Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao chất lượng dạy và học luyện từ và câu ở lớp 2

Phần I : Đặt vấn đề

1- Lý do chọn đề tài

 Môn Tiếng Việt là môn học góp phần quan trọng trong việc giúp các em học các môn học khác. Dạy Tiếng Việt ở tiểu học là dạy phát triển ngôn ngữ cho người bản ngữ vì bản thân các em đã biết tiếng mẹ đẻ. Chúng ta cần dạy cho các em biết cách sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp trong môn Tiếng Việt ở tiểu học bao gồm nhiều phân môn như : tập đọc, chính tả, kể chuyện, tập làm văn, tập viết và luyện từ và câu. Mỗi phân môn đều có những vai trò quan trọng riêng. Nhưng phân môn luyện từ và câu là một phân môn mà tôi yêu thích nhất. Vì đây là phân môn đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển ngôn ngữ của học sinh nói chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng.

 

doc18 trang | Chia sẻ: binhthang88 | Ngày: 23/11/2017 | Lượt xem: 1047 | Lượt tải: 17Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao chất lượng dạy và học luyện từ và câu ở lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 tập 1: Điền vào ngoặc đơn ( ) dấu chấm hoặc dấu hỏi:
Nam nhờ chị viết thư thăm ông bà vì em mới vào lớp 1, chưa biết viết ( ) Viết xong thư, chị hỏi:
- Em có muốn nói thêm gì nữa không ( )
Cậu bé đáp:
Dạ có ( ) Chị viết hộ em vào cuối thư: “Xin lỗi ông bà vì chữ cháu xấu và nhiều lỗi chính tả”.
+ Đáp án bài tập 1:
Nam nhờ chị viết thư thăm ông bà vì em mới vào lớp 1, chưa biết viết (.) Viết xong thư, chị hỏi:
- Em có muốn nói thêm gì nữa không (?)
Cậu bé đáp :
Dạ có (.) Chị viết hộ em vào cuối thư : “Xin lỗi ông bà vì chữ cháu xấu và nhiều lỗi chính tả”.
Kết quả điểm bài tập 1
 Lớp
 Sĩ số
Số điểm và %
Điểm 9 - 10
Điểm 7 – 8
Điểm 5 – 6
Điểm dưới 5
 2D
 35
14
(39%)
10
(29%)
11
(32%)
0
(0%)
* Sau khi làm bài tập này, tôi thấy học sinh đều hiểu và nắm được yêu cầu của bài. Một số em trình bày bài sạch, đẹp, viết đúng chính tả.
- Dạng bài tập nhận biết dấu chấm, dấu hỏi học sinh đã làm quen từ đầu năm học đến bây giờ. Tuy nhiên còn một số em xác định dấu chấm chưa chính xác, các em còn nhầm lẫn giữa dấu chấm và dấu hỏi. Nguyên nhân dẫn đến sai sót này là do các em chưa nắm được khái niệm, không chịu khó làm bài tập và chưa chú ý nghe bài giảng trên lớp. Bên cạnh đó có một số em chưa xác định được câu để đặt dấu chấm hoặc dấu hỏi.
Bài tập 2: Chọn từ ngữ thích hợp rồi điền vào chỗ trống để tạo thành một câu hoàn chỉnh:
a/ Cháu ông bà
b/ Con  cha mẹ
c/ Em  anh chị
Đáp án bài tập 2:
a/ Cháu yêu thương kính yêu ông bà.
b/ Con thương yêu, yêu quý  cha mẹ.
c/ Em yêu quý, kính mến. anh chị.
Kết quả điểm bài tập 2
 Lớp
 Sĩ số
Số điểm và %
Điểm 9 - 10
Điểm 7 – 8
Điểm 5 – 6
Điểm dưới 5
 2D
 35
22
(71%)
8
(24%)
5
(15%)
0
(0%)
* Sau khi tìm được các từ ngữ nói về tình cảm như: yêu mến, thương yêu, kính mến, quý mến Học sinh vận dụng các từ ngữ đó để vào làm bài tập. Vậy để làm được bài tập này, đòi hỏi học sinh phải nắm chắc kiến thức về từ và câu. Học sinh phải xác định từ chính xác để điền vào chỗ trống thành câu hoàn chỉnh.
Ví dụ: Cháu yêu thương ông bà
- Nói chung các em hiểu bài và làm bài tập tốt, các em xác định đúng từ cần điền vào chỗ trống tương đối chính xác, nhiều em trình bày bài sạch sẽ cho nên điểm của các em khá cao.
- Tuy nhiên, bên cạnh đó một số em còn chưa xác định đúng từ để điền vào bài tập, có em nắm kiến thức chưa chắc nên khi làm bài tập còn tẩy xoá rất nhiều. Nhìn một cách tổng quát thông qua bài tập này tôi thấy học sinh nắm từ tương đối chắc và điền từ vào bài tập một cách chính xác, chứng tỏ ở bài tập này các em hoàn thành nó không mấy khó khăn.
Bài tập 3: Gạch một gạch dưới bộ phận câu trả lời câu hỏi Ai ? Gạch hai gạch dưới bộ phận câu trả lời câu hỏi làm gì?
Mẫu: Chi / đến tìm bông cúc màu xanh
a/ Cây xoà cành ôm cậu bé.
b/ Em học thuộc đoạn thơ.
c/ Em làm ba bài tập toán.
Đáp án bài tập 3:
a/ Cây / xoà cành ôm cậu bé.
b/ Em / học thuộc đoạn thơ.
c/ Em / làm ba bài tập toán.
Kết quả điểm bài tập 3
 Lớp
 Sĩ số
Số điểm và %
Điểm 9 - 10
Điểm 7 – 8
Điểm 5 – 6
Điểm dưới 5
 2D
 35
12
(35%)
17
(47%)
6
(18%)
0
(0%)
* Qua bài tập 3, tôi thấy học sinh đều hiểu và nắm được bài, học sinh trình bày bài sạch đẹp, trình bày bài khoa học.
- Dạng bài tập nhận biết về bộ phận câu này, học sinh bắt đầu làm quen từ đầu năm học nhưng còn một số em xác định từ, câu chưa chính xác. Qua bài tập này, tôi thấy việc nắm các câu chia theo mục đích nói của các em là rất tốt, gạch dưới các bộ phận câu chính xác.
4. Kết luận khảo sát
a. Ưu điểm của học sinh
Hầu hết học sinh đều có ý thức làm bài tập, có thái độ tích cực trong việc học và làm bài tập luyện từ và câu. Xét một cách toàn diện các em đều nắm được những kiến thức và kĩ năng cơ bản về luyện từ và câu. Các dạng bài tập cụ thể các em đều tự độc lập suy nghĩ làm bài theo đúng khả năng của mình, không nhìn bài của bạn.
Một số em làm bài tập đạt kết quả tương đối cao, biết cách trình bày bài và chữ viết sạch đẹp. Qua bài tập dùng từ đặt câu dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi học sinh đã bộc lộ tình cảm trong sáng của lứa tuổi học trò. Cụ thể là lứa tuổi tiểu học hồn nhiên các em đã thể hiện được tình cảm, đạo đức, tình yêu đồng loại và yêu quê hương đất nước qua các câu văn, bày tỏ được suy nghĩ, tư tưởng tiến bộ rất đáng trân trọng.
Đây là bước đầu học sinh tiếp xúc và làm quen với luyện từ và câu nên các bài làm của các em còn nhiều hạn chế và thiếu sót cả về kiến thức và kỹ năng.
b. Nhược điểm của học sinh
Do nhận thức của các em chủ yếu là cảm tính nên sự vận dụng vốn sống vào trong bài tập còn thiếu chính xác. Bên cạnh đó khả năng xác định từ, câu của học sinh còn kém, các em còn nhầm lẫn giữa dấu chấm và dấu chấm hỏi.
Từ việc làm bài tập của học sinh ta dễ dàng thấy được khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh là chưa cao, với bài tập đòi hỏi sự tư duy và sáng tạo thì kết quả làm bài tập của các em còn hạn chế.
c. Về kỹ năng của học sinh
Việc rèn luyện bốn kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh chưa thường xuyên vì vậy khả năng diễn đạt của các em chưa thực sự tốt ở cả hai mặt nói viết. Khi giao tiếp, tôi thấy học sinh nói chưa lưu loát. Đồng thời các em thường nói theo đúng suy nghĩ của mình.
Nhìn chung khả năng giao tiếp và nắm bắt của các em còn nhiều vấn đề cần bàn, phải tìm ra nguyên nhân và có những giải pháp hữu hiệu kịp thời để khắc phục những nhược điểm của học sinh.
III. Một số biện pháp trong giảng dạy Phân môn luyện từ và câu
1.Để có thể học tốt phân môn luyện từ và câu, ngay từ đầu tiết học người giáo viên phải khơi sự tò mò, hứng thú học cho các em bằng chính lời giới thiệu của mình.
Khi giới thiệu bài luyện từ và câu ở tuần 3: “Từ chỉ sự vật. Kiểu câu : Ai là gì?” Đây chính là bài học với chủ đề: Bạn bè. Giáo viên có thể hỏi: Trong tuần các em đã học những bài tập đọc nào nói về bạn bè? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên sẽ giới thiệu: Các con đã được học những bài tập đọc nói về tình bạn. Các con có biết từ chỉ sự vật là gì không? Và muốn nói theo kiểu câu : “Ai là gì?” con sẽ nói như thế nào. Hôm nay cô sẽ cùng các con tìm hiểu về từ chỉ sự vật và kiểu câu : Ai là gì?
Hoặc tôi có thể dùng tranh ảnh để giới thiệu bài nhằm gây hứng thú, tạo nhu cầu học bài ở học sinh.
Ví dụ: khi dạy bài ở tuần 26: “Từ ngữ về sông biển. Dấu phẩy” Tôi đã sưu tầm một số tranh ảnh về các loài cá nước ngọt và nước mặn. Sau đó giới thiệu cho học sinh biết đây là các loài cá nhưng để biết đâu là cá nước ngọt? Đâu là cá nước mặn? Chúng ta cùng nhau tìm hiểu qua bài học hôm nay.
2. Giáo viên cần phân ra các kiểu bài trong phân môn luyện từ và câu
a. Dạy bài lý thuyết về từ
ở lớp 2, có những bài dạy về lý thuyết từ như : Từ và câu, từ ngữ chỉ sự vật (Danh từ), từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái (động từ), từ ngữ chỉ đặc điểm, tình cảm (tính từ) Những bài học này là tổng kết những kiến thức được rút ra từ những bài tập học sinh được làm. Khác với chương trình lớp 2 cũ, chương trình lớp 2 mới học sinh được làm bài tập sau đó mới rút ra kiến thức trọng tâm của bài.
Dạy nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánh đối tượng của hiện thực trong nhận thức được ghi lại bằng tổ hợp âm thanh xác định, để làm tăng vốn từ cho học sinh, giáo viên cần phải cung cấp những từ mới bằng những tranh ảnh, hoạt động hay lời nói mà giáo viên đưa ra. Công việc đầu tiên của dạy từ là phải làm cho học sinh hiểu nghĩa của từ, hiểu được tầm quan trọng của việc dạy nghĩa của từ và nó còn là nhiệm vụ sống còn trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em.
Muốn thực hiện được điều này người giáo viên phải hiểu nghĩa của từ, phải biết giải nghĩa phù hợp với mục đích dạy, phù hợp với đối tượng học sinh. Giải nghĩa từ bằng trực quan là biện pháp giáo viên đưa vật thật, tranh ảnh giải nghĩa từ bằng trực quan chiếm vị trí quan trọng trong giải nghĩa từ ở tiểu học vì nó góp phần giúp học sinh hiểu nghĩa của từ một cách dễ dàng nhưng cách giải nghĩa này đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị khá công phu.
Ví dụ: Bài “Từ chỉ sự vật” (tuần 3) giáo viên phải giải nghĩa cho học sinh các từ chỉ sự vật như : bộ đội, công nhân, cây dừa, cây mía thông qua tranh và lời nói của giáo viên.
Ngoài ra, giáo viên còn phải giải nghĩa bằng ngữ cảnh, đó là đưa từ vào trong một nhóm từ, một câu, một bài để làm rõ nghĩa của từ trong ngữ cảnh. Giáo viên không cần giải thích mà nghĩa của từ tự bộc lộ trong ngữ cảnh.
Ví dụ: Bài “từ và câu” (tuần 1). Giải thích từ “nhà” giáo viên có thể đưa từ nhà vào trong câu: Nơi em ở là ngôi nhà ba tầng.
b. Dạy bài mở rộng vốn từ
Cơ sở của việc hệ thống hoá vốn từ là sự tồn tại của từ trong ý thức con người, từ tồn tại trong đầu óc con người không phải là những yếu tố rời rạc mà là một hệ thống. Chúng được sắp xếp theo một hệ thống liên tưởng nhất định giữa các từ này với từ khác có một nét gì chung khiến ta phải nhớ đến từ kia nên từ được tích luỹ nhanh chóng hơn. Từ mới có thể được sử dụng trong lời nói và khi sử dụng nhờ hệ thống liên tưởng, học sinh nhanh chóng huy động lựa chọn từ phù hợp với yêu cầu giao tiếp.
Với mục đích tích luỹ nhanh chóng vốn từ và tạo điều kiện để sử dụng từ một cách dễ dàng, giáo viên đưa ra những từ theo một hệ thống và đồng thời xây dựng một bài tập hệ thống hoá vốn từ trong dạy từ. ở lớp 2, các em được học từ theo chủ đề, cứ 2 tuần các em được học một chủ đề
Ví dụ: Tuần 21 và tuần 22 các em học chủ đề : “chim chóc” thì ở luyện từ và câu các em được học từ ngữ về chim chóc và mở rộng vốn từ các từ ngữ về loài chim.
Khi học sinh chưa nắm chắc từ thì giáo viên cần gợi ý từ và giúp học sinh hiểu được nghĩa của từ và nắm chắc hệ thống từ một cách thành thạo, biết dùng từ để đặt câu. Giáo viên cần định hướng những từ nhất định, cần thu hẹp phạm vi liên tưởng lại.
Ví dụ: Khi dạy bài : “Từ ngữ về các môn học” (tuần 7)
Giáo viên đưa ra những câu hỏi gợi từ để giúp học sinh nắm được hệ thống của từ trong chủ đề “thầy cô” như :
- Những môn nào em được học nhiều nhất? (môn Toán và Tiếng Việt)
- Ngoài ra em còn học những môn học nào khác nữa? (Tự nhiên – xã hội, đạo đức, nghệ thuật)
- Trong môn Tiếng Việt em học gồm có những phân môn nào? (Tập đọc, chính tả, luyện từ và câu, tập viết, kể chuyện, tập làm văn)
- Trong môn nghệ thuật em thấy có những phân môn nào? (Thủ công, âm nhạc, mĩ thuật)
- Sau đó giáo viên dùng những tấm bìa khác màu để phân biệt các môn học.
Giải các bài tập hệ thống hoá vốn từ, học sinh sẽ xây dựng được những nhóm từ khác nhau. Để hướng dẫn học sinh làm những bài tập này giáo viên cần có vốn từ cần thiết và phân biệt được các loại từ.
Ví dụ: Chọn từ ngữ thích hợp rồi điền vào chỗ trống để tạo thành một câu hoàn chỉnh:
a/ Cháu ông bà
b/ Con  cha mẹ
c/ Em  anh chị
- Giáo viên phải xác định cho học sinh ở bài tập này phải điền những từ ngữ nói về tình cảm mà các em đã được học.
- Sau đó học sinh có thể điền nhiều từ có nghĩa tương tự nhau như câu a.
Cháu ông bà (học sinh có thể điền : kính yêu, kính trọng)
Dạy bài tích cực hoá vốn từ
Dạng bài tập này không chỉ giúp học sinh nắm được nghĩa mà còn làm rõ khả năng kết hợp từ. Những bài tập được sử dụng ở lớp 2 là bài tập điền từ, bài tập đặt câu, bài tập tạo từ
Ví dụ: Bài “Từ ngữ về tình cảm” (tuần 12)
Dùng mũi tên ( à) nối các tiếng sau thành những từ có hai tiếng rồi ghi các từ tìm được vào dòng dưới.
 Yêu
thương
 quý
 kính
 mến
- Giáo viên hướng dẫn học sinh bằng cách : Hướng dẫn các em tạo các từ theo từng tiếng dưới dạng sơ đồ cây. Như tiếng “yêu” ta có các từ : yêu thương, yêu quý, yêu mến tương tự như vậy học sinh sẽ tạo các từ tiếp theo.
Với các dạng bài tập này giáo viên cần cho học sinh phân tích đề bài một cách rõ ràng. Khi cần giáo viên có thể giải thích để các em nắm được yêu cầu của bài tập. Khi hướng dẫn học sinh làm bài tập, giáo viên phải nắm chắc trình tự giảng bài, cần có những dự tính cho những tình huống và những lỗi học sinh mắc phải khi giải bài tập để sửa chữa kịp thời.
Ví dụ: Khi dạy bài : “Từ ngữ về muông thú” (tuần 23)
- Sau khi dạy xong bài, phần củng cố giáo viên yêu cầu học sinh các nhóm tìm tên các con thú nguy hiểm và thú không nguy hiểm thì lúc đó có học sinh nêu: Con rắn
- Khi đó, giáo viên phải giải thích cho học sinh hiểu rắn không phải là loài thú mà là loài bò sát nên kể tên rắn vào đây là sai.
Cuối cùng giáo viên phải kiểm tra, đánh giá nhắm kích thích hứng thú học tập của học sinh. Muốn cho học sinh một mẫu sản phẩm tốt nhất thì người giáo viên phải chuẩn bị mẫu lời giải đúng và dùng nó đối chiếu với bài làm của học sinh. Với những bài làm sai giáo viên không nhận xét chung mà chỉ rõ bài học sinh sai ở đâu và chuyển từ lời giải sai sang lời giải đúng.
d. Dạy bài khái niệm câu
Quá trình hình thành khái niệm câu có thể chỉ ra theo các bước sau:
Đưa ngữ liệu và phân tích ngữ liệu với mục đích làm rõ những dấu hiệu bản chất của khái niệm.
Khái quát hoá dấu hiệu thiết lập quan hệ giữa các dấu hiệu của khái niệm đưa thuật ngữ (học sinh nắm thao tác so sánh và tổng hợp)
Để chuẩn bị dạy khái niệm câu giáo viên cần đặt trong hệ thống chương trình để thấy rõ vị trí của nó đồng thời phải nắm chắc nội dung khái niệm. Đây chính là nội dung mà giáo viên cần đưa đến cho học sinh.
Do tính chất thực hành cũng như để phù hợp với đối tượng học sinh nhỏ tuổi theo mỗi giáo viên khi dạy cần tự lập một bảng ghi rõ thứ tự các khái niệm câu được dạy để thấy được cái nhìn tổng quát và chính xác.
Như vậy, để thực hiện giảng dạy phần khái niệm câu trong một bài, giáo viên cần linh hoạt sử dụng kết hợp các phương pháp như: trực quan, hỏi đáp, để phân tích, so sánh và giảng giải để rút ra kiến thức của bài học.
Mục đích cuối cùng của việc dạy khái niệm câu trong nhà trường là sử dụng chúng một cách có ý thức để thực hiện chính xác tư tưởng, tình cảm trong hình thức nói và viết. Vì vậy, thực hành câu nhất thiết phải được dạy một cách có định hướng, có kế hoạch thông qua hệ thống bài tập câu.
Các bài tập nhận diện, phân tích trong quá trình hướng dẫn học sinh làm bài tập giáo viên cần đặt ra những câu hỏi thích hợp đối với mỗi thành phần học sinh nhận diện ra chúng. Những bài tập xây dựng tổng hợp chủ yếu nằm ở cấp độ câu, nó được xây dựng thành nhóm:
Nhóm các bài tập theo mẫu gồm:
- Bài tập viết theo mẫu làm rõ ý nghĩa của câu
- Trả lời câu theo mẫu có sẵn.
Nhóm các bài tập này, giáo viên đưa ra các ví dụ và làm mẫu. ở đây ví dụ phải là mẫu đích thực và câu hỏi cần dần dần tăng độ khó.
Ví dụ: Khi dạy câu kiểu : Ai / là gì ? Trước khi vào bài dạy giáo viên cần phân tích mẫu, cho học sinh lấy ví dụ theo câu kiểu Ai / là gì ? Sau đó mới đi vào thực hành nói và viết theo câu kiểu Ai / là gì ?
Câu kiểu Ai / là gì ? tức là giới thiệu về người, vật  nào đó.
Ví dụ: 	- Lan / là học sinh lớp 2A (Ai / là gì ?)
	 Ai 	là gì
- Điện thoại / là phương tiện thông tin nhanh nhất (Cái gì / là gì ?)
 Cái gì	là gì
- Cò và Vạc / là đôi bạn thân (con gì / là gì?)
 	 Con gì	 là gì
Sau đó giáo viên cho học sinh thực hành với bài tập sau:
Bài tập 1: Đặt câu theo mẫu dưới đây rồi ghi vào chỗ trống:
 Ai (hoặc cái gì, con gì)
 là gì ?
Mẫu: Bạn Vân Anh
.
là học sinh lớp 2A
Bài tập 2: Ghi từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để tạo thành câu:
 Ai (hoặc cái gì, con gì)
 Là gì ?
 Em
.
.
Là đồ dùng học tập thân thiết của em.
Các nhóm bài tập sáng tạo gồm các dạng bài tập như sau: bài tập biến dạng các kiểu câu, bài tập xác định dấu câu và tự viết hoa, bài tập xây dựng theo cấu trúc đã cho, bài tập cho trước đề bài yêu cầu đặt câu, bài tập dựa vào tranh để đặt câu, cho từ yêu cầu đặt câu Với nhóm bài tập này giáo viên cần đưa tranh để phân tích chủ đề và làm mẫu Hướng dẫn học sinh làm bài và bổ sung thêm để có những câu văn hay đủ độ lớn, có cấu trúc đầy đủ và có sức biểu hiện đồng thời dùng phương pháp trò chơi để kích thích sáng tạo, thi đua học tập của học sinh.
Giáo viên cần phải có nội dung rõ ràng về số lượng bài tập nhiều tiết không thể sử dụng hết bài tập trong sách học sinh mà phải lựa chọn hoặc làm phiếu bài tập để giảm bớt thời gian làm bài tập, tích cực hoá hoạt động của học sinh.
Khâu tổ chức làm bài tập giáo viên phải nắm được trình tự làm bài tập và dự tính được những câu trả lời của học sinh và những sai phạm mà các em có thể mắc phải để chuẩn bị sẵn phương án sửa chữa khi học sinh không giải được bài tập thì giáo viên phải cắt nhỏ từng bước để sửa sai cho học sinh.
Phải dành thời gian đúng mức cho khâu kiểm tra, đánh giá. Có thể cho học sinh kiểm tra lẫn nhau, đánh giá không nhất thiết phải cho điểm nhưng có mẫu lời giải đúng để học sinhh tự đối chiếu, đánh giá bài làm của mình.
3. Để việc dạy và học phân môn luyện từ và câu được tốt, tôi còn quan tâm tới một số điểm sau:
Giáo viên phải thường xuyên trau dồi kiến thức, lập bảng chương trình để thấy được mối quan hệ và mức độ yêu cầu của mỗi bài học.
Các bài tập cần phải phù hợp với đối tượng học sinh, giáo viên cần linh hoạt sử dụng các bài tập thiết thực có tác dụng trực tiếp đối với học sinh.
Đối với mỗi dạng bài tập cần có tài liệu tham khảo cho cả giáo viên và học sinh nhằm bổ sung kiến thức và mở rộng tầm hiểu biết. Tư duy của học sinh tạo cho các em có cơ sở để phát triển óc sáng tạo, trí tưởng tượng phong phú.
Ví dụ: Khi dạy các tiết hướng dẫn TH Tiếng Việt vào buổi chiều, với bài “Ôn các từ ngữ về loài chim” tôi đã đưa ra các câu hỏi về loài chim. Sau đó yêu cầu học sinh giải thích và nêu đặc điểm của các loài chim đó. Như:
Câu đố thứ nhất:
Con gì nho nhỏ
Cái mỏ xinh xinh
Chăm nhặt, chăm tìm
 	Bắt sâu cho lá
Con chim sâu –
Câu đố thứ hai:
Mỏ dài lông biếc
 	 Trên cành lặng yên
Bỗng vút như tên
Lao mình bắt cá
Là con chim gì?
Chim bói cá -
Câu đố thứ ba:
Mỏ cứng như dùi
 Gõ luôn không mỏi
Cây nào sâu đục
 Có tôi ! Có tôi !
Chim gõ kiến –
Câu đố thứ tư:
Con gì đậu ở trên cao
Cúc cu gáy rộn đón chào nắng mai
Chim cu gáy – 
Sau khi học sinh đã giải xong câu đố về loài chim, giáo viên hỏi: Dựa vào các câu đố ở trên con hãy nêu đặc điểm của con chim sâu, chim bói cá, chim gõ kiến, chim cu gáy?
Việc rèn luyện các kỹ năng: nghe, đọc, nói và viết cần đưa vào phân môn luyện từ và câu một cách đầy đủ hơn và thường xuyên hơn. Nhất là hai kỹ năng nói và viết. Cần chú ý sửa nói ngọng cho học sinh, sửa những lỗi chính tả cho học sinh và luyện cho các em viết các câu văn hay và nội dung đảm bảo về mặt hình thức.
Phần III : Kết luận
Phân môn luyện từ và câu có một vị trí rất quan trọng cho việc phát triển văn hoá của đất nước, bởi vì một đất nước phát triển thì trước tiên con người phải phát triển. Cho nên việc rèn luyện từ và câu cho học sinh là thiết thực mang đầy đủ ý nghĩa.
Thực tế cho thấy trong phân môn luyện từ và câu thì kỹ năng dùng từ để đặt câu là rất cơ bản và trọng tâm của môn Tiếng Việt. Muốn làm bài tập luyện từ và câu đúng và không sai yêu cầu học sinh phải nắm chắc lý thuyết và các quy tắc, định nghĩa, kỹ năng làm bài tập.
Qua kết quả thực nghiệm và thực tế giảng dạy phân môn luyện từ và câu ở lớp 2, tôi thấy để tiết dạy có kết quả tốt cần thực hiện tốt các giải pháp:
1. Soạn bài các tiết luyện từ và câu thật cẩn thận và có chất lượng.
2. Thường xuyên đọc các tài liệu, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, trau dồi kiến thức phân môn luyện từ và câu với các đồng nghiệp.
3.Tổ chức học tập bằng nhiều hình thức: học cá nhân, học nhóm, hái hoa dân chủ đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh.
4. Sử dụng đồ dùng trực quan, làm tranh minh hoạ để tạo hứng thú học tập cho học sinh và nhớ nhanh nội dung bài học.
5. Dùng hệ thống câu hỏi gợi mở giúp học sinh tìm được những từ có nghĩa để đặt câu.
6. Cần quán triệt phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, coi học sinh làm chủ thể của hoạt động nhận thức, biến các em thành người chủ động trong quá trình học tập, lĩnh hội tri thức. Các em phải hoàn toàn tự mình tham gia mọi hoạt động nhận thức và giao tiếp.
Sau khi thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy học sinh không những học tốt phân môn luyện từ và câu mà còn học tốt cả những phân môn khác trong môn Tiếng Việt như : tập đọc, tập làm văn
Trên đây là một số sáng kiến thực hiện đề tài của tôi nhằm thực hiện đúng đổi mới phương pháp dạy học môn luyện từ và câu lớp 2 và nâng cao chất lượng dạy học để đạt kết quả cao.

File đính kèm:

  • docSANG KIEN KINH NGHIEM LOP 2- luyen tu va cau.doc
Sáng Kiến Liên Quan