Sáng kiến kinh nghiệm Phân loại kỹ năng dạy học viết trong sách giáo khoa Tiếng Anh lớp 10 mới

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, nó hình thành và phát triển cùng xã hội loài người, nó là đặc trưng của loài người khác hoàn toàn với loài vật.

Ngôn ngữ tồn tại trong cuộc sống hàng ngày của con người như một phương tiện giao tiếp. Thông qua sự diễn đạt của ngôn ngữ mà người ta có thể hiểu nhau hơn, hiểu được tâm trạng, tháI độ của nhau để từ đó xây dung được những mối quan hệ xã hội, tác động lẫn nhau, làm cho xã hội loài người trở thành một tiết chế chặt chẽ.

Đối với học sinh thì việc hình thành ngôn ngữ cho các em là một việc làm hết sức cần thiết, đòi hỏi chúng ta luôn phảI tập trung hướng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo, tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết và giảI quyết vấn đề cho các em. Để đạt được mục tiêu này, việc thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường theo hướng coi trọng người học là chủ thể hoạt động, khuyến khích các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong quá trình học là hết sức cần thiết.

 

doc25 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 03/08/2015 | Lượt xem: 1182 | Lượt tải: 66Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Phân loại kỹ năng dạy học viết trong sách giáo khoa Tiếng Anh lớp 10 mới", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hăn đó chính là nguyên nhân gây nên giờ học nhàm chán, đơn điệu và ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của giờ học. Vậy chúng ta nên khắc phục khó khăn đó theo những hướng nào? Theo quan điểm và sáng kiến của tôI, chúng ta nên giảI quyết những vấn đề đó như sau:
a). Đối với những khó khăn mà chúng ta thường gặp từ phía khách quan.
- Phân chia lớp thành tong nhóm (group) hoặc tong cặp (pair) rõ ràng tuỳ theo yêu cầu, nhiệm vụ của bài học và tong đối tượng HS. Trong khi HS làm việc, GV phảI đI xung quanh lớp để kịp thời giúp đỡ các em nếu cần thiết.
- Hướng dẫn HS tự sửa lỗi, hoặc sửa lỗi cho bạn bằng các ký hiệu của các loại lỗi đã mắc phải.
- Không nhất thiết phải thực hiện tất cả những bước cửa cả quá trình dạy học viết trên lớp nếu bài học quá dài. Một số bước GV có thể yêu cầu HS thực hịên ở nhà hoặc trong tiết kế tiếp. VD: GV yêu cầu HS chuẩn bị chủ đề viết ở nhà, nghĩ trước dàn ý cho chủ đề viết (đặc biệt là sự chuẩn bị về từ vựng, cấu trúc câu), hoặc HS có thể viết nháp một lần ở nhà, công việc ở lớp là final production. Hoặc GV cũng có thể hướng dẫn cho HS làm một số Task khởi động ở nhà để có sự chuẩn bị về những thông tin và dữ liệu cần thiết cho bài học chính
- GV nên để cho HS tìm hiểu về các kiến thức của bài, những hiểu biết xã hội có liên quan đến bài học để tự các em có được một nguồn thông tin cần thiết trong quá trình diễn đạt, chứ GV không nên cung cấp tất cả các ý cho HS.
- Nên trao đổi, chia sẻ những thắc mắc, hoặc những kế hoạch về bài dạy của mình với đồng nghiệp, để cùng nhau tháo gỡ những khó khăn nhằm tìm ra những phương pháp hữu hiệu.
- Nên sử dụng nhiều sự gợi ý, gợi mở, khuyến khích HS trong việc khắc phục những sự thiếu hụt về từ vựng, ý kiến hoặc ngôn ngữ.
- GV nên giảI thích, động viên HS học Tiếng Anh không đơn thuần là để kiểm tra hay thi cử mà Tiếng Anh còn phục vụ thiết thực trong cuộc sống hàng ngày, cho công việc và nghề nghiệp của các em trong tương lai, đặc biệt là trpong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
b). Đối với những khó khăn đến từ phía học sinh.
- The pre-writing stage là một bước rất quan trọng cho HS có thể củng cố từ vựng, cấu trúc và nó còn giúp HS bước đầu tạo dung những ý của bài viết. ở giai đoạn này, GV nên cung cấp cho HS những cấu trúc và từ vựng cần thiết xung quanh chủ đề của bài viết để HS diễn đạt ý của mình.
- GV nên dẫn dắt HS bước vào bài viết một cách cẩn thận và hướng cho HS những nhiệm vụ đơn giản, cụ thể phù hợp với khả năng của HS.
- Sử dụng sự gợi mở không chỉ bằng ngôn ngữ mà còn bằng tranh ảnh, giáo cụ trực quan và những bài viết mẫu.
- Thiết lập cho HS ý thức về sự suy nghĩ bằng Tiếng Anh để có thể giảm tối thiểu sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ trong quá trình viết.
- Làm cho HS quen với process writing bằng việc sử dụng stages khác nhau nhằm gợi ý cho HS những bài viết mang tính thiết thực.
- Giúp HS tìm ra chính xác audience v aim của mỗi writing task. Nếu yêu cầu của mỗi task trong SGK chưa rõ ràng thì GV cần có những giảI thích cụ thể dưới nhiều hình thức khác nhau (những giảI thích này cần hướng vào phát huy tính chủ động và tư duy sáng tạo của HS) để HS tìm ra đúng audience và aim của bài viết.
- Giúp HS sử dụng sự đơn giản hoá trong việc kết nối ý trong câu/bài để làm ngắn bớt những câu hoặc đoạn văn mà ý nghĩa vẫn rõ ràng, mạch lạc.
- Cố gắng sử dụng những thông tin, kiến thức mang tính thiết thực, gần gũi với những giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày như trong các loại bài: letters, form filling,
- Tổ chức cho HS những hoạt động viết phong phú như: games, designing posters, creative writing, poems, nhằm gây không khí sôI nổi và vui vẻ mang tính sáng tạo trong giờ học.
- Không nên thường xuyên giao bài tập viết về nhà mang tính bắt buộc cho HS, vì nếu như thế vô tình sẽ làm tăng tính thụ động cho HS và chỉ mang hình thức đối phó. Nên hướng dẫn HS phát triển kỹ năng đọc ở nhà thay vì các bài tập viết.
3. Xác định nhiệm vụ và những gợi mở của một số Writing lessons trong SGK Tiếng Anh 10.
Để một giờ dạy viết thực sự mang lại những hiệu quả nhất định thì việc xác định những nhiệm vụ cụ thể và tìm ra những điểm nhấn về kiến thức cho HS trong một giờ dạy học nói chung và trong giờ dạy học viết nói riêng là rất quan trọng. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhiệm vụ cụ thể và mục tiêu cần đạt của một số Writing lesson trong SGK Tiếng Anh 10.
Writing lesson of Unit 1: Writing a narrative
Task 1
HS phảI thực hiện một lúc 2 nhiệm vụ:
Tìm các động từ ở thì quá khứ đơn: started, arrived,
Time connectors: on that day, at first,
Đối với dạng bài này GV nên hướng dẫn cho các em sử dụng kỹ năng đọc lướt tìm ý để thực hiện 2 nhiệm vụ trên.
Task 2.
Trong phần này cần lưu ý co HS xác định 3 nội dung mà các em sẽ phảI thực hiện:
Các sự kiện (events): đây chính là các hành động/hoạt động diễn ra trước cao trào của câu chuyện: got on plane, plane took off,
Cao trào (climax): cao trào của câu chuyện (hay còn gọi là điểm thắt nút) là tình tiết đáng chú ý: we thought we had only minutes to live.
Kết thúc (conclusion): Lưu ý cho HS phần kết của câu chuyện thường được nêu ở cuói của câu chuyện, có thể là có hậu hoặc bất hạnh, và thường nêu lên cảm nghĩ của người kể chuyện: pilot announced that everything was right, we landed safely.
Task 3
Trước khi HS tiến hành bài tập này, GV lưu ý HS chia thời động từ sao cho phù hợp với thời gian kể chuyện cũng như sử dụng quán từ, giới từ một cách chính xác.
Writing lesson of Unit 7: Writng about advantages and disadvantages of the mass media.
Task 1
Cho HS đọc các câu nói về lợi ích và bất lợi của việc sử dụng vô tuyến truyền hình và gạch chân hoặc ghi lại những cấu trúc câu được sử dụng trong bảng để tiện khi làm các bài tập sau.
VD: - help / encourage S.O to do sth: help us to learn, encourage us to buy.
make S.O / sth + adjective: make things memorable, make us aware of, make us passive / violent.
GV yêu cầu HS nói lại những lợi ích và bất lợi của việc sử dụng vô tuyến truyền hình, sử dụng những cấu trúc vừa học.
Task 2
Dựa vào Task 1, các em nghĩ thêm các thông tin về lợi ích và bất lợi của các loại thông tin đại chúng khác và điền vào bảng tương ứng. Lưu ý cho HS là mỗi loại phương tiện đều có 2 mặt, tốt và xấu ở các mức độ khác nhau.
VD: Tivi là nguồn giảI trí và cung cấp thông tin hữu hiệu cho con người nhưng dễ làm hang mắt khán giả nếu xem liên tục.
Radio giúp trang bị thêm kiến thức cho người nghe nhưng đôI khi thông tin truyền tảI qua đường âm thanh có thể không rõ ràng.
Task 3
HS sẽ sử dụng thông tin trong Tas 2 để viết thành 1 đoạn văn ngắn. Chú ý cho HS là chỉ viết về lợi ích và bất lợi của một loại phương tiện truyền thông và nên nêu một vài dẫn chứng cụ thể để minh hoạ.
Bài viết có thể theo lối diễn dịch (nêu ý chính trước), hoặc quy nạp (sau khi nêu các ý mới tổng hợp ý chính).
Phần đầu: Nêu tóm tắt ưu điểm chính của phương tiện thông tin đại chúng và các ý triển khai, cho ví dụ minh hoạ.
Phần thân: chuyển ý, nêu tóm tắt nhược điểm của việc sử dụng phương tiện thông tin đại chúng và các ý triển khai, cho ví dụ minh hoạ.
Phần kết: tóm tắt ý chính của cả đoạn văn.
GV có thể cung cấp cho HS những cấu trúc cần thiết dùng trong bài viết:
to neglect (v):	sao nhãng, bỏ mặc
to broaden (v):	mở rộng (hiểu biết, kiến thức)
negative (adj):	tiêu cực
understanding (n):	sự hiểu biết
to harm (v):	làm hại, gây hại
access to sth (n):	tiếp cận được cáI gì
to have influence on sth (v):	có ảnh hưởng đến cáI gì
to chat to S.O (v): 	nói chuyện/ tán gẫu với ai.
Writing lesson of Unit 13: Describing a film.
Sau khi thực hiện bài đọc mẫu miêu tả về bộ phim Titanic, HS sẽ thực hiện trả lời các câu hỏi về bộ phim. Từ việc trả lời câu hỏi GV hướng dẫn cho HS sinh rút ra những cấu trúc của tong câu hỏi. Nếu để ý chúng ta sẽ thấy mỗi câu hỏi sẽ là một lĩnh vực của bộ phim. Đối với dạng bài này, chúng ta cần đảm bảo các ý sau:
Tên phim (the name of the film)
	+ The name of the film is Titanic.
	+ The film’s name is Titanic.
Thể loại phim (kind of the film)
	+ It’s a romantic / detective / horror film
Nội dung chính của phim (the content of the film)
	+ It’s about.
	+ The film is a story of
	+ The film tells us a story about..
Bối cảnh của phim (the setting of the film): địa điểm, thời gian diễn ra sự kiện trong phim.
	+ The film is set in(a small village in 1998)
	+ The story takes place in..
Bộ phim dựa vào tác phẩm, sự kiện nào (nếu có)
	+ The film is based on a true story in 1990.
	+ The film is based on a novel of Nam Cao.
	+ The film is made based on the event of.
Các nhân vật chính trong phim (the main characters)
	+ The two main characters of the film are Leonardo and Vivien.
	+ The main actor / actress of the fil is
Hiểu biết của em về nhân vật chính trong phim (your knowledge about the characters)
	+ Leonardo is very famous actor.
	+ Nicole Kidman has won some Oscar prizes.
Kết thúc một bộ phim (vui hay buồn) (the ending of the film)
	+ The film has a sad / happy / tragic ending.
Cảm nghĩ của em về bộ phim (your feeling of the film)
	+ I think the film is very interesting / boring / frightening/.
Em học được gì từ bộ phim (the lesson you can learn from the film)
	+ The film makes me realize that I must appreciate the life and what we have.
	+ The film strengthens my belief in human ability.
	+ Thanks to the film, I realize that if we are strongly determined, we can make our wishes come true despite the difficultiesin life.
Sau khi thực hiện được công việc này thì phần việc còn lại là tương đối dễ dàng cho HS sử dụng những cấu trúc này để miêu tả về bộ phim yêu thích của riêng cá nhân từng em.
Sử dụng Power Point và máy chiếu hắt trong giờ dạy học viết (Unit 6: Writing a confirmation letter).
Có thể nói rằng sự áp dụng những phương tiện hiện đại vào dạy học đã tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều trong quá trình giảng dạy cho các thầy cô giáo, đồng thời cũng giúp HS làm quen với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật. Đối với ngoại ngữ thì việc áp dụng những phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học là cần thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên không phảI là dễ dàng và đơn giản để sử dụng những phương tiện hiện đại vào dạy học có hiệu quả.
Sau một thời gian ngắn áp dụng những phương tiện vào dạy học Tiếng Anh, tôI mạnh dạn trình bày những bài học (tôI không dùng từ “kinh nghiệm”-bởi có thể đây chưa phảI là kinh nghiệm) mà tôI dã rút ra được từ quá trình sử dụng những phương tiện hiện đại vào dạy học Tiếng Anh: Sử dụng Power Point và máy chiếu hắt trong giờ dạy học viết (Unit 6: Writing a confirmation letter).
Theo quan điểm của tôi thì việc sử dụng những phương tiện hiện đại vào giờ dạy học viết mang lại hiệu quả rất cao:
Những thao tác khởi động cho bài học viết rất nhanh, rút ngắn được thời gian vào bài.
HS có nhiều thời gian để thảo luận tại lớp trước khi viết.
Nâng cao khả năng làm việc nhóm của các em (sự phấn đấu giữa các thành viên trong nhóm, giữa nhóm này và nhóm kia), tạo cho không khí lớp học sôI nổi và tích cực hơn.
GV có thời gian sửa được nhiều lỗi sai cho HS, từ đó HS có cơ hội khắc phục được những thiếu sót của chính các em.
Phần Writing lesson of Unit 6: Writing a confirmation letter. 
ở bài này tôi tiến hành các bước như sau:
- Chuẩn bị: 
+ Soạn bài bằng Power point. 
+ Giấy trong (8 tờ) và bút viết giấy trong (8 cái).
- Đồ dùng và phương tiện dạy học:
+ Máy chiếu đa năng (để trình chiếu Power point).
+ Máy chiếu hắt (để chiếu giấy trong): sử dụng cho việc sửa bài cho HS.
- Thời gian thực hiện: 45 phút
- Quá trình giờ dạy diễn ra như sau:
Bước 1: (5 phút)
GV yêu cầu HS liệt kê những loại thư mà các em đã viết hoặc biết (có thể bằng Tiếng Việt hoặc bằng Tiếng Anh).
Chiếu Slide 1 ở phần Warm-up (như hình minh hoạ bên dưới, chưa có phần gạch nối): Cho HS dạng bài tập Matching, HS thực hiện làm nhanh trong 3 phút: Một cột là Kinds of letters và cột là Characterized sentence of the letter. HS phảI nắm bắt được câu đặc trưng của từng loại thư. GV có thể viết lên bảng các ký hiệu của tưùng cột lần lượt ở cột này là 1,2,3,4,5 và cột kia là a,b,c,d,e để tiện sửa bài cho HS. Sau đó yêu cầu 3-4 HS đưa ra câu trả lời, GV bấm máy để kiểm tra kết quả. 
Như vậy, sau khi hoàn thành bước 1 HS đã hình dung được bài học hôm nay là gì?
SLIDE 1
Bước 2 (7 phút)
Từ những điều đã làm ở bước 1, GV giới thiệu vào bài mới. GV chiếu Slide 2 (Như hình minh hoạ)
GV yêu cầu HS đọc và nắm bắt nhiệm vụ sẽ làm ở Task 1. Yêu cầ HS mở sách trang 69.
Slide 2
GV chiếu Slide 3 ( Slide3a) (chưa có phần Requests và Confirmation bên dưới), yêu cầu HS đọc kỹ 2 lá thư (của Nga và của Hoa) sau đó tìm ra requests trong lá thư của Nga và Confirmation trong lá thư của Hoa (5 phút).
GV yêu cầu HS đưa ra câu trả lời, GV ghi câu trả lời của HS lên bảng, sau GV bấm máy (Slide 3b) cho HS kiểm tra kết quả.
slide 3	 Slide3a
 Slide 3b
Bước 3 (5 phút)
GV yêu cầu HS đọc lại 2 lá thư 1 lần nữa rồi tìm ra và gạch chân từ và cấu trúc mới (HS có thể đoán trước nghĩa).
GV chiếu Slide 4 (như hình minh hoạ):
Yêu cầu HS nghe và nhắc lại vài lần, GV giải thích thêm nếu cần thiết rồi yêu cầu HS ghi chép nhanh vào vở. 
Slide 4
Bước 4 (12 phút) Task 2.
GV chiếu Slide 5 (Slide 5a), yêu cầu HS đọc kỹ nhiệm vụ phảI thực hiện, sau đó yêu cầu HS xác định yêu cầu trọng tâm của mỗi tình huống, GV gọi mọt vài HS đọc to câu trả lời.
GV bấm máy để chiếu Slide 5b.
HS quan sát và đối chiếu kết quả với câu trả lời trước đó.
GV nhấn mạnh lại yêu cầu trọng tâm của mỗi tình huống một lần nữa và yêu cầu HS chia làm 8 nhóm (thường thì mỗi lớp có 4 tổ, mỗi tổ chia làm 2 nhóm nhỏ). ở phần viết của bài này tôI tổ chức cho HS hoạt động nhóm: Những nhóm của tổ 1 và2 sẽ viết tình huống 1, những nhóm ở tổ 3 và 4 sẽ viết tình huống 2. Tất cả các nhóm đều thực hiện bài viết vào giấy trong (đã chuẩn bị trước) trong vòng 10 phút. 
GV đi quanh lớp để quan sát các nhóm làm việc và giúp đỡ nếu cần thiết.
slide 5	 Slide5a
 	 Slide 5b 
Bước 5: (10 phút)
Yêu cầu các nhóm đổi bài viết cho nhau, tìm, gạch chân và sửa lỗi ra bên cạnh nếu cho rằng viết như thế là sai (2 phút)
GV thu bài của các nhóm và dùng Máy chiếu hắt để lần lượt sửa bài cho HS: nhận xét về nghĩa (nội dung) và văn phạm, cho điểm từng bài viết.
GV đưa ra nhận xét chung và rút ra kết luận chung về những lỗi mà HS thường hay mắc phải: cấu trúc câu, cách sử dụng từ đúng/sai, trật tự từ, câu không có nghĩa rõ ràng, và đưa ra cách khắc phục, rút kinh nghiệm cho những bài viết kế tiếp.
Bước 6 (5 phút)
GV chiếu Slide 6: (Như hình minh hoạ)
Đưa ra bài viết mẫu cho mỗi tình huống, yêu cầu HS chép lại để tham khảo và đới chiếu thêm ở nhà. 
GV có thể dựa vào tình hình của từng lớp học để ra thêm những bài tập ở dạng tương tự cho HS luyện thêm ở nhà (không bắt buộc).
Bài viết mẫu
Slide 6	Tình huống 1
 Bài viết mẫu	 Tình huống 2
Với tiết dạy này, HS rất hứng thú học, không khí học tập của lớp rất sôI nổi, hầu hết các em làm việc rất hăng say, mang lại hiệu quả học tập cao. 
Tôi cũng đã sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại vào tương đối nhiều tiết dạy ở tất cả các kỹ năng, từ đó tôI rút ra một điều rằng việc sử dụng đúng các đồ dùng và phương tiện dạy học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng kỹ năng, từng đối tượng HS là không dễ dàng. Tuy nhiên không vì thế mà chúng ta không dám sử dụng chúng, mà điều quan trọng là sau mỗi lần sử dụng chúng ta rút ra được điều gì cho các lần sử dụng tiếp theo, đồng thời chúng ta cũng cần phối hợp các đồ dùng và phương tiện đó một cách nhuần nhuyễn, hợp lý. Qua sự trình bày về một tiết dạy học viết bằng Power Point và Máy chiếu hắt này, tôi hy vọng sẽ nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để chúng ta sử dụng những đồ dùng và phương tiện dạy học hiện đại ngày càng rộng rãi và có hiệu quả hơn. 
II – kết quả
Nhận xét chung
Với những hướng giảI quyết và những phương pháp mà tôI đã áp dụng (như phần trình bày ở phần nội dung), kết hợp với sự quan tâm, chỉ đạo của BGH nhà trường, sự trao đổi giữa các thành viên trong tổ chuyên môn về việc áp dụng những phương pháp phù hợp cho từng đối tượng HS ở trường Bán công. Sau một năm học áp dụng vào thực tiễn giảng dạy, tôI đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Đa số HS đã dần nâng cao được chất lượng học tập của mình, đồng thời các em cũng lấp dần sự thiếu hụt về kiến thức, từ đó phát triển thêm những kỹ năng, kỹ xảo trong việc sử dụng ngôn ngữ nói chung và Tiếng Anh nói riêng. Ngoài ra trong giờ dạy học, tôI luôn gây hứng thú học tập cho các em bằng những câu chuyện ngắn nhưng dí dỏm, những câu đố vui, những trò chơI vui nhộn phù hợp với kiểu bài, mang tính giáo dục cao. Qua 1 năm, các em đã lấy lại được sự tự tin, nâng cao được tư duy sáng tạo trong học tập.
Kết quả cụ thể:
Học kỳ I
Lớp
Sĩ số
Điểm kiểm tra kỹ năng (Writing)
0 - 2
3 - 4
5 - 6
7 - 8
9 - 10
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
10D5
56
13
23,2
34
60,7
7
12,5
2
3,6
0
0
10E5
55
19
34,5
34
61,8
2
3,7
0
0
0
0
10G5
55
20
36,3
29
52,7
5
9,1
1
1,9
0
0
Học kỳ I
Lớp
Sĩ số
Điểm kiểm tra kỹ năng (Writing)
0 - 2
3 - 4
5 - 6
7 - 8
9 - 10
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
10D5
56
4
7,1
13
23,2
27
48,1
11
19,6
1
1,8
10E5
55
6
10,9
16
29,1
30
54,5
3
5,5
0
0
10G5
55
4
7,3
11
20,0
34
61,8
6
10,9
0
0
C- kết luận
Như vậy, chúng ta thấy rõ một điều rằng: tất cả những bài học tưởng như đơn giản nhưng trong thực tế lại rất phức tạp, đòi hỏi mỗi chúng ta cần phảI có tầm nhìn bao quát, những phương pháp hợp lý
Đây đang là những năm đầu chúng ta thực hiện chương trình thay sách giáo khoa ở bậc THPT, vì vậy chúng ta đã gặp phảI không ít những khó khăn trong quá trình giảng dạy. Những khó khăn này đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau: từ việc cơ sở vật chất, đồ dùng và trang thiết bị chưa đáp ứng hoặc chưa phù hợp với nội dung của SGK – Chương trình đổi mới; cho đến trình độ yếu kém, thiếu hụt kiến thức nền của HS ở bậc THCS. Mặt khác, các chúng ta cũng chỉ mới ở mức độ làm quen với sách mới, có những bài/ phần còn chưa kiểm soát hết cả về nội dung lẫn phương pháp giảng dạy nên việc khắc phục những khó khăn trong quá trình dạy học còn hạn chế. Việc học chuyên đề thay sách trong một thời gian ngắn không thể đáp ứng hết nhu cầu trao đổi về kinh nghiệm, phương pháp cũng như toàn bộ nội dung của sách. Vì vậy, có thể nói viếc viết sáng kiến kinh nghiệm hàng năm của các thầy cô giáo cũng là điều kiện tốt để các thầy cô giáo cùng ghi chép, nhìn nhận, đánh giá và bày tỏ những phương pháp và kinh nghiệm dạy học của chính bản thân mình; đồng thời cùng nhau trao đổi để rút ra những bài học và kinh nghiệm quý giá nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học. 
D - đề xuất
Sự phong phú của các chủ đề dạy học trong SGK Tiếng Anh 10, 11 mới làm cho giáo viên gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy. Ví dụ: Chủ đề Sports, có nhiều môn thể thao mới lạ mà giáo viên cũng khó hình dung đó là môn thể thao gì? Hoặc ở phần Writing của Unit 15 – SGK Tiếng Anh lớp 10, ở phần Task 2, HS sẽ không có các số liệu để sử dụng cho bài viết như: năm thành lập, diện tích, của những thành phố ở Việt nam, Bên cạnh đó giáo viên sẽ rất vất vả khi phải thu thập đầy đủ những thông tin, số liệu có liên quan đến các chủ đề khác nhau mà trong cả SGK lẫn SGV đều không có. Một giáo viên dạy Tiếng Anh phải đóng vai trò ở các lĩnh vực khác nhau: Âm nhạc, Thể thao, Địa lý, Lịch sử, Thông tin liên lạc, Công nghệ, và rất nhiều những kiến thức xã hội khác. Trong quá trình dạy học, HS sẽ hỏi nhiều về những thông tin mà các em chưa biết, điều này không phải giáo viên nào cũng có thể cung cấp trọn vẹn cho HS. 
Vì vậy tôi có một đề xuất là: Bộ giáo dục nên biên soạn thêm 1 cuốn sách hỗ trợ cho giáo viên những tư liệu về các chủ đề trong SGK Tiếng Anh 10, 11, 12 để các thầy, cô giáo có thêm những thông tin và số liệu cung cấp cho HS trong quá trình giảng dạy.
Xin chân thành cảm ơn.
Thanh Hoá, ngày 25 tháng 5 năm 2008.
 Người viết
 Nguyễn Xuân Tuấn
đánh giá của hội đồng khoa học cấp trường
..
..
..
..
..
..
..
..
..
Sáng kiến xếp loại:
đánh giá của hội đồng khoa học cấp tỉnh
..
..
..
..
..
..
..
..
..
Sáng kiến xếp loại:

File đính kèm:

  • docSKKN_XEP_LOAI_A_TINH_HOT.doc