quá trình áp dụng giải pháp mới
Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm
Phần III: Bài học kinh nghiệm
Phần IV: ý kiến đề xuất
Phần V: Tài liệu tham khảo
Trang
3
3
3
4
4
4
5
5
6
9
19
22
24
25

File đính kèm:

  • docSKKN_RCGV.doc