Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy và học môn Hóa học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học

Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ mà tất các các quốc gia trên thế giới đều coi là chiến l¬ược của dân tộc mình .Vì thế đại hội lần IX, Đảng cộng sản Việt Nam trong nghị quyết ghi rõ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tư¬ơng lai của một dân tộc, một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó.

Nêu về tầm quan trọng của giáo dục cho thế hệ trẻ nhân ngày khai trư-ờng đầu tiên của n¬ước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:“Non sông Việt Nam có trở nên t¬ươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bư¬ớc tới đài vinh quang để sánh vai với các cư¬ờng quốc năm châu đ¬ược hay không, chính là nhờ một phần công lớn công học tập của các em”.

Trư¬ớc khi Ngư¬ời ra đi, trong di chúc chủ tịch Hồ Chí Minh có dặn: “Phải giáo dục thế hệ trẻ để cho họ trở thành ngư¬ời vừa hồng vừa chuyên”.

Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triển như¬ vũ bão, nền kinh tế trí thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính giáo dư¬ỡng nh¬ưng cao hơn là giáo d¬ưỡng h¬ướng thiện khoa học.

 

doc22 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 07/08/2015 | Lượt xem: 971 | Lượt tải: 40Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy và học môn Hóa học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
à một thứ gia vị rất gần gũi trong đời sống, giáo viên có thể xen vào trong bài giảng về axit axetic (ở lớp 9 ) để học sinh liên hệ trong thực tế, hiểu biết về vai trò của dấm ăn đối với con người.
* Ví dụ 20: Vì sao không nên ăn hoa quả ngay sau bữa ăn?
Trái cây có loại đường đơn là monosaccarit và một số loại axit sẽ kết hợp với axit trong dạ dày tạo ra Axit tactaric, Axit citric làm cho dạ dày đầy hơi.
Một số loại hoa quả có hàm lượng Tanin và Pectin cao, chúng sẽ kết hợp với dịch vị, chất xơ và protein trong thức ăn, dễ tạo thành những hạt rắn, khó tiêu hóa. Những hạt này hình thành sỏi ở dạ dày, ruột.
Nên ăn hoa quả sau bữa ăn khoảng 1−3 giờ.
*Ví dụ 21: Vì sao vắt chanh vào cốc sữa đặc có đường sẽ thấy có kết tủa?
Trong sữa có thành phần protein gọi là Cazein. Khi vắt chanh vào sữa làm tăng độ chua, tức làm giảm pH của dung dịch sữa tới pH đúng với điểm đẳng điện của cazein thì chất này sẽ kết tủa. 
Khi làm phomat, người ta cũng tách Cazein theo nguyên tắc tương tự và cho lên men tiếp.
* Ví dụ 22: Vì sao nước rau muống đang xanh, khi vắt chanh vào thì chuyển sang màu đỏ?
Có một số chất hoá học được gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm cho màu của dung dịch thay đổi khi độ axit thay đổi.
Trong rau muống (và vài loại rau khác) có chất chỉ thị này.Trong chanh có 7% axit citric.Vắt chanh vào nước rau làm thay đổi độ axit, do đó làm thay đổi màu nước rau.Khi chưa vắt chanh, nước rau muống có màu xanh lét là chứa chất kiềm canxi.
* Ví dụ 23:Vì sao sau khi ăn trái cây thì không nên đánh răng ngay? 
Các nhà khoa học khuyến cáo: Ai ăn trái cây thì phải một giờ sau mới được đánh răng. Tại sao vậy? Vì chất chua (axit hữu cơ) trong trái cây sẽ kết hợp với những thành phần trong thuốc đánh răng theo bàn chải sẽ tấn công các kẽ răng và gây tổn thương lợi. Bởi vậy phải đợi đến khi lượng nước bọt trung hòa axit trong trái cây, nhất là táo, cam, nho, chanh.
Ta đã biết thức ăn vào dạ dày phải lưu giữ lại từ 1−2 giờ. Nếu sau bữa ăn, ta ăn ngay trái cây sẽ làm tăng thêm sự lưu trệ trong dạ dày.
* Ví dụ 24:Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau?
Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic (HCOOH). Vôi là chất bazơ nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.
Áp dụng: Giáo viên có thể lựa chọn một trong 5 VD (VD20,21,22,23,24) để đưa các vấn đề thực tế này vào bài axit cacboxylic (ở lớp 9 ).
* Ví dụ 25: Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc (CO) hoặc nhiều khí thiên nhiên(CH4)và không có oxi, để tránh khi xuống giếng bị ngạt?
Trong các giếng đào đặc biệt nhiều ở vùng đồng bằng thường có khí độc CO, CH4 và không có O2. Mà người dân chúng ta hay có thói quen xuống giếng thau giếng hoặc vì lấy gầu múc nước Đã có nhiều trường hợp bị tử vong một lúc nhiều mạng người vì gặp phải giếng có khí độc (CO) gây đông máu, CH4và không có O2 gây ngạt trong tíc tắc, làm người xuống cứu cũng chết.Để tránh, tốt nhất không nên xuống các giếng đào, nếu có xuống phải đeo bình oxi. Còn muốn biết có khí độc(CO), hoặc nhiều khí thiên nhiên(CH4) và không có O2 chỉ cần lấy dây buộc một con gà, vịt  thả xuống nếu nó chết thì chứng tỏ có khí độc.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng hay xảy ra, giáo viên nên đưa vào bài giảng để nhắc nhở học sinh, cộng đồng tránh những cái chết thương tâm. Vấn đề này có thể xen vào bài dạy Cacbon hay Metan (ở lớp 9 ).
* Ví dụ 26: Vì sao có thể đánh cảm bằng dây bạc và khi đó dây bạc bị hóa đen? Để dây bạc trắng sáng trở lại, người ta sẽ ngâm vào nước tiểu?
Người bị cảm trong cơ thể thường sinh ra những hợp chất dạng sunfua(S2−) vô cơ hay hữu cơ đều có tính độc. Khi đánh cảm bằng bạc, do S có ái lực mạnh với Ag nên xảy ra phản ứng tạo Bạc sunfua (Ag2S) kết tủa màu đen. Do đó loại được chất độc ra khỏi cơ thể và cũng làm cho dây bạc chuyển thành màu đen.
Trong nước tiểu có NH3, khi ngâm dây bạc vào thì sẽ xảy ra phản ứng:
Nên Ag2S bị hoà tan, bề mặt dây bạc lại trở nên sáng bóng.
* Ví dụ 27:Vì sao các đồ vật bằng bạc để lâu ngày thường bị xám đen? Vì sao dùng đồ bằng bạc đựng thức ăn, thức ăn lâu bị ôi?
Do bạc tác dụng với khí O2 và H2S có trong không khí tạo ra bạc sunfua (Ag2S) màu đen.
Khi bạc sunfua gặp nước sẽ có một lượng rất nhỏ đi vào nước thành ion Ag+. Ion Ag+ có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh, chỉ cần 1/5 tỉ gam bạc trong 1 lít nước cũng đủ diệt vi khuẩn. Không cho vi khuẩn phát triển nên giữ cho thức ăn lâu bị ôi thiu.
Áp dụng:Đây là những ứng dụng rất hay của bạc. Giáo viên có thể đưa một trong 2 VD 26,27 vào bài về kim loại (ở lớp 9 ).
* Ví dụ 28: Teflon là chất gì?
Teflon có tên thay thế là: Poli(tetrafloetilen)[(−CF2−CF2−)n]. Đó là loại polime nhiệt dẻo, có tính bền cao với các dung môi và hóa chất. Nó độ bền nhiệt cao, có độ bền kéo cao và có hệ số ma sát rất nhỏ. Teflon bền với môi trường hơn cả Au và Pt, không dẫn điện.
Do có các đặc tính quý đó, teflon được dùng để chế tạo những chi tiết máy dễ bị mài mòn mà không phải bôi mỡ (vì độ ma sát nhỏ), vỏ cách điện, tráng phủ lên chảo, nồi, để chống dính.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vào bài polime (ở lớp 9 )
* Ví dụ 29:Vì sao than đá chất thành đống lớn có thể tự bốc cháy?
Do than đá tác dụng với khí O2 trong không khí tạo ra khí CO2, phản ứng tỏa nhiệt. 
Nhiệt tỏa ra được tích góp dần dần, khi đạt đến nhiệt độ cháy của than thì than tự bốc cháy.
* Ví dụ 30:Vì sao khi cơm khê người ta thường cho vào nồi cơm một mẩu than củi?
Do than củi xốp có tính hấp phụ mùi , nên hấp phụ được mùi khét của cơm làm cho cơm đỡ mùi khê.
Áp dụng: Giáo viên có thể đưa một trong 2 VD 29,30 này vào bài C (lớp 9) , VD 30 còn có thể đưa vào bài Oxi lớp 8.
* Ví dụ 31:Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết? Trong nông nghiệp, đất đèn dùng để làm gì?
Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua (CaC2), khi tác dụng với nước sinh ra khí axetilen và canxi hidroxit.
Axetilen có thể tác dụng với nước tạo ra andehit axetic (CH3CHO). Các chất này làm tổn thương đến hoạt động hô hấp của cá vì vậy có thể làm chết cá.
Trong nông nghiệp, từ lâu người ta đã dùng đất đèn để làm kích thích quả xanh mau chín và chín đồng loạt ở các kho, thường dùng để dấm dứa, chuối, cà chua, vào dịp cuối mùa đông, đầu mùa xuân.
	Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vào bài Axetilen (ở lớp 9)
* Ví dụ 32:Vì sao trong công nghiệp thực phẩm, muối (NH4)2CO3 được dùng làm bột nở?
NH4)2CO3 được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc nướng bánh thì (NH4)2CO3 sẽ bị phân hủy thành các chất khí và hơi nên làm cho bánh xốp và nở hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này vào bài muối cacbonat (ở lớp 9).
* Ví dụ 33: Vài kỷ lục trong thế giới kim loại 
Kim loại có khối lượng riêng lớn nhất: Osmi (Os) với D = 22,7g/cm3.
Kim loại có nhiệt độ nóng chảy cao nhất: Vonfram (W) với tnc = 34100C.
Kim loại nhẹ nhất: Liti (Li) với D = 0,53g/cm3.
Kim loại dẻo nhất: Vàng (Au)
Kim loại có nhiệt độ nóng chảy thấp nhất: thủy ngân (Hg) với tnc = −390C.
Kim loại dẫn điện, dẫn nhiệt tốt nhất: Bạc (Ag)
Kim loại được con người sử dụng làm công cụ sớm nhất: Đồng (Cu)
Kim loại có trữ lượng lớn nhất: Nhôm (Al), chiếm 7% về khối lượng vỏ trái đất.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vào bài Đại cương về kim loại (ở lớp 9).
* Ví dụ 34:Tại sao khi đánh rơi nhiệt kế thủy ngân thì không được dùng chổi quét mà nên rắc bột S lên trên?
Thủy ngân (Hg) là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là một chất độc. Vì vậy khi làm rơi nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thì thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi và làm cho quá trình thu gom khó khăn hơn. Ta phải dùng bột S rắc lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể tác dụng với thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi.
Quá trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn.
	Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài học liên quan đến Lưu huỳnh , hoặc tính chất hóa học của kim loại (ở lớp 9)
* Ví dụ 35: Nhôm lại được dùng làm dây dẫn điện cao thế? Còn dây đồng lại được dùng làm dây dẫn điện trong nhà?
Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng riêng của nhôm là 2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là Do đó, nếu như dùng đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc xây các cột điện sao cho chịu được trọng lực của dây điện. Việc làm đó không có lợi về mặt kinh tế.Còn trong nhà thì việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh hưởng lớn lắm.Vì vậy ở trong nhà thì ta dùng dây đẫn điện bằng đồng.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài Tính chất vật lý của kim loại (ở lớp 9)
* Ví dụ 36: Vì sao để bảo vệ vỏ tàu biển bằng thép, người ta gắn các tấm kẽm vào phía ngoài vỏ tàu ở phần chìm trong nước biển?
Khi thép và kẽm cùng ở trong nước biển thì sẽ xuất hiện cặp pin hóa học và có sự ăn mòn điện hóa.
Kẽm là cực âm, thép là cực dương và nước biển là dung dịch điện li. Trong quá trình ăn mòn điện hóa thì kẽm sẽ bị ăn mòn. Do đó, vỏ tàu biển được bảo vệ. Đây là phương pháp bảo vệ kim loại bằng phương pháp điện hóa.
Áp dụng: Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào trong bài dạy liên quan đến sự ăn mòn kim loại (lớp 9)
b/Một số VD có thể đưa vào chương trình bồi dưỡng HS giỏi hay các cuộc thi kiến thức, các buổi ngoại khóa ở trường:
* Ví dụ 01:Làm thế nào để khắc được thuỷ tinh?
Muốn khắc thuỷ tinh, người ta nhúng thuỷ tinh vào sáp nóng chảy, lấy ra cho nguội, dùng vật nhọn tạo hình, chữcần khắc nhờ lớp sáp (nến) mất đi, rồi nhỏ dung dịch HF vào thuỷ tinh sẽ bị ăn mòn ở những nơi đã bị cạo đi lớp sáp. 
Nếu không có dung dịch HF, ta có thay bằng dung dịch H2SO4 đặc và bột CaF2(màu trắng).Nhúng thuỷ tinh vào sáp nóng chảy, lấy ra cho nguội, dùng vật nhọn tạo hình, chữ cần khắc nhờ lớp sáp (nến) mất đi, rồi rắc bột CaF2 vào chổ cần khắc, cho thêm H2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác hoặc bìa cứng đặt lên trên khu vực khắc, sau 1 thời gian thuỷ tinh cũng sẽ bị ăm mòn những nơi cạo lớp sáp. 
Do: 	 (dùng bìa cứng che)
Áp dụng: Đây là vấn đề thực tế với những gia đình, xí nghiệp kinh doanh và sản xuất thuỷ tinh .Không những cung cấp cho học sinh phương pháp khắc thuỷ tinh mà còn giải thích hiện tượng đó.Thậm chí đây là cơ sở cho việc học nghề, khơi dậy niềm đam mê học tập và khám phá.
* Ví dụ 2:Ma trơi là gì? Ma trơi thường gặp ở đâu?
“Ma trơi” chỉ là cái tên gọi mê tín mà thực chất, trong cơ thể (xương động vật) có chứa một hàm lượng P khi chết phân huỷ tạo 1 phần thành khí PH3(Photphin) khi có lẫn một chút khí P2H4 (Diphotphin), khí PH3 tự bốc cháy ngay trong điều kiện thường tạo thành khối cầu khí bay trong không khí
Điều trùng lặp ngẫu nhiên là: Người ta thường gặp “Ma trơi” ở các nghĩa địa càng tăng nên tính chất kịch tính.
Áp dụng: giải thích được hiện tượng trong đời sống “Ma trơi”.Tránh tình trạng mê tín dị đoan,làm cho cuộc sống lành mạnh.
* Ví dụ 3:Tại sao phải ăn muối có Iod?
Ăn muối để bổ sung hàm lượng Iodcho cơ thể, trong cơ thể một người trưởng thành có chứa 20 – 50mg Iod chủ yếu tập trung tuyến giáp trạng, thiếu Iod trong tuyến này thì cơ thể sẽ bị một số bệnh: Bướu cổ, nặng hơn là dẫn đến đần độn, phụ nữ thiếu Iod dẫn dến vô sinh, có biến chứng sau khi sinh. Mỗi ngày phải đảm bảo cho cơ thể tiếp xúc với < 150 mcrogam Iod.
Áp dụng:vấn đề liên quan đến Iod giúp học sinh hiểu được vai trò tại sao toàn dân phải ăn muối Iod. Giúp các em tự nhận thấy tầm quan trọng của muối Iod, tăng tính hiểu biết hơn.
* Ví dụ 4: Vải khác nhau có giá trị khác nhau nên phân biệt như thế nào?
Căn cứ vào bản chất của các chất liệu làm nên vải, ta có thể nhận biết cách đơn giản sau:
1/ Nếu vải làm bằng sợi bông: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng, có mùi như đốt giấy và tro có màu xám đậm.
2/ Nếu vải làm bằng sợi tơ tằm: Khi đốt sợi vải cháy chậm hơn vải sợi bông, có mùi khét như đốt tóc, sợi tơ co cục, màu nâu đen, lấy tay bóp thì tan.
3/ Nếu vải làm bằng lông cừu (len lông cừu): Khi đốt bắt cháy không nhanh, bốc khói, có mùi khét như đốt tóc và tạo thành những bọt phồng, rồi vón cục có màu đen hơi óng ánh, giòn, bóp tan ngay.
4/ Nếu vải làm bằng sợi viscozơ: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng, có mùi như đốt giấy và tro có màu xám nhưng rất ít.
5/ Nếu vải làm bằng sợi axetat: Khi đốt sợi vải bắt cháy chậm ,thành giọt dẻo màu nâu đậm, có hoa lửa, không bốc cháy thành ngọn lửa, sau đó kết thành cục màu đen, dể bóp nát.
6/ Nếu vải làm bằng sợi poliamit(nilon): Khi đốt sợi vải không cháy ngọn lửa mà co vón lại và cháy thành từng giọt dẻo màu trắng, có mùi của rau cần, khi nguội thì biến thành cục cứng có màu nâu nhạt, bóp khó nát
Áp dụng: có tác dụng cung cấp cho học sinh phương pháp trong đời sống nhận biết các chất liệu vải phục vụ cho mục đích sử dụng, điều này cũng rất thực tiễn.
* Ví dụ 5: Hoá chất trong cơ thể của con người như thế nào?
Các nhà khoa học đã tính được rằng: 
Lượng nước trong cơ thể của mỗi người chúng ta chỉ đủ giặt một chiếc áo sơ mi.
Lượng Fe đủ để làm một cái đinh 5 phân.
Lượng đường chỉ đủ cho làm một nữa cái bánh ngọt nhỏ.
Lượng vôi trong toàn bộ xương của cơ thể đủ để xây một cái chuồng gà con.
Lượng mỡ dùng nấu được 7 bánh xà phòng.
Lượng P đủ để sản xuất 2200 đầu que diêm.
Lượng S đủ để giết chết 1 con bọ chét.
Cộng cả lại kể các các nguyên tố khác như Mg, Cu, K Theo các nhà bác học tính ra thì với một người nặng 65kg, giá trị của chúng chỉ đáng giá chưa tới 3$. 
Áp dụng: Đây là tình huống có chút khôi hài nhưng có thể giúp học sinh nắm được cơ bản thành phần nguyên tố trong cơ thể con người nhằm làm rõ thêm về quan điểm duy vật .
* Ví dụ 6: Vì sao phèn chua có thể làm trong nước?
Phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và kali ở dạng tinh thể ngậm nước:
[K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O]
Phèn chua không độc, có vị chua chát, ít tan trong nước lạnh nhưng tan nhiều trong nước nóng. Khi tan trong nước, phèn chua sẽ bị thủy phân và tạo thành Al(OH)3 ở dạng kết tủa keo lơ lững trong nước
Chính những hạt Al(OH)3 kết tủa dạng keo lơ lững ở trong nước này đã kết dính với các hạt bụi bẩn, các hạt đất nhỏ để trở thành hạt đất to hơn, nặng hơn và lắng xuống. Vì vậy mà nước trở nên trong hơn.
Áp dụng: Đây là một ứng dụng quan trọng của phèn chua trong đời sống nhất là đối với HS ở vùng hay xảy ra lũ lụt. 
* Ví dụ 7 Hàn the là chất gì?
Hàn the có thành phần chính là chất Natri tetraborat (hay là Borac), ở dạng tinh thể ngậm nước.Tinh thể trong suốt, tan nhiều trong nước nóng, không tan trong cồn 90o.
Trước đây, người ta thường dùng hàn the làm chất phụ gia cho vào giò lụa, bánh phở, bánh cuốn, để cho những thứ này khi ăn sẽ cảm thấy dai và giòn. Ngay từ năm 1985, Tổ chức Y tế thế giới đã cấm dùng hàn the làm chất phụ gia cho thực phẩm vì nó độc, có thể gây sốc, trụy tim, co giật và hôn mê.
Áp dụng: Hàn the là chất được dùng trong buôn bán nhưng đã bị cấm sử dụng từ lâu. Qua VD này HS hiểu rõ hơn về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.
* Ví dụ 8:Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?
Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO3 dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng:
Áp dụng: Vấn đề này giúp HS hiểu hơn tính thiết thực của Hóa học trong đời sống, khơi dậy sự yêu thích bộ môn hóa học đối với học sinh. 
* Ví dụ 9 Làm cá bớt tanh bằng phương pháp nào?
Khi nấu canh cá thì cho thêm chất chua (me, giấm,) để làm giảm mùi tanh của cá.
Chất chua (axit lactic có trong nước dưa, me, axit axetic có trong giấm, axit citric có trong chanh) nâng cao hương vị và hạn chế mùi tanh của cá.
Trong chất tanh của cá, có chứa hỗn hợp các amin [(CH3)2NH và (CH3)3N], có tính bazơ yếu.Các chất chua dùng để nấu canh cá đều là axit hữu cơ, chúng có phản ứng với các amin tạo thành muối. Do đó làm giảm hoặc làm mất vị tanh của cá.
Ví dụ: 
Áp dụng: Vấn đề này giúp HS hiểu hơn tính thiết thực của Hóa học trong đời sống.
* Ví dụ 10 Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, người ta thường ngửi thấy mùi khai?
Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu chất đạm, như: nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ, lượng Ure trong các chất hữu cơ sinh ra nhiều. Dưới tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, ure bị phân hủy thành CO2 và NH3.
Lượng NH3 sinh ra hoà tan trong nước dưới dạng một cân bằng động:
Như vậy, khi trời nắng (nhiệt độ tăng), cân bằng trên sẽ dịch chuyển theo chiều nghịch, tức là NH3 sinh ra do phản ứng phân hủy ure không bị hoà tan trong nước mà bị tách ra, bay vào không khí làm cho không khí xung quanh sông, hồ có mùi khai khó chịu.
Áp dụng: Vấn đề này giúp HS hiểu hơn tính thiết thực của Hóa học trong đời sống.
C/ KẾT LUẬN
Để có những tiết học đạt hiệu quả cao nhất luôn là niềm trăn trở, suy nghĩ là mục đích hướng tới của từng người giáo viên có lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp, nhưng đây không phải là điều đạt được dễ dàng. Người giáo viên phải nhận thức rõ vai trò là người “thắp sáng ngọn lửa” chủ động lĩnh hội tri thức trong từng học sinh . Trong nội dung đề tài mình, tôi đã đề cập đến một số vấn đề xung quanh cuộc sống và có ý nghĩa thực tiễn, thậm chí có thể gặp, tiếp xúc hàng ngày.Tôi hi vọng đây là vấn đề gợi mở ra một quan niệm trong dạy − học hoá học, mặc dù trong đề tài này tôi không thể đề cập mọi hiện tượng có liên quan. 
1/ Kết quả nghiên cứu:
Riêng bản thân tôi nhờ vận dụng phương pháp dạy “Nâng cao hiệu quả dạy và học môn hoá học bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học ” kết hợp với nhiều phương pháp khác, tôi đã đạt được một số kết quả nhất định.
Học sinh trở nên thích học hoá hơn, thích những giờ dạy của tôi nhiều hơn, thậm chí có cả những học sinh đã về nhà tự quan sát và tái tạo lại hiện
 tượng thức tế, rồi lại đến hỏi tôi.
Trong giờ học, tôi đã kết hợp hài hoà trong phong cách dạy của mình có thể làm cho giờ học mang không khí rất thoải mái, nhưng khả năng tiếp thu bài cũng rất tốt. Như tôi đã khẳng định: Thời gian giành cho vấn đề này là không nhiều nên cần phụ thuộc vào người dạy cần phải linh hoạt và khéo léo. Bất cứ một vấn đề gì nếu chúng ta quá lạm dụng thì đều không tốt.Vì thế tôi vẫn luôn nghĩ: Dạy như thế nào cho tốt là một điều không dễ.
2/ Kết quả đối chứng:
Thực tế giảng dạy cho thấy các lớp không hoặc ít áp dụng so với lớp áp dụng giải thích thường xuyên có sự khác nhau rõ rệt.
	Ví dụ: qua các năm học(2004-2011) từ việc giảng dạy ở trường tôi đã có số liệu cụ thể theo bảng sau:
Lớp
Mức độ
Kết quả
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu – Kém
9/1
Thường xuyên áp dụng
04
15
10
01
9/2
Có áp dụng
01
04
22
02
9/3
Ít áp dụng
00
05
19
05
3/ Kiến nghị, đề xuất:
Vấn đề đổi mới phương pháp trong giờ học trong trường phổ thông đang là vấn đề bức xúc. Để dạy hoá học trong nhà trường phổ thông có hiện quả tôi đề nghị một số vấn đề sau: 
Đối với giáo viên:Phải kiên trì, đầu tư nhiều tâm, sức để tìm hiểu các vấn đề hoá học,vận dụng sáng tạo phương pháp dạy hóa học, để có bài giảng thu hút được học sinh.
Đối với SởGD & ĐT: Cần trang bị cho giáo viên thêm những tài liệu tham khảo cần thiết để bổ sung, hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình giảng dạy. Với những sáng kiến kinh nghiệm tốt, theo tôi nên phổ biến để cho các giáo viên tham khảo và vận dụng. . 
Với thực trạng học hoá học và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, có thể coi đây là một quan điểm của tôi đóng góp ý kiến vào việc nâng cao chất lượng học hoá học trong thời kỳ mới.Mặc dù đã cố gắng song không thể tránh được các thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, của các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.Tôi xin chân thành cảm ơn!
Auynpa, ngày 01 tháng 10 năm 2011
Người viết đề tài
Nguyễn thị Kiều Diễm
PHỤ LỤC
 * Giải thích một số kí hiệu :
 : Phản ứng tỏa nhiệt
D: Khối lượng riêng
: Chất kết tủa
 : Chất bay hơi	
 tnc : Nhiệt độ nóng chảy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Sách giáo khoa hoá học lớp 8-9
[2] Phân phối chương trình môn hoá họcTHCS.
[3] Sách giáo viên hoá học lớp 8-9. (NXB GD)
[4] Tài liệu giáo khoa chuyên hoá học (Tập 1,2 NXB GD)
[5] Con người và những phát minh (Bách khoa thư chuyên đề – NXB GD 1998)
[6] Hóa học và ứng dụng.
[7] Từ điển hoá học phổ thông.

File đính kèm:

  • docSKKN hoa hoc.doc
Sáng Kiến Liên Quan