Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp giảng dạy môn Tiếng Anh lớp 8 có hiệu quả

Ngày nay Tiếng Anh thật sự là môn học ngày càng cần thiết cho các em học sinh . Đối với học sinh ở các trường trọng điểm , hay các em học sinh có cha mẹ đặc biệt quan tâm đến việc học của con em mình, các em này đa số đều cảm thấy khá tự tin và tiếp thu kiến thức mới dễ dàng nhanh chóng và có hiệu quả . Còn đối với các em học sinh vì lý do này hay nhiều lý do khác, bị hụt hẩng kiến thức thì đây quả là một môn học khó . Do đó, muốn có những phương pháp dạy để phát huy tính tích cực, chủ động trong quá trình học của học sinh mà vẫn sử dụng được nguồn sách là chính, kết hợp với các hoạt động giúp các em tự làm việc, như quan sát đưa ra ý kiến thảo luận của mình, hay yêu cầu các em phải hoàn thiện đầy đủ bốn kỹ năng Nghe , Nói , Đọc ,Viết trên lớp trong mỗi tiết học , bài học . thật ra đó không phải là điều dễ dàng

 Ngoài ra , đặc biệt đối với các em học sinh lớp 8 với tâm lý chưa phải là người thật sự trưởng thành, cũng không phải là trẻ em như các các em khối lớp 6 , 7, nên trong quá trình giảng dạy, chúng ta phải cẩn thận khi phê bình vì các em dể dàng dẫn đến tâm lý chán nản . Hơn thế nữa, trong chương trình Tiếng Anh lớp 8, với nội dung khá nặng về vốn từ vựng , ngữ pháp và có các tiết học rèn luyện từng kỹ năng khác nhau khá mới lạ so với các năm học trước . Điều này đòi hỏi người giáo viên phải thật sự kiên nhẫn và nhiệt tình trong quá trình giảng dạy . Khi giảng dạy môn Tiếng Anh lớp 8, giáo viên không chỉ có nhiệm vụ cho các em làm quen với nội dung chương trình mới, mà còn phải truyền đạt cho các em đầy đủ nội dung, kiến thức văn phạm, cách sử dụng cấu trúc câu thật nhuần nhuyễn, bởi vì hai phần ba văn phạm trong chương trình bậc THCS đều có trong năm học này.Để giúp các em học sinh có hiệu quả tốt trong môn học Tiếng Anh, qua ý kiến của Ban Giám hiệu nhà trường, các đồng nghiệp, tôi cũng đã ít nhiều rút ra được một vài phương pháp tạo cho các em cảm thấy thích thú hơn trong giờ học .

 

doc29 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 05/08/2015 | Lượt xem: 3381 | Lượt tải: 96Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp giảng dạy môn Tiếng Anh lớp 8 có hiệu quả", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hung để cung cấp cho các em thêm một số từ mới mà các em chưa học
 Sau khi các em đã nói được các tên đồ vật bằng Tiếng Anh, tôi cho các em luyện tập theo cặp để tranh luận nhau về việc sắp xếp lại các đồ vật trong hình cho có thứ tự
 Học sinh A: Let’s put the armchair opposite the couch
 Học sinh B : Yes and I think we should put the rug between the armchair and the couch 
 Học sinh C: We ought to put the telephone next to the couch
 Học sinh D : No , I think we put the telephone on the shelf .
 Kế tiếp, tôi chia lớp thành 4 nhóm , các em tự thảo luận với nhau để thống nhất nơi để các đồ vật vào đúng vị trí thành đoạn văn ; mỗi nhóm tự cử ra một em để trình bày đoạn văn đó. Cuối cùng, giáo viên đưa ra lời nhận xét , góp ý về văn phạm , cách đọc phát âm ( nếu có ) . Khi dùng phương pháp này tôi không chỉ luyện cho các em kỹ năng nói khi miêu tả mà còn luyện kỹ năng nghe khi nghe nhóm khác miêu tả ; luyện thêm được kỹ năng viết khi viết thành đoạn văn .
 b/ Ví dụ 2 : Speak ( page 132 ) 
+ Rèn luyện kỹ năng nói –tìm kiếm thông tin qua tranh và hệ thống câu hỏi 
 Trước hết tôi cho các em luyện tập theo cặp, nhìn hình và đoán xem đây là những nơi nào bằng những câu nói đơn giản, giáo viên chỉ là người sau cùng đưa ra nhận xét và sửa chữa sau cùng.
 Học sinh A : Look at picture 1. What place is it ?
 Học sinh B: It is Empire State Building USA
 Học sinh C : In picture 4 , I think it is Mount Everest 
 Teacher : Yes, you are right .
 1 2 3 4
 5 6 7 8
 9 10 11 12
Khi nhận thấy các em đã nhận biết đúng các địa danh có trong hình, tôi cho các em chia thành từng nhóm nhỏ và thực hiện bài tập nối các tên địa danh và thông tin từng địa danh đó cho chính xác .
 A B
1/ Empire State Building USA
a/ It’s the great Clock in London
2/ PETRONAS Twin Towers
b/ It was recognized as a World Herritage in 2003.It’s in the center of Viet Nam
3/ Great Barrier Reef
c/ It was constructed in Paris in 1889
4/ Mount Everest
d/ It was built more than 2000 years ago with the length of 4500 miles in China.
5/ Great Wall of China
e/ It’s one of the World Heritages of Viet Nam. It consists of nearly 2000 islands with magnificent caves 
6/ Lac Canh Dai Nam
f/ It is a special tomb for the Vietnamese president
7/ Hue Citadel
g/ It’s currently the highest building in the world, located in Malaysia 
8/ Ho Chi Minh ‘s Mausoleum
h/ It’s the world’s first coral reefs occurred about 500 million years ago in Southern Europe.
9/ Big Ben
i/ The city of this place is famous for Huong River and Bai Tho Mountain.
10/ Ha Long Bay
j/ It is one of the most famous places in Binh Duong for tourists 
11/ Phong Nha Cave
k/ It’s the skyscraper in New York. It was constructed in 1930 with 102 stories.
12/ Eiffel Tower 
l/ It’s the highest mountain in the world located in Nepal. The mountain is 8848 meters high and was named after the man who first reached the peak of the mountain.
+ Đáp án : 1+ k / 2+ g / 3+ h / 4+ l / 5+ d / 6+ j / 
 7+ i / 8 + f / 9+ a / 10+ e / 11+ b / 12+ c / 
 Sau khi các em đã nối thành công bảng trên tôi cho các em làm việc theo cặp: một em hỏi dùng câu hỏi thể nghi vấn và em khác trả lời Yes hay No
 Học sinh A: Is Phong Nha Cave in Southern Viet Nam?
 Học sinh B :No, it isn’t
 Học sinh C: Is Eiffel Tower in Paris ?
 Học sinh D: Yes, it is 
 Học sinh E: Can you see Big Ben in London?
 Học sinh F: Yes,I can..
 Để xem các em có nắm vững các địa danh trên hay không tôi hỏi các em trong lớp các địa danh bằng nhiều loại câu hỏi khác nhau 
 Teacher : Where Eiffel Tower was built?
 Học sinh B: It was built in Paris 
 Teacher : Where can you see Big Ben?
 Học sinh D: I can see it in London ..
 Sau đó, để thay đổi tôi cho các em cách biến đổi câu trực tiếp sang gián tiếp dưới dạng câu Yes / No : hai em đầu tiên nhìn vào hình các địa danh hỏi nhau , các học sinh khác chú ý nghe và kể lại dưới dạng câu nói gián tiếp ; hai em kế tiếp hỏi nhau sau đó một trong hai em kể lại cho cả lớp nghe bằng câu nói gián tiếp 
 Học sinh A: Is Ha Long Bay in Binh Duong ?
 Học sinh B: No, it isn’t 
 Học sinh C : ( nghe và kể lại) A asked B if Ha Long Bay was in Binh Duong
 Học sinh D: Is Mount Everest in Nepal ?
 Học sinh E: Yes, it is
 Học sinh D: I asked E if Mount Everest was in Nepal 
 Tương tự, cũng là dạng câu trực tiếp sang gián tiếp, nhưng lần này tôi cho các em dùng dạng câu tường thuật ở thể khẳng định
 Học sinh A: Great Barrier Reef is in Southern Europe
 Học sinh B: A said that Great Barrier Reef was in Southern Europe 
 Cuối cùng, tôi cho mỗi nhóm thay phiên nhau kể tên từng địa danh và đặc điểm của nó ( chỉ cho các em nhìn hình trên bảng )
 Nhóm 1: Picture 1 is Empire State Building USA , it is in New York
 Nhóm 2: Picture 2 is PETRONAS Twin Towers, it is in Malaysia .
 * Kết quả : 
 Khi dùng nhiều phương pháp khác nhau trong các tiết học Nói, tôi nhận thấy các em cảm thấy thích thú và cố gắng phát biểu. Đôi khi nếu gặp các cấu trúc khó mà có thể tránh làm cho các em cảm thấy nản, tôi đã áp dụng phương pháp hỏi –đáp bằng những câu hỏi đơn giản có áp dụng mẫu câu khó từ dạng Yes/No question đến dạng WH question cho đến khi các em có thể nói dễ dàng . Tuy nhiên, trong các tiết học Nói , điều khó nhất cho người dạy là làm sao cho các em học yếu, kém có thể nói Tiếng Anh .Để khắc phục trường hợp này , đối với những học sinh Yếu,Kém trong các tiết học nói, bước đầu tiên chủ yếu tôi cho các em nói những từ riêng lẻ để miêu tả tranh trong bài để giúp các em có thể cảm thấy tự tin, sau đó là trả lời những câu hỏi từ đơn giản đến phứp tạp; từng bước sang các tiết học sau dần dần các em sẽ cảm thấy có hứng thú với các tiết học này. Dĩ nhiên để làm được điều này đòi hỏi người dạy phải có lòng kiên nhẫn và thực sự có tâm trong công tác. 
 3/ Read : 
 Để có thể sử dụng Tiếng Anh tốt , giáo viên phải yêu cầu học sinh phải có kỹ năng đọc . Khi học sinh có thể nắm kỹ năng đọc các em sẽ cảm thấy việc học và nhớ các từ vựng từ các đoạn văn , bài đối thoại trở nên nhẹ nhàng hơn.
 a/ Ví dụ 1 : Read ( page 75 )
 Giáo viên treo hai hình ; một hình nói về miền quê và một hình nói về thành phố , học sinh trả lời câu hỏi do giáo viên đưa ra
 Giáo viên: Do you live in the city or in the country?
 Học sinh A: I live in the country
 Giáo viên: Do you like to live in the country or in the city?
 Học sinh B: I like to live in the country 
 Giáo viên: Why?
 Học sinh B: Because the country has fresh air ..
 Sau khi học sinh đưa ra ý kiến của mình, giáo viên có thể vào phần giới thiệu nội dung bài đọc: 
 “ Now a lot of people in the country want to move to the city because they think there are a lot of good jobs and they can easily have enough money for their family. What will happen to the city ? Please read this passage”
 Giáo viên đọc đoạn văn cho học sinh nghe; cung cấp từ mới; yêu cầu các em đọc dồng thanh đoạn văn; đọc cá nhân; làm một số bài tập điền từ; chọn đúng –sai; tìm từ đồng nghĩa theo nội dung trong sách; trả lời một vài câu hỏi theo nội dung trong bài (từ luyện tập theo cặp đến luyện tập theo nhóm) Giáo viên có thể tự sắp xếp bài tập nào trước, bài tập nào sau; bài tập đó cho học sinh luyện tập theo cặp hay theo nhóm; tùy cách sắp xếp của người giáo viên để không chỉ giúp cho các em học sinh vừa nắm được nội dung trong bài, mà còn không cảm thấy nhàm chán, vừa tạo điều kiện cho tất cả các em học sinh trong lớp từ trình độ khá giỏi đến các em có trình độ yếu có thể hiểu được nội dung bài học.
 b/ Ví dụ 2 : Read ( page 102 )
 Trước hết tôi cho các em chia thành 4 nhóm: bắt thăm xem nhóm nào trước, nhóm nào sau để thi đua kể những địa danh có trong nước Việt Nam (nhóm sau không được trùng lắp nhóm trước), nhóm nào kể tên được nhiều địa danh nhất thì nhóm đó thắng.
 Sau khi chơi trò kể tên các địa danh có trong nước, tôi đưa hình và yêu cầu các em học sinh đoán xem những nơi này là những nơi nào bằng những câu trả lời đơn giản. 
 1 2 3 4
Giáo viên: What place is in Picture one ?
Học sinh A: It is in Nha Trang
Giáo viên: Is Picture two in Nha Trang, too?
Học sinh B: No, it is in Da Lat
Giáo viên: Can you guess what place Picture three is in?
Học sinh C: Yes, It is in Sa Pa
Giáo viên: Is Picture four in Sa Pa or Ha Long Bay?
Học sinh D: It is in Ha Long Bay .
Giáo viên: Today in the reading, you will study about four places: Nha Trang, Da Lat, Sa Pa, and Ha Long Bay. They are also the most beautiful places in our country.
 Sau khi giúp cho các em học sinh biết nội dung chính của bài đọc, tôi cho các em nghe bài đọc hai lần ( lần 1 nghe băng, lần 2 nghe giáo viên đọc) , kế tiếp tôi cung cấp cho các em các từ mới có trong bài ở từng địa danh ( giáo viên khi giảng từ mới có thể dùng tranh, vật thật hay dùng phương pháp đồng nghĩa , trái nghĩa tùy theo đặc điểm của mỗi từ nhằm giúp không chỉ cho tiết dạy sinh động mà còn làm cho các em học sinh có thể cảm thấy thích thú và hiểu được nội dung bài học sâu sắc hơn).
 Vì đây là bài đọc có nội dung về các nơi du lịch quen thuộc nên sau khi các em đã thực hành nắm được nội dung có trong sách, tôi cho các em đóng sách lại và chia thành bốn nhóm, mỗi nhóm bắt thăm chọn cho mình một trong bốn nơi du lịch để hỏi nhau bằng những câu hỏi thông thường theo nội dung trong bài . 
 Ví dụ: nhóm 1 bắt thăm Sa Pa; nhóm 2 bắt thăm Nha Trang; nhóm 3 bắt thăm Vịnh Hạ Long; nhóm 4 bắt thăm Đà Lạt. 
 Nhóm 2 hỏi nhóm 1: Học sinh A: Is Sa Pa mountainous?
 Học sinh B: Yes, it is
 Học sinh C: Are there any caves in Sa Pa?
 Học sinh D: No, there aren’t
 Nhóm 1 hỏi nhóm 2: Học sinh E: Can you swim in Nha Trang?
 Học sinh F: Yes, I can
 Học sinh G: How can you go to Nha Trang?
 Học sinh H: I can go to Nha Trang by plane, by bus or 
 by train 
Nhóm 3 hỏi nhóm 4: Học sinh A: Can you see waterfalls in Da Lat?
 Học sinh B: Yes, I can
 Học sinh C: What do you like best in Da Lat? Why?
 Học sinh D: I like flowers best because they are very 
 beautiful 
Nhóm 4 hỏi nhóm 3: Học sinh E: Is Ha Long Bay a World Heritage Site 
 recognized by UNESCO ?
 Học sinh F : Yes, it is
 Học sinh G: What can you see in Ha Long Bay?
 Học sinh H: I can see caves, limestone islands and 
 quiet sand beaches.
 c/ Ví dụ 3 : Read ( page 124 ) 
 Trước hết tôi cho các em học sinh một số câu và yêu cầu các em đoán xem tôi đang đề cập đến ngày lễ nào
 Giáo viên: 1st clue: This is the biggest festival in western countries
 2nd clue: People often decorate a tree 
 3rd clue: A lot of people go to the church on this day
 4th clue: It is on December 25
 Sau khi học sinh đã đoán được tôi đang đề cập đến Lễ Giáng Sinh, tôi cho các em nhìn hình và cung cấp từ mới 
 New words: 
 - Christmas tree , christmas card, christmas carol, Santa Claus, Patron saint .
 Cũng như những bài đọc trước, sau khi cung cấp từ vựng tôi cũng cho các em đọc bài dồng thanh, đọc cá nhân, làm việc theo cặp, làm việc theo nhóm các bài tập có trong sách . Khi làm bài tập hoàn thành bảng ( SGK/ page 126) để tránh nhàm chán và có thể có nhiều học sinh tham gia bài học, tôi yêu cầu các em đoán bằng cách trả lời một số câu hỏi
 - Giáo viên: What did people decorate ? 
 Học sinh A: People decorated Christmas tree
 Giáo viên: When did people decorate Christmas tree?
 Học sinh B: They decorated it in the early 1500 ..
 Sau khi các em học sinh đã trả lời nhuần nhuyễn những câu hỏi theo nội dung trong bài tập 1, tôi yêu cầu các em điền vào bảng và thi đua xem em nào điền đúng và có kết quả sớm nhất 
 Khi cho các em trả lời các câu hỏi trong sách, thông thường tôi cho các em làm việc theo cặp; một hỏi, một trả lời ( em đưa ra câu trả lời thì lên bảng viết) . Khi cho các em thực hành theo phương pháp này không chỉ những em học sinh khá giỏi tham gia trả lời các câu hỏi mà còn giúp cho các em có trình độ yếu có thể tham gia bài học bằng cách đọc câu hỏi có trong sách, sau đó từng bước các em sẽ cảm thấy tự tin và tự mình có thể tham gia trả lời câu hỏi 
 * Kết quả :
 Đọc hiểu so với hai kỹ năng Nói và Nghe thì đơn giản hơn, tuy nhiên khi áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy mà tôi đã kể trên, tôi nhận thấy các em từng bước có tiến bộ rõ rệt và cảm thấy hứng thú với tiết học này. Vì trong chương trình lớp 8 từ vựng trong các bài đọc hiểu tương đối nhiều, khi giảng từ mới tôi cố gắng tìm ra nhiều phương pháp ( giảng theo nghĩa, giảng từ dựa vào hình, đoán từ qua câu hỏi..) để các em cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Khi muốn cho các em nắm vững nội dung bài đọc, tôi đã cho các em nhiều loại dạng bài tập không chỉ giúp cho các tiết học sinh động mà còn giúp cho các em có thể phát triển thêm ba kỹ năng còn lại bên cạnh kỹ năng đọc hiểu .
 4/ Write : 
 Bên cạnh những kỹ năng mà tôi đã kể ở trên , Viết cũng là kỹ năng quan trọng giúp các em học tốt Tiếng Anh . Khi Viết , các em có thể luyện Ngoại ngữ cũng có hiệu quả như khi đọc, bởi bằng hoạt động Viết, các em sẽ càng hiểu được ngôn ngữ hơn . Qua các tiết học Viết trong chương trình Tiếng Anh lóp 8 , 9, các em học sinh có thể luyện tập phương pháp này bằng Tiếng Anh từ những câu đơn giản , sau đó có thể viết câu dài và phức tạp hơn để trình độ của các em học sinh được khá hơn.
 a/ Ví dụ 1 : Write ( page 15 )
 Đầu tiên, tôi cho các em chia thành hai nhóm để chơi trò chơi hỏi –đáp khoảng 5 câu dưới dạng Yes-No để đoán xem nhóm bạn đang miêu tả người nào. Nhóm nào đoán chính xác thì nhóm đó thắng cuộc .
 + Nhóm 1: Is that person a girl ?
 Nhóm 2: Yes, she is
 Nhóm 1: Is she tall?
 Nhóm 2: No, she isn’t
 Nhóm 1: Does she have short hair?
 Nhóm 2: Yes, she does
 Nhóm 1: Is she fat ?
 Nhóm 2: Yes, she is
 Nhóm 1: Is her name Lan ?
 Nhóm 2: Yes, you are right .
 Sau khi các em tham gia trò chơi miêu tả để đoán người, tôi cho các em nhìn vào bảng thông tin về Tâm
Name: Le Van Tam Age: 14
Appearance: tall, thin, short black hair
Character: sociable, humorous, helpful
Address: 26 Tran Phu Street, Ha Noi
Family: mother, father, elder brother – Hung
Friends: Ba, Bao 
 Bước kế tiếp, tôi yêu cầu các em đọc kỹ bảng thông tin. Để kiểm tra xem các em có hiểu được nội dung của bảng hay không, tôi đã hỏi các em một số câu hỏi và yêu cầu các em viết câu trả lời trên bảng. Khi thực hiện bước này tôi không chỉ cho các em luyện kỹ năng Viết khi trả lời câu hỏi mà còn luyện thêm cho các em kỹ năng Nghe và Nói
 Giáo viên: What is his name?
 Học sinh A: His name is Le Van Tam
 Giáo viên: How old is he?
 Học sinh: He is fourteen years old
 Giáo viên: Where does he live?
 Học sinh : He lives at 26 Tran Phu Street in Ha Noi .
 Sau khi các em đã trả lời đầy đủ các thông tin về Tâm. Tôi yêu cầu các em học sinh nhìn vào các câu trả lời trên bảng ,viết chúng vào tập thành một đoạn văn. Sau đó tôi cho các em nhìn trong sách nội dung của đoạn văn và so sánh với nội dung em đã viết; yêu cầu các em chỉnh sửa những phần còn thiếu sót Khi thực hiện bước này tôi không chỉ giúp các em tự hình thành một đoạn văn dựa trên những câu riêng lẻ mà còn làm cho các em nắm vững nội dung bài hơn.
 Trước khi sang phần 2 tôi cho các em luyện tập theo cặp; một hỏi, một trả lời với nội dung về bạn của mình, viết chúng thành một đoạn văn, sau đó tôi cho các em trao đổi và tự chỉnh sửa cho nhau. Cuối cùng tôi cho một số học sinh đọc to bài của mình trước lớp để các em dưới lớp cùng sửa, ai có thể sửa chữa bài của bạn đúng và nhanh nhất là người thắng cuộc. Khi thực hiện bước này tôi đã cho các em luyện đầy đủ bốn kỹ năng: Nghe, Nói, Đọc và Viết . Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể cho các em học sinh miêu tả về Cha, Mẹ, Ông, Bà hay người thân của mình và viết chúng vào vở bài tập. 
 b/ Ví dụ 2 : Write ( page 32 )
 Trước hết, tôi cho các em học sinh nhìn vào tranh, luyện tập theo cặp; một hỏi, một trả lời về đồ vật trong hình để giúp các em ôn lại phần từ vựng đã học ( giáo viên chỉ là người cung cấp những từ mà các em chưa học . 
 Học sinh A: ( lên bảng chỉ hình và hỏi) What is this?
 Học sinh B: It’s a clock
 Học sinh B: Is this a living room?
 Học sinh A: No, it is a bedroom .
 Sau khi các em học sinh miêu tả hầu hết các vật trong hình, tôi yêu cầu các em nhìn vào tranh và cung cấp các vật mà các em chưa đề cập đến
 Giáo viên: Look at this, this is a wardrobe and these are folders ....
 Vì đây là bài văn miêu tả, trước hết tôi lưu ý các em các giới từ các em có thể sử dụng bên cạnh các giới từ quen thuộc thông thường mà các em đã học. Khi giảng các giới từ chỉ vị trí có trong bài như: on the left of, above, near, on the right side of, beside, oppositegiáo viên có thể dùng tranh, vật thật .để miêu tả. 
 Giáo viên: ( chỉ trên bảng và miêu tả) Look at this, this picture is above the blackboard; Now look at me, I am standing opposite Lan.
 Sau đó, để kiểm tra các em có nắm được các giới từ này ở nghĩa Tiếng Việt không, tôi yêu cầu các em ( có thể nhìn vào tranh, thực tế trong lớp .) dùng lại những giới đó lần nữa để miêu tả. Nhằm thay đổi không khí, giáo viên cũng có thể cho các em hỏi nhau bằng dạng câu hỏi Yes/ No hay WH Questions 
 Khi nhận thấy các em đã nắm được các vật có trong tranh và những cụm từ chỉ vị trí, tôi cho các em nhìn lại tranh; luyện tập theo nhóm ; nhóm này luân phiên hỏi và nhóm khác trả lời tuần tự các vật có trong tranh. 
 + Nhóm 1: Where is the desk?
 Nhóm 2: It is on the left of the room
 Nhóm 2: Where are the folders?
 Nhóm 1: They are on the desk
 Sau khi các em đã miêu tả đầy đủ, tôi cho các em đọc đoạn văn miêu tả phòng của Hoa và yêu cầu các em gạch dưới những giới từ chỉ vị trí; những vật có trong tranh; ngoài ra giáo viên cũng có thể yêu cầu các em dùng một số giới từ chỉ vị trí mà các em đã học để miêu tả lớp học của mình và viết chúng thành đoạn văn.Khi dùng phương pháp này, tôi đã phần nào giúp các em có thể viết được một đoạn văn khác dưới dạng văn miêu tả.
 2/ Now write a description of this kitchen ( page 33 unit 3)
 Đây cũng là dạng bài dựa vào tranh miêu tả nhưng khác với tiết học trước là các em phải dựa vào những từ gợi ý để hoàn thành một đoạn văn .Do đó trước hết tôi cho các em đọc to những câu gợi ý có trong bài và cung cấp cho các em những cụm từ mới , khi cung cấp từ mới để tạo cho các em chú ý hơn tôi yêu cầu các em nhìn vào tranh 
 Giáo viên: ( vừa chỉ vào hình vừa miêu tả): this is a dish rack, towel rack, lighting fixture .. . 
 Cũng như tiết học trước để kiểm tra các em có nắm vững các vật có trong hình bằng Tiếng Anh không tôi cho các em luyện tập theo cặp, theo nhóm một hỏi, một trả lời các vật có trong hình và vị trí của chúng. 
Học sinh A: Where are flowers?
Học sinh B: They are on the able.
Học sinh C: Where is the sugar?
Học sinh D: It is beneath the window..
 Cuối cùng tôi cho các em nhìn vào hình và phần gợi ý để viết thàng đoạn văn theo yêu cầu của bài . Sau khi các em hoàn thành, tôi cho một em đọc bài của mình, một em khác nghe và lên bảng viết đoạn văn đó. Khi thực hiện phương pháp này, tôi đã giúp cho các em luyện thêm kỹ năng nghe bên cạnh kỹ năng Viết. Cuối cùng, giáo viên yêu cầu các em nhìn lên bảng và cùng nhau sửa bài tập đó cho chính xác. Ngoài ra, tùy theo trình độ của lớp, giáo viên cũng có thể cho các em tự nhớ lại và miêu tả về nhà của mình; giáo viên cũng có thể cho các em hỏi nhau về nhà của bạn và viết bài văn miêu tả của nhà bạn vào tập..
* Kết quả :
 Khi áp dụng nhiều phương pháp trong các tiết Viết trên lớp mà tôi đã kể trên, tôi nhận thấy các em đã có tiến bộ nhiều. Trên thực tế,đối với các tiết học Viết, học sinh thường cảm thấy nhàm chán nếu giáo viên chỉ cho các em đơn thuần luyện kỹ năng Viết trên lớp. Vì vậy, khi giảng dạy bất kỳ các tiết học về kỹ năng riêng biệt nào, để tạo các tiết học của mình thêm sinh động, có hiệu quả , và giúp các em thêm hứng thú trong tiết học, người giáo viên phải biết phương pháp kết hợp nhuần nhuyễn các kỹ năng. 
 III/ Kết luận :
T
rên đây là những việc tôi đã làm và mong muốn sẽ làm tốt hơn trong công tác dạy Ngoại Ngữ, đặc biệt là môn Tiếng Anh lớp 8. Tuy những kinh nghiệm ít nhiều cũng có tác dụng, nhưng tôi cũng rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của quý đồng nghiệp để những sáng kiến trong phương pháp giảng dạy của tôi được ngày càng hoàn hảo hơn ./.

File đính kèm:

  • docSKKN_PHUONG_PHAP_GIANG_DAY_MON_TIENG_ANH_CO_HIEU_QUA.doc
Sáng Kiến Liên Quan