Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp giúp học sinh học tốt bộ môn Lịch sử 7 qua việc sử dụng các sơ đồ dạy và học

I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Trong giai đoạn cả nước đang cùng thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với sự đổi mới của ngành giáo dục trong trào lưu đổi mới chung của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc dạy, học Lịch sử cũng có nhiều đổi thay quan trọng về quan niệm, nội dung, phương pháp. Kết quả bước đầu được thể hiện ở chương trình Lịch sử cải cách ở hệ thống sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kỹ năng, tài liệu tham khảo về nội dung và phương pháp dạy và học. Song việc phát triển của giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đào tạo của thế hệ trẻ trong thời kì mới. Việc dạy, học Lịch sử cũng trong tình hình như vậy.

 

doc16 trang | Chia sẻ: binhthang88 | Ngày: 23/11/2017 | Lượt xem: 810 | Lượt tải: 16Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp giúp học sinh học tốt bộ môn Lịch sử 7 qua việc sử dụng các sơ đồ dạy và học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
THCS Hưng Trạch nói riêng, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử. Trong chương trình và sách giáo khoa Lịch sử 7 có sử dụng sơ đồ nhưng chưa phong phú; trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên rất ngại sử dụng sơ đồ (có thể do nhận thức về phương pháp này, do sợ thiếu thời gian lên lớp, tốn kém)
Những bài học Sơ kết, bộ máy nhà nướcqua sơ đồ, học sinh nhánh chóng hình dung lại quá trình lịch sử đã học, nhận thức được cơ chế bộ máy nhà nước trong từng thời kỳ và khắc sâu hơn trong trí nhớ, đồng thời học sinh dể dàng hiểu được nội dung của quá trình lịch sử ấy.
Trong thực tiễn dạy học, khi dạy những bài học này tôi đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp đạt được kết quả riêng. Trong những phương pháp mà tôi đã vận dụng, phương pháp trực quan - trình bày theo sơ đồ đã mang lại hiệu quả cao nhất.
Ngoài ra, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời sống xã hội. Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần đầu tư công sức nhiều, dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trường.
Qua nhiều năm giảng dạy lịch sử , bản thân tôi luôn trăn trở để tìm ra những phương pháp giúp học sinh hứng thú học tập bộ môn hơn và đạt kết quả cao hơn . Một trong những phương pháp có hiệu quả tôi đã thực hiện gây hứng thú học tập cho học sinh là sử dụng các sơ đồ để dạy và củng cố bài học. Trên cơ sở đó, bản thân tôi đã chọn đề tài nhỏ về đổi mới phương pháp dạy học: “Phương pháp giúp học sinh học tốt bộ mô Lịch sử 7 qua việc sử dụng các sơ đồ dạy và học”
* Mục đích nghiên cứu:
Rút kinh nghiệm trong việc sử dụng sơ đồ dạy học tự làm trong giảng dạy Lịch sử 7 nói riêng và bộ môn lịch sử ở trường THCS nhằm đưa ra những cách dạy học tối ưu nhất, góp phần nâng cao khả năng xây dựng và sử dụng sơ đồ cho giáo viên. Giúp học sinh có khả năng nhận thức kiến thức và tự hoàn thiện kiến thức. 
Giúp cho đồng nghiệp - giáo viên dạy môn Lịch sử cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực, nhằm giúp cho học sinh yêu thích học tập môn Lịch sử , đồng thời học sinh nắm vững kiến thức.
2. Phạm vi nghiên cứu:
 	Áp dụng cho nhiều bài học Lịch sử lớp 7 phù hợp với chuẩn kiến thức kĩ năng, giới hạn trong việc tạo kĩ năng xây dựng và sử dụng sơ đồ cho giáo viên và học sinh, giúp học sinh hình thành kĩ năng, phương pháp học tập tốt hơn thông qua sơ đồ.
II. PHẦN NỘI DUNG:
1. Thực trạng :
1.1.Thuận lợi:
 	Giáo viên có nhiều cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua các phương pháp dạy học như: ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng dồ dùng trực quan, sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề, thuyết trình. Giáo viên tích cực hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, hỗ trợ kiến thức cho nhau, thông qua hoạt động này những học sinh yếu kém sẽ được sự hướng dẫn của giáo viên và các học sinh khá giỏi, học sinh sẽ nắm chắc kiến thức và hiểu sâu hơn về bản chất của sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên kết hợp và khai thác triệt để các đồ dùng và phương tiện dạy học như tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, mô hình, ứng dụng công nghệ thông tinHọc sinh có chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi giáo viên đặt ra, một số em có chuẩn bị bài mới ở nhà. Đa số học sinh tham gia tích cực trong việc thảo luận nhóm và đã đưa hiệu quả cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức.
1.2. Khó khăn:
 	Một số tiết giáo viên vẫn chưa phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, nắm vững kiến thức, vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học một chiều. Một số tiết giáo viên chỉ nêu vài câu hỏi và chỉ gọi một số học sinh khá, giỏi trả lời, chưa có câu hỏi giành cho đối tượng học sinh yếu, kém, làm cho đối tượng này ít được chú ý và không được tham gia hoạt động đều này làm cho các em tự ti về năng lực của mình, các em cảm thấy chán nản và không yêu thích môn lịch sử.
 	Học sinh chưa có tinh thần học tập, một số em vừa học vừa làm, việc tiếp thu bài chậm nên từ đó học sinh chưa xác định nội dung của bài học, tiếp thu bài một cách máy móc, các em luôn có tư tưởng lịch sử là môn phụ nên không cần thiết.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện:
Trong dạy học lịch sử, do không trực tiếp quan sát các sự kiện nên phương pháp trực quan góp phần quan trọng trong việc tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Đồ dùng trực quan có nhiều loại trong đó sơ đồ thuộc loại đồ dùng quy ước. Nhiều bài dạy lịch sử có rất nhiều thông tin và sự kiện học sinh không thể nhớ hết, nhưng giáo viên hệ thống bằng sơ đồ thì bài học sẽ trở nên ngắn gọn và dễ hiểu. Qua thực tế giảng dạy nhiều năm bản thân xin đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ trong việc sử dụng các sơ đồ để dạy học bộ môn lịch sử.
2.1. Yêu cầu của việc xây dựng sơ đồ:
	Để đảm bảo việc đưa sơ đồ vào dạy học lịch sử 7 có hiệu quả cần đảm bảo các yêu cầu sau:
 	- Đảm bảo tính khoa học: nội dung sơ đồ phải bám sát nội dung của bài học, các mối quan hệ phải là bản chất, khách quan chứ không phải do người xây dựng sắp đặt.
 	- Đảm bảo tính sư phạm: sơ đồ phải có tính khái quát hóa cao, qua sơ đồ học sinh có thể nhận thấy ngay các mối quan hệ khách quan, biện chứng.
 	- Đảm bảo tính mĩ thuật: bố cục của sơ đồ phải hợp lí, cân đối, nổi bật trọng tâm và các nhóm kiến thức.
- Đối với học sinh trong quá trình học
 	Trong giờ học phải chú ý nghe giảng bài, tích cực phát biểu ý kiến, xây dựng bài, không tiếp thu máy móc phải có suy nghĩ.
Học sinh phải đọc trước bài mới trong sách giáo khoa, chuẩn bị tất cả các câu hỏi trong sách giáo khoa phần sẽ học.
 	Học sinh tự giác học tập, dựa vào kiến thức giáo viên truyền thụ học sinh phải biết tự mình tìm tòi, sáng tạo, phân tích sự kiện hoặc so sánh sự kiện này với sự kiện khác.
 	- Đối với giáo viên:
 Chuẩn bị tất cả đồ dùng dạy học khi lên lớp: giáo án (hoặc giáo án điện tử), bản đồ tranh ảnh, sơ đồ hệ thống kiến thức.
 Khi giảng bài mới phải kết hợp nhiều phương pháp và kết hợp với liên hệ kiến thức cũ.
 Không nên đưa ra những câu hỏi quá đơn giản như: có, đúng, không, sai. Nếu đặt câu hỏi như vậy phải kèm theo vế sau như vì sao? Hoặc tại sao?
 Câu hỏi phải đi từ dễ đến khó, nếu đặt câu hỏi khó sẽ làm cho học sinh căng thẳng. Nếu câu hỏi khó giáo viên nên gợi ý cho học sinh trả lời, không nên cho học sinh suy nghĩ quá lâu làm không khí lớp nặng nề.
 Khi học sinh trả lời giáo viên phải nhận xét câu trả lời của học sinh, nếu thiếu có thể cho một học sinh khác bổ sung hoặc giáo viên trình bày cụ thể. 
 Nội dung bài phải thật ngắn gọn cô động nhưng phải đảm bảo nội dung cơ bản, cần nhấn mạnh ý chính của bài.
3.2. Các bước xây dựng:
Giáo viên nghiên cứu nội dung chương trình giảng dạy, lựa chọn ra những bài, những phần có khả năng áp dụng phương pháp sơ đồ có hiệu quả nhất. Tiếp theo giáo viên phân tích nội dung bài dạy, xác định sự kiện, nội dung phù hợp cần truyền đạt, hình thành.
 - Bước 1: Tổ chức các đỉnh của sơ đồ - đối với các sơ đồ bộ máy nhà nước ( chọn kiến thức cơ bản, vừa đủ, cô đọng, xúc tích ).
 - Bước 2: Thiết lập các cạnh ( các cạnh nối những nội dung ở các đỉnh có liên quan )
 - Bước 3: Hoàn thiện ( kiểm tra lại tấc cả để điều chỉnh sơ đồ phù hợp với nội dung dạy học và logic nội dung, đảm bảo tính thẩm mĩ và dể hiểu ).
 	Trong dạy học Lịch sử ta có thể xây dựng các kiểu sơ đồ sau:
- Sử dụng sơ đồ để hình thành kiến thức mới.
 	- Sử dụng sơ đồ để củng cố hoàn thiện kiến thức.    
- Sử dụng sơ đồ để kiểm tra đánh giá.     
- Sử dụng sơ đồ sơ, tổng kết chương, phần.     
	3. 3. Tổ chức thực hiện:
3.3.1. Sử dụng sơ đồ để hình thành kiến thức mới.
       	Trong nội dung này cần dùng sơ đồ để giới thiệu những kiến thức mới làm cho học sinh nắm được, ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc. Mặt khác học sinh phải biết móc xích kiến thức vừa học với kiến thức đã học ở các bài trước, vì vậy giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy và trình độ học sinh để sử dụng phương pháp dạy học cho có hiệu quả. Có thể sử dụng sơ đồ theo nhiều cách.
Giáo viên lập sơ đồ lên bảng rồi dùng phương pháp giảng giải cho học sinh hiểu và nắm bắt kiến thức. Phương pháp này có thể dùng khi ta dạy những bài đầu tiên để học sinh làm quen với phương pháp sơ đồ hoá hoặc khi ta dạy với đối tượng học sinh trung bình. Nhược điểm của phương pháp này là hiệu quả không cao vì học sinh nắm kiến thức một cách máy móc không phát huy được tính sáng tạo và tư duy độc lập của học sinh.
 - Ví dụ: Khi dạy bài 9: Nước Đại Việt thời Đinh - Tiền Lê(Lịch sử 7), giáo viên hướng dẫn học sinh thiết kế sơ đồ như sau:
Phân biệt hệ thống quan lại với đơn vị hành chính, qua sơ đồ thấy rằng hệ thống quan lại chưa có nhiều cơ quan chuyên môn và các đơn vị hành chính còn đơn giản, các đơn vị hành chính địa phương chưa được sắp xếp đầy đủ.
 Hệ thống quan lại Đơn vị hành chính
Đại Cồ Việt
Vua
Quan văn
Quan võ
Lộ
Phủ, Châu
 	- Ví dụ 4: Khi dạy bài 10: Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước . Đây là dạng bài không có sơ đồ được vẽ sẵn ở sách giáo khoa nhưng qua phần kênh chữ giáo viên yêu cầu học sinh kĩ năng vẽ sơ đồ bộ máy chính quyền ở trung ương và địa phương thời Lý, yêu cầu này được đưa vào câu hỏi cuối mục 1 của sách giáo khoa (tr 36):
Em hãy vẽ sơ đồ bộ máy chính quyền ở trung ương và địa phương thời Lý.
Để thực hiện mục tiêu rèn luyện kĩ năng này tôi đã tổ chức hoạt động dạy học như sau:
Bước 1: Học sinh đọc kênh chữ ở sách giáo khoa trang 36 “Năm 1054... huyện, hương.”
Bước 2: Cho học sinh hoạt động theo nhóm, dựa trên thông tin của kênh chữ để vẽ sơ đồ bộ máy chính quyền ở trung ương và địa phương thời Lý.
Bước 3: Đại diện các nhóm vẽ sơ đồ trên bảng và trình bày tổ chức chính quyền ở trung ương và địa phương thời Lý bằng ngôn ngữ nói.
Bước 4: Học sinh nhận xét, bổ sung hoàn chỉnh phần sơ đồ, giáo viên kết luận, đánh giá hoạt động của học sinh.
Bước 5: HS quan sát tự vẽ sơ đồ vào vở.
Với hình thức tổ chức hoạt động dạy đã nêu trên, giáo viên đã cho học sinh hoạt động dưới hình thức nhóm, học sinh đã tự hoạt động dựa trên phần kiến thức tiếp thu từ kênh chữ, các em trong nhóm có thể đưa ra nhiều ý kiến khác nhau. Trên cơ sở kênh chữ trong sách giáo khoa các em có thể vẽ sơ đồ theo 2 dạng như sau:
 Hệ thống quan lại Đơn vị hành chính
Vua
Lộ, Phủ 
HuyÖn
C¸c ®¹i thÇn
Hương, Xã
Quan võ
Quan văn
 - Ví dụ: Khi dạy bài 13: Nước Đại Việt thế kỷ XIII(Lịch sử 7), giáo viên yêu cầu học sinh trả lời theo gợi ý và thầy trò cùng xây dựng sơ đồ. Với các câu trả lời của học sinh thầy có thể hình thành dần sơ đồ lên bảng. Phương pháp này có ưu điểm là phát huy được khả năng tự làm việc của học sinh, tạo cho học sinh những tình huống có vấn đề thông qua các câu hỏi hoặc các em suy nghĩ tìm tòi có thể vận dụng thực tiễn vào bài học, tạo cho các em cơ hội xây dựng bài khơi gợi trí tò mò và sự hứng thú học tập, học sinh dễ dàng tiếp thu và tiếp thu một cách tích cực khi thấy sơ đồ được hình thành dần dần trên bảng.
THÁI THƯỢNG HOÀNG
VUA
CÁC ĐẠI THẦN
Quan võ
Quan văn
Quốc sử viện
Thái y viện
Tôn nhân phủ
Chính quyền địa phương
Lộ, Phủ
Huyện
Hương, xã
- Ví dụ: Khi dạy bài 20: Đại Việt thời Lê sơ (1428 – 1527)(Lịch sử 7), Đây là giai đoạn lịch sự mà bộ máy hành chính nhà nước đẫ dần hoàn chỉnh, cấp trung ương đã hình thành nhiều cơ quan chuyên môn giúp việc cho nhà vua, nhiều bộ mới được hình thành nên việc thiết kế, xây dựng sơ đồ đòi hỏi sự phức tạp hơn, trên cơ sở nội dung sách giáo khoa, giáo viên hình thành các nhánh lớn, học sinh sẽ tự phát hiện và điền vào vị trí còn thiếu tên các bộ và các cơ quan chuyên môn.
Đặc biệt dưới thời lê Thánh Tông, nhiều cuộc cải cách hành chính lớn toàn diện được tiến hành từ trung ương đến địa phương. Cải cách để tăng cường quyền lực của nhà vua. Quyền lực tập trung trong tay vua, chứng tỏ bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế nhà Lê đạt đến mức độ cao, hoàn thiện.
QUÔC
SỬ VIỆN
VUA
BỘ HỘ
BỘ BINH
BỘ CÔNG
BỘ LỄ
BỘ LẠI
BỘ HÌNH
CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
CÁC QUAN
ĐẠI THẦN
NGỰ SỬ
ĐÀI
HÀN LÂM VIỆN
Chính quyền địa phương thời Lê Thánh Tông
13 ĐẠO THỪA TUYÊN
(Đô ty, Hiến ty, Thừa ty)
Lộ, Phủ
Huyện
Hương, xã
 	3.3.2. Sử dụng sơ đồ để củng cố hoàn thiện kiến thức:     
Sau khi học xong một phần, một bài hay một chương giáo viên phải củng cố kiến thức cho học sinh để các em hiểu và nắm chắc kiến thức đã học một cách hệ thống, như vậy sơ đồ này sẽ giúp học sinh sẽ dần dần hoàn thiện kiến thức trong nội dung chương trình.
	- Ví dụ : Khi dạy bài 30: Tổng kết (Lịch sử 7)
+ Xác định cấu trúc sơ đồ.
 đầu t.kỉ X	 	thế kỉ XVI	 đầu t.kỉ XIX 	 giữa t.kỉ XIX
Đất nước 
chia cắt
Gđ đầu của Đại Việt phong kiến độc lập
Thống nhất dưới triều Nguyễn
 Nội dung chủ yếu?	 Nội dung chủ yếu? Nội dung chủ yếu? 
Giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu bài theo sơ đồ với các yêu cầu trên 
+ Sơ đồ chi tiết.
Trên cơ sở cấu trúc sơ đồ, giáo viên đặt ra yêu cầu nhằm tìm hiểu cụ thể những nội dung chủ yếu của các giai đoạn trên. Dưới đây là nội dung chủ yếu của các giai đoạn lịch sử mà giáo viên cần khai thác cho học sinh.
 đầu t.kỉ X	 	thế kỉ XVI	 đầu t.kỉ XIX 	 giữa t.kỉ XIX
Đất nước 
chia cắt
Gđ đầu của Đại Việt phong kiến độc lập
Thống nhất dưới triều Nguyễn
Thành lập và phát triển nhà nước phong kiến độc lập
- Triều đại; Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ.
- Kinh tế nông nghiệp, công thương nghiệp phát triển
- Phật giáo, Nho giáo phát triển
- Văn học, giáo dục, nghệ thuật
- Sự chia cắt; 
+ Nam Triều >< Bắc Triều
+ Đàng trong >< Đàng ngoài
- Kinh tế phục hồì, xuất hiện nhiều đô thị sầm uất
- Tư tưởng, tôn giáo; đạo Lão, Thiên chúa giáo
- Khởi nghĩa nông dân
- Tiếp tục xây dựng chính quyền quân chủ chuyên chế của họ Nguyễn.
- Chính sách cấm đạo, Bế quan toả cảng
- Khởi nghĩa nông dân
III. PHẦN KẾT LUẬN:
	1. Những kết luận cơ bản đề tài SKKN:
1.1. Về nội dung:
Sử dụng thành thạo và hiệu quả sơ đồ trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên. 
 	Học sinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Giáo viên sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một “sơ đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức.
Sơ đồ là một công cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế sơ đồ trên giấy, bìa, bảng phụ, bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy, 
Việc vận dụng sơ đồ trong dạy học Lịch sử ở trường TH -THCS Hưng Trạch sẽ dần dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Việc sử dụng sơ đồ trong dạy và học giải quết được phần nào bài toán dạy chay - học chay, đảm bảo tính vừa sức - chuẩn kiến thức kĩ năng, lồng ghép giáo dục môi trường, linh hoạt kết hợp với nhiều phương pháp khác nhau trong 1 tiết dạy như phương pháp nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
	1.2. Ý nghĩa:
- Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ hiểu sâu những kiến thức lịch sử. Chính vì thế để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử, người giáo viên phải luôn sử dụng tốt các phương dạy học lịch sử một cách nhuần nhuyễn, trong những phương pháp đó việc sử dụng sơ đồ cũng có tác dụng rất lớn . Sơ đồ chính là một đồ dùng trực quan rất sinh động thể hiện sự sáng tạo cao của người giáo viên.
 	- Sử dụng sơ đồ trong dạy học giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả 100% học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng ngày của học sinh và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh học sinh khi chứng kiến thành quả lao động của học sinh của mình. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ, hệ thống hóa kiến thức, khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
- Sử dụng sơ đồ trong dạy học Lịch sử bước đầu tạo một không khí sôi nổi, hào hứng của cả thầy và trò trong các hoạt động dạy học của nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đẩy mạnh triển khai.
1.3. Hiệu quả:
Sau một thời gian tôi áp dụng phương pháp sơ đồ hoá lồng ghép trong các tiết dạy ở Lịch sử lớp 7 đã hình thành được năng lực tự lập sơ đồ, có khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, trình độ lĩnh hội kiến thức ngày càng được nâng lên.
Hiệu quả của đề tài không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của cá nhân mà còn góp phần nâng cao chất lượng của nhóm bộ môn trong nhà trường, phục vụ cho từng tiết dạy- phát triển mạnh đều trong tổ đã nâng chất lượng giảng dạy giáo viên lên một cách rõ rệt.
1.4. Bài học kinh nghiệm:
Trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể kết hợp hài hoà giữa nhiều phương pháp, có thể sử dụng phương pháp sơ đồ hoá vào từng khâu, từng phần của tiết dạy nhằm tạo cho học sinh dể ghi nhớ, dễ dàng móc xích các kiến thức cũ và mới tạo thành một hệ thống kiến thức, đồng thời tạo cho học sinh sự hứng thú với môn học. 
Giáo viên lịch sử phải luôn tìm tòi sáng tạo và đổi mới trong phương pháp dạy học. Có kế hoạch cụ thể trong việc tìm kiếm và thiết kế các đồ dùng dạy học đẹp chính xác phù hợp với nội dung bài dạy.
 Giáo viên cần nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, thường xuyên nghiên cứu thêm tài liệu tham khảo để cung cấp thêm thông tin và kiến thức ở mỗi bài học. kết hợp các phương tiện dạy học khác nhau như đồ dùng trực quan, hình ảnh, tranh vẽ, hệ thống thao tác sư phạm khi lên lớp.. để góp phần phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong mỗi tiết học, nâng cao hiệu quả giờ dạy.
 	Giáo viên phải biết hướng dẫn tổ chức cho học sinh tự mình khám phá kiến thức mới, dạy cho học sinh không chỉ có kiến thức mà cả phương pháp học trong đó, cốt lõi là tự học. Chính trong các hoạt động tự lực được giao cho từng cá nhân hoặc nhóm nhỏ tiềm năng sang tạo của mỗi học sinh được bộc lộ và phát huy, Giáo viên phải biết luyện tập cho các em có thói quen nhìn nhận sự kiện dưới những góc độ khác, biết đặt ra nhiều giả thuyết khi lí giải một hiện tượng. 
 	Người giáo viên lịch sử cần bồi dưỡng năng khiếu vẽ bản đồ, lược đồ khoa học chính xác, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm thu hút sự chú của học sinh làm cho học sinh yêu thích môn học.
	2. Kiến nghị:
 	- Đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy Lịch sử ở các khối lớp cần quan tâm hơn đến việc xây dựng và sử dụng sơ đồ trong giảng dạy, xem đây là phương pháp không thể thiếu, phương pháp cần thiết, đặc thù của bộ môn, phương pháp được ứng dụng rộng rãi trong nhiều mục đích giảng dạy của giáo viên trong 1 tiết lên lớp.
 	- Nhà trường cần trang bị đầy đủ các phương tiện, thiết bị, đồ dùng để tạo điều kiện tốt hơn nữa cho giáo viên trong việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng phương pháp sơ đồ trong giảng dạy môn Lịch sử
 	Trên đây là một số kinh nghiệm mà trong thời gian qua tôi đã thực hiện, không tránh khỏi thiếu sót rất mong được sự đóng góp của các cấp lãnh đạo và sự đóng góp của đồng nghiệp, để cho công tác giảng dạy được hoàn thiện hơn.
	 Hưng Trạch, ngày 8 tháng 5 năm 2017
 	 Người viết 
	 Trần Dũng Tiến
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
.....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

File đính kèm:

  • docSKKN_lich_su_7.doc
Sáng Kiến Liên Quan