Sáng kiến kinh nghiệm Những lưu ý khi soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Nhà giáo cần phân loại học sinh và thẩm ñịnh mức ñộhọc tập. Khi các

phép ño lường chính xác và thông dụng hơn, các kỹ thuật thẩm ñịnh trong giáo

dục cũng hoàn thiện hơn.

Nhà giáo dục phải biết rõ cách sử dụng và giới hạn của những bài kiểm

tra, bài thi, những phương pháp trắc nghiệm, kỹ thuật ñể soạn một bài thi chính

xác và phù hợp với hoàn cảnh riêng của mỗi trường hợp, mỗi môn học, mỗi

trường học. ðể cho ñiểm học sinh cũng cần có những phương tiện ño lường

chính xác. Tuy nhiên ño lường hay trắc nghiệm chỉ là phương tiện chứ không

phải là mục ñích giáo dục.

Với những kỹ thuật ño lường chính xác chúng ta rút ra ñược những kết

luận chính xác trong nghiên cứu thực nghiệm về giáodục.

pdf6 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 30/07/2015 | Lượt xem: 1790 | Lượt tải: 3Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Những lưu ý khi soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm khách quan", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 1 
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
ðề tài: 
NHỮNG LƯU Ý KHI SOẠN THẢO 
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 
I. ðặt vấn ñề 
Nhà giáo cần phân loại học sinh và thẩm ñịnh mức ñộ học tập. Khi các 
phép ño lường chính xác và thông dụng hơn, các kỹ thuật thẩm ñịnh trong giáo 
dục cũng hoàn thiện hơn. 
Nhà giáo dục phải biết rõ cách sử dụng và giới hạn của những bài kiểm 
tra, bài thi, những phương pháp trắc nghiệm, kỹ thuật ñể soạn một bài thi chính 
xác và phù hợp với hoàn cảnh riêng của mỗi trường hợp, mỗi môn học, mỗi 
trường học. ðể cho ñiểm học sinh cũng cần có những phương tiện ño lường 
chính xác. Tuy nhiên ño lường hay trắc nghiệm chỉ là phương tiện chứ không 
phải là mục ñích giáo dục. 
Với những kỹ thuật ño lường chính xác chúng ta rút ra ñược những kết 
luận chính xác trong nghiên cứu thực nghiệm về giáo dục. 
II. Lí do chọn ñề tài 
Sử dụng trắc nghiệm khách quan ñể ñánh giá kết quả học tập của học sinh 
- sinh viên là công việc bình thường của nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta, việc 
sử dụng trắc nghiệm khách quan ñể ñánh giá kết quả học tập là một trong những 
chủ trương lớn của lãnh ñạo Bộ Giáo dục và ðào tạo hiện nay, nhằm góp phần 
nâng cao chất lượng dạy và học, hạn chế bệnh thành tích trong giáo dục và tiêu 
cực trong thi cử, ñược ñông ñảo tầng lớp nhân dân và học sinh-sinh viên ñồng 
tình. 
Ngày 27/12/2006, Bộ Giáo dục và ðào tạo ñã có công văn số 
14653/BGD&ðT-KT&ðG về việc tiếp tục ñổi mới trong kì thi tốt nghiệp trung 
học phổ thông và kì thi tuyển sinh ñại học, cao ñẳng 2007. Theo ñó ñối với môn 
Hoá học, kì thi tốt nghiệp, ñại học, cao ñẳng năm 2007 sẽ tiếp tục thi trắc nghiệm 
khách quan hoàn toàn. ðến nay, năm 2008 kỳ thi tốt nghiệp, ñại học cao ñẳng 
vẫn tiếp tục thi trắc nghiệm khách quan. ðối với các kỳ thi như thi học kỳ ở cấp 
trung học ñều ít nhiều có trắc nghiệm khách quan ñối với tất cả các môn học. 
 2 
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan là một trong những công cụ ño lường kết 
quả học tập. Công cụ ño lường càng chính xác thì việc kiểm tra, ñánh giá càng 
ñúng ñắn, và như thế ta sẽ nhận ñược những thông tin phản hồi từ phía học sinh 
nhằm có những ñiều chỉnh, bổ sung kịp thời trong phương pháp hướng dẫn học 
tập, thay ñổi nội dung bài giảng và hoàn thiện quá trình dạy học cho phù hợp với 
tình hình và mục tiêu giáo dục. Các bài trắc nghiệm soạn kỹ, dùng ñúng phương 
pháp có thể là nguồn khích lệ học sinh chăm lo học tập, sữa ñổi những sai lầm và 
hướng các hoạt ñộng học tập ñến những mục tiêu mong ước. 
Phần lớn các bài trắc nghiệm về trí thông minh, khả năng, nhân cách, sở 
thích dùng ở các nước tiên tiến hiện nay ñều là những bài trắc nghiệm chuẩn hoá 
do những nhà chuyên môn soạn và các nhà xuất bản phân phối trên thị trường. 
Trong trường hợp kiểm tra, ñánh giá thành quả học tập cũng có những bài 
trắc nghiệm ñã chuẩn hoá trên thị trường nhưng thường những bài này không 
ñáp ứng nhu cầu của giáo viên ở các trường hoặc không thích hợp với các mục 
tiêu giảng dạy của họ. Vì thế giáo viên thường phải tự soạn những bài trắc 
nghiệm ñể ñánh giá thành quả học tập trong lớp. 
Với những yêu cầu về nội dung, hình thức và kỹ thuật soạn thảo câu hỏi 
và bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan thì phần ñông những người trực tiếp giảng 
dạy chưa có ñủ thời gian ñể soạn thảo ñược một bộ câu hỏi ñạt chuẩn. Tuy nhiên, 
giáo viên là người trực tiếp kiểm tra, ñánh giá học sinh hàng ngày, họ cần phải 
ñược tập huấn, bồi dưỡng những kỹ năng cơ bản ñể tham gia vào việc bổ sung 
câu hỏi cho ngân hàng ñề trắc nghiệm khách quan (việc xác ñịnh các chỉ số 
thống kê sẽ do các chuyên gia ñảm trách). 
III. Phương pháp nghiên cứu 
Khảo sát thực tế một số giáo viên ở các trường bạn cũng như trao ñổi với 
các ñồng nghiệp, các thầy cô giáo có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. 
Tổng kết kinh nghiệm qua nghiên cứu lí thuyết cũng như thực tế giảng dạy 
nhiều năm và soạn giảng trong ñánh giá học sinh của mình. 
IV. Kết quả nghiên cứu 
Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi muốn trao ñổi với ñồng 
nghiệp một số lưu ý mà bản thân ñã từng vấp phải trong quá trình soạn thảo bộ 
câu hỏi trắc nghiệm khách quan (chỉ ñề cập câu hỏi nhiều lựa chọn), với hy vọng 
ñây chỉ là nhầm lẫn của chính bản thân (những yêu cầu khác: xác ñịnh các chỉ số 
thông kê, phân tích-ñánh giá một bài trắc nghiệm khách quan, ... xin ñược trao 
ñổi ở một dịp khác). 
Sau ñây là một số lỗi mà chúng tôi ñã từng vấp phải cùng những suy nghĩ 
của cá nhân và ý kiến của một số chuyên gia xung quanh vấn ñề ñó: 
 3 
1. Mỗi câu hỏi nên liên quan ñến một mục tiêu nhất ñịnh. Bởi vì kiểm 
tra, thi cử là nhằm ñánh giá, ñánh giá bao giờ cũng có mục tiêu xác ñịnh. Khi 
soạn một câu hỏi, chúng ta nên tự hỏi vì sao phải viết câu hỏi ấy, tránh trường 
hợp viết cho ñủ số câu. 
 2. Câu dẫn (phần gốc của một câu trắc nghiệm) có thể ñược trình bày 
dưới dạng một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất). 
 Ví dụ: Axit là ... 
 Hay Axit là gì? 
 Cả hai dạng câu dẫn trên ñều phù hợp cho cùng một mục tiêu và nội dung 
cần kiểm tra. Trong trường hợp như vậy, người soạn thảo nên chọn dạng nào ít 
tốn thì giờ ñọc và ít khó khăn nhất ñối với người làm trắc nghiệm. 
 3. Câu dẫn phải hàm chứa vấn ñề mà ta muốn hỏi một cách rõ ràng ñể 
người làm trắc nghiệm có thể biết ta muốn hỏi họ ñiều gì trước khi ñọc phần trả 
lời. 
 Ví dụ: Axit có: 
A. chứa H linh ñộng B. khả năng làm quỳ tím hoá ñỏ 
C. phản ứng với bazơ D. phản ứng với oxit bazơ 
Với các câu hỏi trắc nghiệm như trên, người làm trắc nghiệm dù có ñọc 
hết các câu lựa chọn cũng chưa hiểu ñược người viết muốn hỏi ñiều gì, vì câu 
lựa chọn nào cũng có phần ñúng. 
4. Các câu nhiễu (mồi nhử), ñều phải có vẻ hợp lý và hấp dẫn. Nếu 
một trong các mồi nhử ấy không hấp dẫn thì có thêm câu nhiễu ấy cũng vô ích 
mà thôi. 
Ví dụ: Trong số các chất khí sau, khí nào thường dùng bơm vào các quả 
bóng bay trong các dịp lễ, tết? 
A. Hiñro H2 B. Oxi O2 
C. Nitơ N2 D. Cacbonñioxit CO2 
Rõ ràng học sinh dễ dàng chọn ñáp án A. 
5. Những hình thức vô tình tiết lộ cách lựa chọn khi viết các câu trắc 
nghiệm.` 
5.1. Tiết lộ qua chiều dài của các câu lựa chọn. Người soạn thảo trắc 
nghiệm thường có khuynh hướng diễn tả câu lựa chọn ñúng một cách ñầy 
ñủ với mọi sự cân nhắc kỹ lưỡng, do ñó câu ñúng thường dài hơn các câu 
nhiễu. ðể khắc phục tình trạng này, ta nên dùng câu dài và ngắn lẫn lộn, 
 4 
nghĩa là có khi viết các câu ñúng và câu sai bằng nhau, có khi câu sai dài 
hơn câu ñúng. 
Ví dụ: chọn ñịnh nghĩa chính xác nhất về oxit trong số các phương 
án sau: 
A. Oxit là hợp chất có chứa nguyên tố oxi 
B. Oxit là hợp chất của kim loại và oxi 
C. Oxit là hợp chất của phi kim và oxi 
D. Oxit là hợp chất hai nguyên tố, trong ñó có một nguyên tố là oxi 
5.2. Tiết lộ qua cách dùng từ. Chẳng hạn những câu hỏi có các từ 
như “tuyệt ñối ñúng”, “không cái nào”, “không bao giờ”... người soạn thảo 
thường dự ñịnh viết cho câu nhiễu. Ngược lại, những câu chứa những từ 
như “thông thường”, “có thể”, “thường thường”..., người soạn thảo thường 
dự ñịnh viết cho câu chọn ñúng. Qua trả lời một số câu, học sinh sẽ ñoán 
qui luật của người soạn thảo ñể chọn câu ñúng. Ngoài ra, vì cẩu thả, vì vô 
ý hay chủ quan, người soạn thảo cố gắng ñưa ra những ý tưởng thật ñầy 
ñủ, chính xác cho những câu lựa chọn ñúng, nhưng ngược lại, cố ý dùng 
những ý tưởng tầm thường, khó chấp nhận ñược trong những câu dự ñịnh 
cho là sai. Như vậy cũng là một cách tiết lộ khiến cho học sinh chọn ñược 
câu ñúng, nhiều khi không cần biết câu ñúng ñó nói gì. 
Ví dụ: Trong hạt nhân của nguyên tử không có các electron. Vì lý 
do nào sau ñây mà khi phóng xạ, nguyên tử có thể phát ra tia bêta trừ 
(dòng các electron)? 
A. Trong hạt nhân nguyên tử, các nuclôn chuyển hoá lẫn nhau: 
prôtôn biến ñổi thành nơtrôn và ngược lại. Khi nơtrôn biến ñổi thành 
prôtôn nó phát ra electron 
B. Các prôtôn có thể chuyển hoá thành electron 
C. Các electron ở lớp vỏ ngoài của nguyên tử bứt ra 
D. Các nuclôn có thể chuyển hoá thành electron. 
Với câu hỏi trên, hầu hết học sinh sẽ chọn phương án A, dù có thể 
không lí giải ñược vì sao! 
5.3. Tiết lộ qua những câu ñối chọi hay phản nghĩa. Nếu trong bốn 
câu lựa chọn có hai câu ñối chọi hay phản nghĩa nhau rõ rệt thì chỉ cần 
một chút suy luận học sinh có thể ñoán ñược một trong hai câu ñó là câu 
ñúng. Như vậy, câu trắc nghiệm xem như chỉ có hai chọn. 
Ví dụ: Cho một miếng quỳ tím vào trong dung dịch axit thì... 
 5 
A. quỳ tím hoá xanh B. quỳ tím hoá ñỏ 
C. có sủi bọt khí D. có kết tủa 
Rỏ ràng quỳ tím chỉ có thể hoá xanh hay hoá ñỏ, chứ không thể có 
hiện tượng nào khác. 
5.4. Tiết lộ do câu nhiễu quá giống nhau về tính chất. Tính chất 
giống nhau này làm cho câu trả lời ñúng trở nên nổi bật, dễ nhận thấy. 
Ví dụ: Một số lớn các loại côn trùng còn tồn tại cho ñến ngày nay, 
ñó là bằng chứng cho thấy: 
 A. Chúng tương ñối ít bị các loài vật săn mồi tấn công 
 B. Chúng thích ứng tốt với môi trường 
 C. Cấu trúc của chúng rất phức tạp 
 D. Khả năng sinh sản của chúng rất lớn 
 Các câu nhiễu A. C. và D. ñều có tính chất cụ thể hơn câu trả lời 
ñúng B. Tính chất giống nhau này khiến cho câu trả lời ñúng trở nên nổi 
bật, dễ nhận thấy hơn. 
6. Tránh ñể học sinh ñoán ñược câu trả lời nhờ vào dữ kiện cho ở một 
câu khác. 
Ví dụ 1: Cho 9,6g kim loại R tác dụng với axit H2SO4 ñặc, nóng dư thì thu 
ñược 3,36 lít khí SO2 duy nhất (ñktc). Kim loại R là: 
A. Al B. Fe C. Ca D. Cu 
Ví dụ 2: Cho m gam kim loại R tác dụng với axit H2SO4 ñặc, nóng dư thì 
thu ñược 3,36 lít khí SO2 duy nhất (ñktc). Giá trị m là: 
A. 6,4g B. 9,6g C. 12,8g D. 3,2g 
7. Các câu hỏi không nên hỏi các vấn ñề mà ñang còn gây nhiều tranh 
luận, vì khó có thể ñưa ra một ñáp án thống nhất chính xác. 
8. ðặc biệt, ñể tiếp cận với phần mềm ñảo ñề trắc nghiệm McMIX của 
thạc sĩ Võ Tấn Quân, không ñược soạn dạng câu có lựa chọn “tất cả ñều ñúng” 
hay “tất cả ñều sai”. 
V. Lời kết 
Hiện nay qua rất nhiều năm ñổi mới cách kiểm tra ñánh giá thành quả học 
tập của học sinh, ñặc biệt là ñề kiểm tra trắc nghiệm khách quan, tuy nhiên vẫn 
còn nhiều ñề kiểm tra, thậm chí cả ñề kiểm tra học kỳ vừa qua bản thân nhận 
thấy một số sai sót ñáng lẽ không nên vất phải. Vì thế bản thân mạnh dạn viết ñề 
 6 
tài này hy vọng ñóng góp một phần nhỏ công sức của mình trong sự ñổi mới nền 
giáo dục tỉnh nhà nói chung. 
Trên ñây là một số kinh nghiệm của bản thân và ý kiến của một số chuyên 
gia xung quanh việc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm khách quan. 
Kính mong sự quan tâm góp ý của các ñồng nghiệp, quí thầy cô giáo ñể 
rút kinh nghiệm và cùng nhau soạn thảo những bộ câu hỏi trắc nghiệm khách 
quan trong những lần sau ñược tốt hơn. 
Xin chân thành cảm ơn! 
 Cam Lộ, tháng 5/2008 
 Người thực hiện: 
 Trần Hữu Khương 
 trnhukhuong@yahoo.com 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Dương Thiệu Tống, Trắc nghiệm và ño lường thành quả học tập, NXB 
Khoa học xã hội, 2005 
2. Nguyễn Phụng Hoàng-Võ Ngọc Lan, Phương pháp trắc nghiệm trong 
kiểm tra ñánh giá thành quả học tập, NXB Giáo dục, 1996 
3. Phạm ðức Bình-Lê Thị Tâm, Phân loại và hướng dần giải Hoá học 8, 9, 
10, 11, 12. NXB ðHQG TP HCM, 2007 
4. Nguyễn Hải Châu (Chủ biên), Chuẩn bị kiến thức ôn thi TN và TS ðH, 
Cð môn Hoá học. NXB Giáo dục, 2007 
5. Trương Hữu ðẳng, Xây dựng bài trắc nghiệm khách quan ñể ñánh giá 
kết quả học tập môn Vật lý ở trường THCS, Thông tin khoa học, CðSP 
Quảng Trị số 2/2004 

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiemluongvc.pdf
Sáng Kiến Liên Quan