Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp giảng dạy văn bản nghị luận trung đại trong chương trình Ngữ văn 11

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngữ Văn là môn học gắn với cái đẹp. Học Ngữ Văn (nhất là phân môn Giảng văn) là học cách khám phá cái đẹp của thế giới tự nhiên, của cuộc sống và con người. Cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng bộ môn, cho nên mối quan tâm của giáo viên Ngữ Văn nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ, khơi gợi niềm say mê hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văn cho học sinh.

Trước đây, văn bản nghị luận ít được đưa vào chương trình phổ thông do nhiều người cho rằng đây là thể loại thường đề cập đến những tư tưởng trừu tượng, diễn đạt khô khan nên không gây được sự hứng thú, hấp dẫn đối với học sinh.

Hiện nay, văn nghị luận đã được đánh giá đúng với vai trò, ý nghĩa đích thực của nó. Văn nghị luận không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của đất nước, thời đại như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đất nước, mà còn rất gần gũi và có ý nghĩa trong đời sống công dân hiện nay.

Xét theo tiêu chí nội dung luận bàn, người ta phân văn nghị luận thành hai thể:

- Văn chính luận (luận bàn về các vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức.) như Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi, Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh, Về luân lý xã hội ở nước ta (trích “Đạo đức và luân lí Đông Tây”) – Phan Châu Trinh, Tiếng mẹ đẻ, nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức – Nguyễn An Ninh

- Văn phê bình văn học (luận bàn các vấn đề văn học nghệ thuật) như Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh, Mấy ý nghĩ về thơ – Nguyễn Đình Thi.

Xét theo tiêu chí hình thức thể loại, người ta chia ra: văn nghị luận thời trung đại (chiếu, cáo, hịch, bình sử, điều trần, .) và văn nghị luận hiện đại (tuyên ngôn, lời kêu gọi, phê bình, xã luận.)

Mặc dù khác nhau về thời điểm ra đời, về thể loại, về nội dung luận bàn nhưng các văn bản nghị luận đều có điểm chung là bộc lộ tính trí tuệ uyên bác, tình cảm sâu sắc của người viết.

 

doc18 trang | Chia sẻ: myhoa95 | Ngày: 27/10/2018 | Lượt xem: 268 | Lượt tải: 1Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp giảng dạy văn bản nghị luận trung đại trong chương trình Ngữ văn 11", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
” nên vua Quang Trung dùng “cầu” chứ không ra lệnh.
Trong đoạn mở đầu, Ngô Thì Nhậm đã xây dựng một tiền đề vững chắc, thuyết phục bằng thao tác so sánh với hai lập luận:
- Lập luận 1: người hiền “như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần”, suy ra “người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử”. Để tạo tiền đề vững chắc cho lập luận, tác giả lại mượn ý của Khổng Tử trong sách “Luận ngữ” để tạo sự thuyết phục: lấy đức mà cai trị đất nước, giống như sao Bắc Đẩu giữ đúng vị trí của mình, các ngôi sao khác sẽ chầu về. Như vậy tác giả vừa tôn vinh những bậc nho sĩ (như sao sáng) vừa khẳng định rằng triều đại mới là một triều đại dùng đức để cai trị đất nước.
- Lập luận 2: Sao che mất ánh sáng thì sẽ mất đi vẻ đẹp, người hiền mà không cống hiến tài năng đó cho nước, cho đời là trái mệnh trời.
Hai lập luận đều hướng đến khẳng định một điều: người hiền muốn được công nhận phải cống hiến tài năng cho đời. Ngô Thì Nhậm muốn nhắn gửi đến hiền tài sứ mệnh của chính họ. Từ hai lập luận này, có thể xuất hiện tình huống có vấn đề giả định:
Giả sử Ngô Thì Nhậm chưa từng làm quan triều Lê – Trịnh thì sức thuyết phục của lập luận này sẽ như thế nào ?
Với tình huống này, học sinh dựa vào tư liệu đã thu thập được về Ngô Thì Nhậm để lí giải: nếu Ngô Thì Nhậm chưa từng phụng sự cho triều Lê – Trịnh thì giới nho sĩ Bắc Hà sẽ cho rằng ông không hiểu được nghĩa tình mà triều cũ đối đãi với họ nên sẽ không thuyết phục được giới nho sĩ Bắc Hà. Sự thực thì Ngô Thì Nhậm đã từng làm quan triều cũ, được triều cũ rất trọng dụng. Nay ông nhận thấy triều đại mới đáng để phụng sự nên bỏ qua tư tưởng ‘trung thần bất sự nhị quân”. 
Hoặc giáo viên có thể nêu tình huống có vấn đề không phù hợp: 
Ngô Thì Nhậm lập luận “người hiền” có sứ mệnh phục vụ đất nước. Vậy trong xã hội hiện nay, sứ mệnh đó thuộc về ai?
Hiện nay không chỉ người học rộng tài cao mới có sứ mệnh của “người hiền” mà tất cả mọi người có năng lực đều cần phải biết rõ mình nên làm gì. 
Từ việc giải quyết tình huống trên học sinh nhận ra rằng một cá nhân rụt rè, nhút nhát hoặc ích kỉ, tự phụ thì khó mà khẳng định được vị thế của mình trong xã hội để từ đó học sinh rút ra bài học về cách sống ở đời: sống tự tin, bản lĩnh và cống hiến hết mọi khả năng của mình. Đó mới là ý nghĩa của cuộc sống mỗi người.
Trong phần 2 (đoạn 2,3,4) Ngô Thì Nhậm nêu lên lòng khát khao người hiền của Vua Quang Trung. 
Đoạn 2 như một điểm tựa bắt nguồn từ những sự việc của quá khứ gần “Trước đây thời thế suy vi”, giáo viên có thể tạo ra tình huống có vấn đề không phù hợp:
Ngô Thì Nhậm mở đầu bằng “Trước đây thời thế suy vi” tức đưa người đọc ngược dòng lịch sử, trở về với mạt thời Lê Trịnh. Vì sao tác giả lại gọi đó là thời suy vi trong khi bản thân đã từng phục vụ triều cũ?
 Ngô Thì Nhậm vừa thuyết phục trí thức Bắc Hà (theo ý định của Quang Trung) vừa nêu nhận xét của bản thân. Thời Lê – Trịnh, hiền tài không được trọng dụng. Vì thế cách hành xử tích cực nhất của họ là giữ gìn khí tiết trong sạch bằng cách trốn tránh, ẩn dật hoặc là dè dặt, giữ mình ở chốn quan trường. Thời thế không cho phép họ tự thể hiện mình. Từ đó học sinh thấy rằng trong cuộc sống, phải thể hiện năng lực của bản thân trong mọi hoàn cảnh.
Hay giáo viên có thể nêu tình huống có vấn đề xung đột, tương phản:
Tại sao trong đoạn 1 tác giả khẳng định sứ mệnh của người hiền tài còn ở đoạn 2, tác giả lại có vẻ ủng hộ cách ứng xử của họ trong mạt thời Lê Trịnh như vậy? Bài học em rút ra từ cách nhìn nhận của Ngô Thì Nhậm đối với hiền tài?
Ngô Thì Nhậm đã nhìn họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh sống (hoàn cảnh rộng - lịch sử xã hội). Chỉ những nhân tài kiệt xuất như Quang Trung Nguyễn Huệ mới có khả năng tạo ra thời thế, còn phần lớn con người đều ít nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh xã hội. Cách ứng xử của các bậc hiền tài trước đây có nghĩa là họ đã làm chủ được hoàn cảnh hẹp (hoàn cảnh trực tiếp) của bản thân mình. 
Bài học được rút ra là cách đánh giá con người, phải nhìn nhận họ trong mối quan hệ qua lại với hoàn cảnh sống để có thái độ đánh giá đúng mực.
hoặc có thể nêu câu hỏi gợi mở:
Tác giả dùng nhiều hình ảnh gợi cảm để chỉ tình trạng thất thế loạn lạc của kẻ sĩ (ở ẩn trong ngòi khe, kiêng dè không dám lên tiếng, gõ mõ canh cửa, ra biển vào sông, chết đuối trên cạn,) trong thời thế suy vi nhằm mục đích gì?
Mục đích của Ngô Thì Nhậm muốn nhấn mạnh lối sống uổng phí tài năng của hiền tài (biện pháp kích tướng).
Ở đoạn 3, tác giả thay lời vua để thổ lộ những tâm tư sâu kín, đó là nỗi niềm canh cánh chờ mong sự xuất hiện của hiền tài “nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi”, hàng loạt câu hỏi “Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng ? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”. Giọng văn bình dị như một lời tâm tình làm gần hơn khoảng cách giữa vua với các hiền tài.
Trong đoạn 4, Tác giả không hô hào, kêu gọi mà đặt ra một câu hỏi day dứt “Huống nay trên dải đất văn hiến rộng lớn này, há trong đó không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?” vì trọng trách quốc gia không chỉ một mình vua gánh vác được. Như vậy, tác giả đề cao vai trò của hiền tài trong việc trị nước; mặt khác lại đánh vào tâm lý, khơi gợi lòng tự trọng của họ. Lời văn nhẹ nhàng mà lí lẽ, lập luận thì sắc sảo, có sức thuyết phục cao vừa lay động chí, vừa chuyển tâm ý của người hiền tài. Hòa quyện trong mỗi lời văn là tình và lí: một bên là sự cần thiết của nước nhà, một bên là tấm lòng ưu ái của nhà vua dành cho các bậc hiền tài.
Đoạn 3,4 có chung một cấu trúc: kể, liệt kê thực trạng để tìm cách khơi gợi, kích động những người hiền tài. Từ đó kết đoạn là những câu hỏi tu từ xoáy sâu, nhấn mạnh, khích lệ họ hãy nhanh chóng ra giúp dân giúp nước. Giọng điệu linh hoạt, khi mạnh mẽ (gợi cái tầm thường trong cuộc sống ẩn dật), khi thì lắng lại, khiêm nhường, thành tâm; khi thì khích lệ, cổ vũ người hiền ra giúp chính quyền buổi đầu
Phần 3 (đoạn 5, 6) nêu lên chính sách cầu hiền cụ thể, công bằng, mở rộng cửa cho người hiền giúp vua, giúp nước.
Đối với người có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, lời nói nào dùng được thì cất nhắc, không kể thứ bậc, không dùng thì gác lại không bắt tội. Đối với người có nghề hay nghiệp giỏi, cho phép quan văn, quan võ tiến cử, tuỳ tài sử dụng. Đối với những người tài năng còn bị che kín thì dâng sớ tự tiến cử
Quan điểm về hiền tài của vua Quang Trung thật tiến bộ, hợp lòng dân, tạo con đường rộng mở cho người tài ra phò vua trị nước.
Lời kêu gọi ở đoạn 6 của tác giả sôi nổi, nhiệt thành nhấn mạnh lại cơ hội lập danh, lập thân của người hiền thực sự đã đến làm nức lòng hiền tài bốn bể. 
Như vậy, trong văn nghị luận, lí lẽ, hình ảnh, cảm xúc và giọng điệu thường hòa quyện chặt chẽ đem lại sự thuyết phục cả về lý trí và tình cảm đối với người đọc, người nghe. "Chiếu cầu hiền" đã kích thích niềm tự tôn, tự hào của các nhân tài, động viên họ đem đức tài ra giúp dân, giúp nước. Có thể nói vua Quang Trung đã không nhầm khi đánh giá cao năng lực và giao cho Ngô Thì Nhậm trọng trách chấp bút thay mình để cầu hiền trong thiên hạ.
Giáo viên có thể đặt câu hỏi thảo luận nhóm:
Bài học mà chúng ta rút ra được từ nghệ thuật ứng xử của vua Quang Trung và Ngô Thì Nhậm?
Bài học về cách ứng xử ở đời: lấy chí để thuyết phục chí, lấy tâm để thuyết phục tâm, lấy sự công bằng, dân chủ để thuyết phục nhân, đây cũng là nghệ thuật ứng xử của con người trong mọi thời đại.
Hoặc có thể tạo ra tình huống có vấn đề cần so sánh, đối chiếu:
Sau khi học “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” – Thân Nhân Trung (lớp 10) và “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm, em nhận xét về điểm giống và khác giữa hai văn bản ?
Để giải quyết tình huống này, học sinh nêu những nhận xét, đánh giá riêng. Từ đó học sinh nhận thức rằng dù ở bất cứ thời đại nào, nhân tố con người phải luôn được coi trọng, những nhân tài cần được tạo mọi cơ hội để có thể đem hết sức mình cống hiến cho đất nước.
2.2.2. Văn bản “Xin lập khoa luật”:
Giáo viên cần phân tích hệ thống luận điểm và cách lập luận của bài điều trần học sinh hiểu được tầm quan trọng của luật đối với sự nghiệp canh tân đất nước và thấy được lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Trường Tộ.
Giáo viên có thể nêu câu hỏi gợi dẫn để xác định luận điểm: 
Tại sao Nguyễn Trường Tộ lại đề xuất “Xin lập khoa luật” ?
 Luận điểm 1 "Bất luận quan hay dân, mọi người đều phải học luật nướcAi giỏi luật sẽ được làm quan" để nói về tầm quan trọng của “luật”.
Luận điểm 2 "Quan dùng luật để trị, dân theo luật mà giữ gìn. Bất cứ một hình phạt nào trong nước đều không vượt ra ngoài luật" chỉ ra tác dụng của luật.
Việc Nguyễn Trường Tộ đề xuất với triều đình "lập khoa luật" đã nói lên sự quan tâm của ông đến "kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia" để khẳng định khả năng bao quát của luật đối với xã hội, khẳng định vai trò của luật đối với việc trị dân của vua có nghĩa là luật bao trùm cả vấn đề đạo đức và trách nhiệm.
Tác giả cũng đề cập đến vấn đề dân chủ trong việc thi hành luật pháp, chỉ có nhà nước pháp quyền mới đảm bảo nền dân chủ công bằng xã hội. Muốn làm tốt điều này thì "phàm những ai đã nhập ngạch Bộ Hình xử đoán các vụ kiện tụng thì chỉ có thăng trật chứ không bao giờ bị biếm truất. Dù vua, triều đình cũng không giáng chức họ được một bậc. Như vậy là để giúp cho các vị này được thong dong trong việc chấp hành luật pháp không bị một bó buộc nào cả". Đây chính là thể hiện rõ quan điểm tam quyền phân lập. Giữa cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải đảm bảo tính độc lập khách quan “thế là để cho dân chúng thấy rõ đạo công bằng".
Và giáo viên có thể nêu tình huống có vấn đề so sánh, đối chiếu:
Theo em, quan điểm này của Nguyễn Trường Tộ có gì khác so với tư tưởng pháp trị phong kiến lúc bấy giờ? Trong xã hội ngày nay, nhà nước ta chủ trương thực hiện đường lối chính sách pháp luật như thế nào? 
Với tình huống này, học sinh dựa vào những hiểu biết về vấn đề hành pháp ở thời phong kiến để rút ra nhận xét. Sau đó liên hệ xã hội hiện tại để nhận thấy tư tưởng tiến bộ vượt thời đại của Nguyễn Trường Tộ.
Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh sự bình đẳng của luật pháp. Quan và dân, quân và thần đều bình đẳng trước pháp luật, đây là điểm tiến bộ rõ rệt so với tư tưởng pháp trị phong kiến vì ông chú ý đến quyền lợi của nhân dân trước pháp luật. Từ đó học sinh nhận thấy hiện nay nhà nước ta luôn nêu cao khẩu hiệu "sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật". Nhà nước và nhân dân ta đang ngày càng nêu cao vai trò trách nhiệm của ngành tư pháp là phải xử đúng luật, đúng người, đúng tội, tránh xử oan sai. 
Phần 2 (đoạn 2, 3) tác giả khẳng định vai trò của luật. Giáo viên có thể nêu câu hỏi gợi mở thảo luận nhóm:
Nguyễn Trường Tộ dùng đạo nghĩa của Nho gia “trung hiếu”, “lễ nghĩa” để làm điểm tựa cho lập luận nhưng ông phê phán các sách Nho chỉ nói suông trên giấy”, rồi lại kết bằng lời của Khổng Tử “Ta chưa hề thấy ai nhận được lỗi của mình mà biết tự trách phạt” và “Chép những lời nói suông chẳng bằng thân hành ra làm việc”. Phương pháp lập luận của ông nhằm mục đích gì?
Nho gia giáo dục con người bằng chuẩn mực đạo đức, bằng những tấm gương đạo đức của quá khứ nên nặng tính lí thuyết suông, không có đủ khả năng làm cho mọi người tự giác sửa mình. Đưa ra những nhược điểm của việc trị dân bằng lí thuyết nhà nho, tác giả không nhằm hướng đến mục đích phê phán sách Nho mà để khẳng định luật cần thiết đối với sự ổn định của xã hội. 
Cuối mỗi điều phê phán, Nguyễn Trường Tộ kết lại bằng lời của Khổng Tử khiến cho lí lẽ của ông càng thuyết phục người nghe, nhất là các nhà nho vốn rất bảo thủ. Đó là phương pháp “gậy ông đập lưng ông”. Cách lập luận của tác giả vừa sắc sảo vừa chặt chẽ, vừa ngắn gọn, vừa mang tính chiến đấu mạnh mẽ. “Nguyễn Trường Tộ () đem hình thức đối thoại vào bài văn, luôn luôn đặt giả thuyết, đặt câu hỏi để lật lại vấn đề, và tự mình phản bác cặn kẽ những câu hỏi mình nêu ra, làm cho vấn đề càng thêm sáng tỏ. Nhưng điều quan trọng hơn là ông đã nghị luận bằng tất cả nhiệt huyết và lòng tin vào chân lí () Chính phong cách chính luận – trữ tình này đã tạo nên một giọng điệu riêng, một khả năng cuốn hút đặc biệt đối với đối tượng mà ông cần thuyết phục” (Từ điển văn học, Nguyễn Huệ Chi).
Hoặc giáo viên có thể tạo ra tình huống có vấn đề dung hòa:
 Theo em, làm thế nào để vừa có thể vừa bảo vệ đạo làm người vừa dùng luật?
Cần xây dựng nhà nước pháp quyền, đề cao tư tưởng pháp trị, Trong xã hội vấn đề khen thưởng, xử phạt phải kịp thời, đúng mức thì mới có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của xã hội, sự tiến bộ của mọi người. 
Liên hệ với hiện tại, học sinh sẽ nhận thấy nhà nước ta đang thực hiện tất cả vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, các cơ quan lập pháp đang soạn thảo thêm các điều luật và chỉnh sửa luật cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước trong thời đại mới. 
Phần 3 (đoạn 4), Nguyễn Trường Tộ đã lí giải thấu đáo vai trò của luật, đồng thời giải quyết triệt để những nghi ngờ về khả năng của luật. Ông dùng lập luận để bác bỏ quan điểm “luật chỉ tốt cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh vi”. Ông khẳng định “trái luật là tội, giữ đúng luật là đức”, nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa pháp trị và đức trị "Nếu tận dụng cái lẽ công bằng ở trong luật mà xử sự thì mọi quyền, pháp đều là đạo đức”. Để khẳng định, tác giả đã dùng các câu nghi vấn tu từ “có đức nào lớn hơn chí công vô tư không ?”. Nguyễn Trường Tộ đề cao việc con người sống đúng luật pháp, làm theo luật pháp là đức trời. Ông viết “Chí công vô tư là đức trời. Trong luật cái gì cũng công bằng hợp với đức trời, như vậy mà không đáng gọi là đạo đức tinh vi sao?”.
Đoạn trích “Xin lập khoa luật” là một văn bản nghị luận chặt chẽ, thấu tình đạt lí. “Văn chương của Nguyễn Trường Tộ là lối văn chính luận, vừa phải bảo đảm sự chặt chẽ, sắc bén, khúc chiết trong phân tích, trong dẫn chứng nhưng cũng vừa thấm đậm cảm hứng trữ tình của tác giả, nên có sức thuyết phục rất mạnh. Những lá thư điều trần của ông rất dài, bàn về rất nhiều vấn đề cùng một lúc, nhưng văn phong mạch lạc, đâu ra đấy, từng vấn đề được bàn hết lẽ và dứt điểm, lại đều có chứng minh thực tiễn” (Từ điển văn học, Nguyễn Huệ Chi). 
Để kết thúc bài học, giáo viên có thể nêu câu hỏi gợi mở để học sinh thảo luận nhóm:
“Văn bản “Xin lập khoa luật” có giá trị như thế nào trong xã hội ta ngày nay?”.
Đến nay bản điều trần vẫn còn nguyên giá trị, đó là những sách lược trị nước đúng đắn để cho các cấp chính quyền nghiên cứu vận dụng, để cho nhân dân điều chỉnh hành vi bản thân, sống theo hiến pháp và pháp luật. Được như vậy thì trật tự xã hội sẽ đi vào kỉ cương, chính lệnh của quốc gia sẽ được thực hiện nghiêm minh và đất nước sẽ phát triển, cuộc sống của nhân dân sẽ yên bình hạnh phúc.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 
 - Học sinh hứng thú tiếp nhận văn bản, có ý thức tự giác sưu tầm tài liệu, đọc sách và chủ động đưa ý kiến của mình ra đối thoại trước lớp. Tính thời sự của vấn đề được học sinh tự đánh thức, tránh được lối dạy áp đặt một chiều từ phía giáo viên.
- Học sinh được tìm hiểu, củng cố thêm về kiến thức lịch sử, có kĩ năng đọc - hiểu các văn bản nghị luận theo thể loại đồng thời rèn luyện thêm về kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận.
- Học văn nghị luận giúp học sinh hình thành những quan điểm đúng đắn về chính trị, xã hội; hình thành năng lực tư duy và thành công trong giao tiếp. Hơn nữa, học sinh có năng lực phân tích, tổng hợp khám phá vấn đề có sức thuyết phục trên cơ sở lí lẽ chặt chẽ, căn cứ xác thực. 
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
* Đối với giáo viên:
- Vai trò người giáo viên cực kì quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp thích hợp để giảng dạy. Tùy vào nội dung luận bàn và hình thức thể hiện của văn bản, đặc điểm tiếp nhận của học sinh, thời gian tiếp nhận mà giáo viên vận dụng cách phân tích văn bản kết hợp với phương pháp dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm.
- Đối với những tình huống có vấn đề, học sinh dựa trên kiến thức bài học và kiến thức của bản thân để tìm những giải pháp. Giáo viên không nên có kết luận cứng nhắc với tình huống. Kết luận nên ở dạng là một gợi ý có thể bao quát được những hướng giải quyết mà học sinh đưa ra. Từ đó, học sinh có thể tranh luận với nhau về những khả năng cũng như tính khả thi của những phương án có thể lựa chọn. 
- Giáo viên cần gợi ý cho học sinh về những tư liệu cần hoặc những địa chỉ website để các em có nguồn tư liệu chuẩn xác.
- Giáo viên tích lũy vốn tri thức về tác phẩm, về lịch sử, các vấn đề thời sự, xã hội có liên quan để giúp các em nhận diện được vấn đề nghị luận cũng như hệ thống lập luận của văn bản. 
* Đối với học sinh:
-  Có nhu cầu bộc lộ suy nghĩ cá nhân trước tập thể. Nên chủ động tham gia thảo luận nhóm ngoài giờ học để có những hiểu biết về tác giả, bối cảnh văn học, hoàn cảnh lịch sử - thời đại ra đời tác phẩm.
- Cần đọc – hiểu văn bản trước khi tiến hành tìm hiểu ở lớp nhằm khám phá văn bản bằng cả lí trí, tâm hồn. 
V. KẾT LUẬN
Sự hấp dẫn của một tác phẩm nghị luận là do nhiều yếu tố tạo nên trong đó luận điểm và cách lập luận là yếu tố quan trọng. Dạy văn nghị luận giáo viên cần bám sát văn bản, nắm vững đặc trưng cơ bản của từng thể loại. Trong thực tế, việc giảng dạy cần có sự kết hợp nhiều phương pháp, phụ thuộc vào từng tình huống giảng dạy cụ thể nhằm giúp học sinh nắm vững bài học, phát triển tư duy; đồng thời vừa bồi dưỡng những tư tưởng, tình cảm cao quý cho học sinh. Nếu có sự đầu tư đúng mực, bài giảng sẽ đạt được hiệu quả.
Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài, người viết chỉ nêu một vài kinh nghiệm mà bản thân tích lũy trong quá trình giảng dạy. Rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy, Cô. 
Chân thành cảm ơn! 
 NGƯỜI THỰC HIỆN
Ngô Xuân Sơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách giáo khoa Ngữ văn 11(tập 1) - Nhiều tác giả - NXB Giáo dục, 2009.
Sách giáo viên Ngữ văn 11 (tập 1) - Nhiều tác giả - NXB Giáo dục, 2009.
Kĩ năng đọc – hiểu văn bản Ngữ Văn 11 – Nguyễn Kim Phong (Chủ biên), NXB 2007.
Từ điển thuật ngữ Văn học - Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) – NXB Đại học Quốc gia, 1999. 
Vẻ đẹp của văn nghị luận - Đỗ Ngọc Thống - Văn học và Tuổi trẻ số 4, 2005.
Những lưu ý khi đọc văn nghị luận – Phan Thị Thanh Vân.
 Phương pháp dạy tích hợp chùm văn bản nghị luận thời trung đại ở chương trình Ngữ văn lớp 11 – Phan Quốc Thanh.
Một vài suy nghĩ về việc dạy văn nghị luận – Bùi Thị Vui.
Các nguồn tư liệu về Nguyễn Huệ, Nguyễn Trường Tộ trên các báo điện tử.
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Đơn vị: THPT Nguyễn HữuCảnh
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Biên Hòa, ngày 30 tháng 10 năm 2011
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011- 2012
–––––––––––––––––
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11
Họ và tên: NGÔ XUÂN SƠN	Chức vụ: giáo viên.
Đơn vị: THPT Nguyễn Hữu Cảnh.
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục	1	- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ Văn 1
- Phương pháp giáo dục 1	- Lĩnh vực khác: 1
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị 1 Trong Ngành 1
Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
Có giải pháp hoàn toàn mới 	1
Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 	1
Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 1
Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 1
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 1
Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả 1
Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách: 	 	Tốt 1	 Khá 1	Đạt 1
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc sống: 	Tốt 1	 Khá 1	Đạt 1
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng: 	 Tốt 1	 Khá 1	Đạt 1
 XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN 
 TỔ TRƯỞNG HIỆU TRƯỞNG	
 Nguyễn Thị Mai Lan Phan Quang Vinh 

File đính kèm:

  • docphuong_phap_giang_day_van_ban_nghi_luan_trung_dai_trong_chuong_trinh_ngu_van_11_1533.doc