Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh

- Giáo viên thực sự yêu nghề mến trẻ, có năng lực sư¬ phạm, nắm chắc chuyên môn .

- Có sự hiểu biết về kỹ năng dạy trẻ làm quen với môi trư¬ờng sung quanh .

- Có sự sáng tạo trong mỗi tiết dạy, luôn có sự đổi mới trong ph¬ương pháp dạy trẻ

- Th¬ường xuyên rèn luyện bản thân, kỹ năng dạy, thao tác, rèn luyện giọng nói

- Đồ dùng dạy trẻ phong phú sáng tạo hấp dẫn với trẻ .

- Làm tót công tác tuyên truyền với các bậc phụ huynh .

- Luôn tạo đ¬ược môi tr¬ường học mà chơi, chơi mà học .

- Chú ý rèn trẻ ít nói, chậm hiểu có ph¬ương pháp h¬ướng dẫn cụ thể .

 

doc15 trang | Chia sẻ: duycoi179 | Ngày: 01/04/2016 | Lượt xem: 18869 | Lượt tải: 220Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
về cơ sở vật chất.
Nếu giáo viên không quan tâm tạo điều kiện học tập cho trẻ, không sáng tạo trong việc tổ chức, tổ chức tiết dạy nhằm làm cho trẻ hứng thú, tập chung chú ý vào tiết học thì hiệu quả không cao. 
 Trên thực tiễn hiện nay các tiết học “ LQ với môi trường xung quanh cho trẻ 4- 5 tuổi còn rất tẻ nhạt, giáo viên ngại dậy trẻ chưa có hứng thú học tập “ vì vậy việc sử dụng những thủ thuật gây hứng thú cho trẻ nhằm nâng cao tiết học “ LQ với môi trường xung quanh” là rất cần thiết, chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài này .
II / Mục đích nghiên cứu
Trong công tác giáo dục trẻ mầm non thì việc cho trẻ làm quen với môi trường xung là không thể thiếu. Môi trường xung quanh có tác dụng giáo dục về mọi mặt đối với trẻ như là: ngôn ngữ, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể lực ... Làm quen với môi trường xung quanh là phương tiện để giao tiếp và làm quen với môi trường xung quanh để giao lưu và bầy tỏ nguyện vọng của mình và đồng thời là công cụ của tư duy. Vì vậy các nhà giáo dục sử dụng nhiều phương pháp để cho trẻ tiếp cận với thể giới xung quanh .
III / Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua đề tài nghiên cứu giúp giáo viên có những định hướng phù hợp trong công tác chăm sóc cho trẻ mầm non ở độ tuổi 4 - 5 tuổi sau khi vận dụng đề tài sẽ góp phần đắc lực cho quá trình hình thành nhân cách cho trẻ.
IV/ Đối tượng nghiên cứu 
Căn cứ vào yêu cầu của đề tài, tôi chọn đối tượng nghiên cứu là trẻ Mầm Non 4 – 5 tuổi trường Mầm Non An Tường
V / Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu 
Trong phạm vi khả năng và trách nhiệm của mình . Tôi vận dụng vấn đề mà bài viết này đề cập đến chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non từ 4 - 5 tuổi ở chính đơn vị trường tôi dang công tác . 
Đề tài được tiến hành trong một năm học, từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015 tại lớp Mẫu giáo 4 tuổi A của trường Mầm Non An Tường.
VI / Phương pháp nghiên cứu 
Trước hết bản thân phải nhận định được tình hình chung của đối tượng nghiên cứu,sau đó đọc, phân tích, tổg hợp tài liệu tham khảo. Để xây dượng đề cương sáng kiến, áp dụng sáng kiến và hoàn thành sáng kiến.
VII / Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm
A. Đặt vấn đề
B. Nội dung
C. kết luận
B – NỘI DUNG
I – TÌNH HÌNH THỰC TẾ
1/ Tình trạng trước khi thực hiện đề tài 
a. thuận lợi : 
Được sự quan tâm của Phòng GD - ĐT, thường xuyên tâm bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên .
Bản thân luôn yêu nghề mến trẻ, ham học hỏi nâng cao chuyên môn. Tìm tòi và tự làm một số đồ dùng, đồ chơi để phục vụ tiết dạy vào hoạt động vui chơi của trẻ .
Trẻ ở gần trường nên rất chăm đi lớp .
b. Khó khăn:
Cơ sở vật chất thiếu thốn, phòng học chật hẹp, đồ dùng phục vụ tiết dạy còn rất thiếu thốn như : những vật mẫu, những con vật thật, đồ vật ...
Góc tự nhiên còn nghèo, số cây ít, loại cây chưa phong phú, đồ chơi, đồ dùng còn ít ...
Số trẻ ở lớp chưa qua nhóm lớp nhà trẻ, trẻ đến lớp 4 - 5 tuổi chiếm 80 % , khả năng trẻ tiếp thu chậm .
Vốn hiểu biết về môi trường xã hội còn hạn chế .
Đồ dùng phục vụ tiết dạy còn nghèo nàn, đồ chơi của trẻ cũng rất ít, thiếu những hình ảnh đẹp, sinh động để trẻ quan sát .
2- Số liệu điều tra trước khi thực hiện 
Trước khi thực hiện đề tài tôi đã có những tiết cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh, tôi thấy vốn biểu tượng về thế giới xung quanh của trẻ còn ít , đặc biệt trẻ rất rễ nhầm lẫn, khi gọi tên các con vật.
 ví dụ như : Tất cả các con vật biết bay, trẻ đều gọi là chim mà không gọi được đó là chim én hay chim bồ câu ... Mặt khác khả năng quan sát, phân loại của trẻ gặp rất nhiều khó khăn, số liệu cụ thể qua từng tiết dạy được tổng hợp trong bảng sau : 
Bảng 1: Kết quả tổng kết khả năng quan sát, So sánh, phân loại vật mẫu của trẻ 
( Tổng số trẻ là 41)
STT
Kỹ năng quan sát, tìm ra đặc điểm,
khả năng so sánh, phân loại
Kết quả
Số lượng
Tỷ lệ %
1
Loại tốt 
8
20
2
Loại khá 
10
24
3
Loại TB
18
44
4
Loại yếu 
5
12
Từ kết quả như trên, tôi luôn băn khoăn suy nghĩ tìm nhiều biện pháp để tiết dạy “ LQ với môi trường xung quanh ” đạt hiệu quả cao hơn. Từ đó nâng dần khả năng quan sát, so sánh và phân loại cho trẻ, làm phong phú biểu tượng về môi trường xung quanh trong mỗi trẻ .
Dựa vào vốn kiến thức đã học và được bồi dưỡng chuyên môn, tôi đã tìm ra một số biện pháp sau :”
II . NỘI DUNG THỰC HIỆN
Sau một năm thực hiện đề tài , tôi đã sử dụng một số biện pháp sau :
Xây dựng cơ sở vật chất 
Bổ sung đồ dùng, đồ chơi để tiết dạy thêm sinh động, hấp dẫn .
Xây dựng góc ( bé với thiên nhiên ) 
Làm giầu vốn biểu tượng về môi trường xung quanh .
Rèn trẻ thông qua tiết dạy .
Nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh và phân loại 
Kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh để đạt hiệu quả dạy trẻ cao nhất III. NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Xây dựng cơ sở vật chất 
Đồ dùng trực quan, đồ chơi phục vụ tiết học như: Bàn, ghế, bảng, tranh, mô hình, các từ gắn với mỗi hình ảnh, vật mẫu ... Cần phải đầy đủ cho cô và trẻ cùng hoạt động .
Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp, hấp dẫn, phong phú sinh động nhằm kích thích hứng thú,tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ, tôi thường sử dụng đồ thật, vật thật hoặc hình ảnh động cho tiết học để học sinh học .
Dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ, tôi đề nghị với BGH nhà trường trang bị thêm thiết bị, đồ dùng dạy học như: Bảng, tranh ảnh , lôtô , và với mỗi tiết cần có đồ dùng để phục vụ thật đầy đủ .
Với các bậc phụ huynh vận động họ mua thêm đồ dùng, tranh, truyện, đặc biệt là tranh, sách, ảnh về các con vật, cây cối, hoa lá, quả ,... Sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ, đồng dao để làm phong phú vốn hiểu biết về môi trường xung quanh của trẻ . 
Với chính bản thân mình tôi tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn ở địa phương như : vải vụn, coọng rơm khô, lá khô, hoa ép khô, vỏ cây khô để làm tranh ảnh cho tiết dạy. Sưu tầm các loại hạt, các loại vỏ trai ốc, hến sò ... để bổ xung làm ra đồ chơi của trẻ . 
2. Bổ xung đồ chơi 
Được nhà trường cấp cho tranh dạy môi trường xung quanh, lô tô các loại... Ngoài ra tôi còn tự làm đồ dùng phục vụ tiết dạy, các loại tranh ảnh, hình ảnh, các con vật, cây cỏ, hoa lá ... Sưu tầm tranh có hình ảnh đẹp xử dụng trong việc cho trẻ LQ với môi trường xung quanh. Tận dụng các hình ảnh ở đốc lịch, bìa, hoạ báo, ảnh cũ ... Vừa trang trí lớp vừa làm đồ dùng đồ chơi .
Tôi tận dụng bìa cát tông có dây dật thật sinh động, hấp dẫn, gây hứng thú với trẻ. Sau đó để trẻ tự điều khiển, để trẻ biết con vật này có chân hay có cánh, có chân thì biết chạy có cánh thì biết bay .
Tôi để cho trẻ tự làm một sản phẩm như tranh vẽ về các con vật, cỏ cây ,hoa lá, hoặc các sản phẩm nặn những đồ vật xung quanh trẻ , các sản phẩm tạo hình, tranh từ những phế liệu, cô và trẻ cùng làm thể hiện vốn hiểu biết phong phú của trẻ về MTXQ .
Tôi sưu tầm những bài thơ về môi trường xung quanh, sau đó dùng hình ảnh minh hoạ và có chữ viết đi cùng. Vừa giúp trẻ củng cố hình ảnh vừa để trẻ rèn luyện ngôn ngữ. Từ đó tư duy của trẻ cũng phát triển .
Với những đồ dùng, đồ chơi được phát và tự làm khi tôi đưa vào sử dụng trong tiết dạy môi trường xung quanh, tôi thấy trẻ rất hào hứng, hứng thú học, trẻ hiểu biết nhiều, quan sát rất tốt, tìm rất nhanh các vật mẫu cô đưa ra, so sánh và phân loại cũng rất rõ ràng, rành mạch, ngôn ngữ rất phát triển, trẻ thuộc rất nhiều thơ ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các câu đố về các con vật, các cây hoa, các loại quả ... Tư duy của trẻ cũng nhanh và chính xác hơn .
3. Xây dựng góc “bé với thiên nhiên ” 
Góc thiên nhiên là nơi dành cho các hoạt động chăm sóc cây cối: Nhặt cỏ ,bắt sâu, tưới nước, ngoài ra còn là nơi tìm đọc các loại sách về thiên nhiên, các tranh ảnh về thế giới tự nhiên .
Tôi xây dựng góc thiên nhiên có các cây xanh như: cây vạn niên thanh , cây hoa hồng  Dàn dây leo .
Tôi bố trí giá sách chủ yếu là sách vẽ con vật, cây cối, hoa lá, quả hạt  Tranh ảnh vừa tầm với của trẻ để trẻ có thể xem và đọc sách ( có que chỉ cho việc đọc sách ) Đọc sách theo từng chữ, từng dòng, tôi sắp xếp các hộp đựng vỏ cây khô hoa lá ép khô, các loại hạt  Có gắn nhãn mác và hình ảnh rõ ràng để trẻ rễ nhận thấy, trẻ được chơi và làm được những sản phẩm từ những dồ chơi ấy . ngoài ra tôi cũng dùng vỏ hến, ốc trai, sò  vỏ trứng vệ sinh sạch sẽ vừa làm đồ dùng, đồ chơi phong phú vừa rẻ tiền vừa rễ kiếm 
Các tranh, lô tô đều đợc phân loại để ở giá vừa rễ lấy, rễ tìm .
Ví dụ : Tôi phân loại lô tô : 
- Lô tô con vật xếp vào một ô .
- Lô tô các loại quả xếp vào một ô 
Đối với tranh đều có chữ cái tương ứng ở dưới cũng được phân loại xếp gọn gàng và rễ kiếm .
4. Làm giầu vốn hiểu biết về môi trường xung quanh
Biểu tượng về thế giới sung quanh, đa đến với trẻ qua nhiều hình thức :
Câu đố, bài hát, ca dao, tục ngữ, đồng dao, tranh ảnh, đồ vật, vật thật  Giúp trẻ không bị nhàm chán, lại rễ tiếp thu để trẻ ghi nhớ và chính xác hoá thành biểu tượng của mình .
Ví dụ : Cho trẻ làm quen với con cua : 
“ Con gì tám cẳng hai càng.
Đầu thì không có bò ngang cả đời ”
Trẻ đoán ngay được đó là con cua . Nhưng trong đầu trẻ biểu tượng về con cua được chính sác là con cua có hai càng to, có tám chân này, lại bò ngang nữa .
Cho trẻ làm quen với con cá, tôi dùng câu đố .
“Con gì có vẩy có vây
Không đi trên cạn mà đi dưới hồ ”
Trẻ trả lời đó là con cá. Nhưng trẻ lại biết thêm con cá có đặc điểm cụ thể, có vây có đuôi, vẩy, môi trường sống của chúng
Từ đó trẻ có thể so sánh xem con cá và con cua có đặc điểm gì giống nhau ,có đặc điểm gì khác nhau ? Sau đó trẻ có thể phân nhóm .
Ngoài ra tôi còn dùng cách khác để vào bài cung cấp biểu tượng thế giới sung quanh cho trẻ, qua hình ảnh mô hình, con vật thật 
5. Rèn trẻ thông qua tiết dạy 
Vì cho trẻ LQVMTXQ, nên trong mỗi tiết với mỗi mẫu vật, hay tranh ảnh, tôi đều cho trẻ quan sát kỹ, cho trẻ đưa ra nhiều ý kiến nhận xét để tìm ra đầy đủ và chính xác đặc điểm vật mẫu .
Ví dụ: Làm quen với con cua, trẻ đã tìm được đặc điểm của con cua có hai càng to, tám chân  Sau đó đặt câu hỏi gợi mở
 các con có biết con cua nó đi như thế nào không ? 
Trẻ trả lời được là con cua bò ngang, tôi dùng que chỉ rõ, cua có mai cua ,yếm cua cứng để bảo vệ cơ thể chúng.
Đây là hai cái càng to của con cua, và đây là tám cái gì đây cac con ? 
Tôi còn cho trẻ đếm số chân của nó.
Như vậy không những trẻ biết được cua có những đặc điểm gì mà trẻ còn biết môi trường sống của chúng, cách vận động (Đi như thế nào ? ) các bộ phận cơ thể ra sao. Nắm rõ đặc điểm trẻ quan sát rễ hơn, từ đó so sánh rất rõ ràng và phân loại cũng rất tốt .
Trong tiết dạy môi trường xung quanh tôi lồng ghép thích hợp các môn khác như :” Toán , âm nnhạc, tạo hình,văn học  để trẻ thêm hứng thú, ghi nhớ tốt hơn, hiểu vấn đề sâu và rộng hơn .
Ví dụ : Trong tiết dạy làm quen với động vật sống dưới nước .
Tôi cho trẻ thi “ đố vui ” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu đố đội bạn . 
“ Nhà hình soán nằm ở dước ao
Chỉ có một cửa ra vào mà thôi
Mang nhà đi khắp mọi nơi
Không đi đóng cửa nhỉ ngơi một mình .”
( con ốc )
Con gì đầu bẹp 
Hai ngạnh hai bên
Râu ngắn vểnh lên
Mình trơn bóng nhẵn
( con cá trê)
Như vậy trẻ được câu đố rất vui vẻ hào hứng, kích thích tư duy, làm phong phú vốn từ và ngôn ngữ mạch lạc . . Trong tiết dạy tôi cũng lồng ghép toán sơ đẳng, LQ với con cua, cô và trẻ cùng đếm số chân cua .
Tôi đưa âm nhạc xen kẽ giữa các phần chuyển tiếp trong tiết dạy để tiết dạy thêm hào hứng, sôi động .
Trong tiết dạy tôi cũng kích thích khẳ năng sáng tạo nghệ thuật của trẻ bằng cách gắn hoặc dán để hoàn thiện bức tranh .
Tôi thường tổ chức các trò chơi trong tiết học. Các trò chơi động, trò chơi tĩnh đan xen nhau để tạo hứng thú, tiết dạy vui tươi, trẻ thêm phần hoạt bát nhanh nhẹn .
Với mỗi hình ảnh cho trẻ làm quen đều có từ tương ứng ở dưới để rễ nhận biết được chữ cái mình đã học .
6. Nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh và phân loại ở trẻ 
Biết được kỹ năng và nghệ thuật dậy trẻ làm quen với MTXQ cũng chưa thật sáng tạo, nên bản thân tôi kắc phục bằng cách: Thường xuyên học tập bạn bề đồng nghiệp, luyện tập giọng nói sao cho thật chuyền cảm, tác phong dạy sao cho nhẹ nhàng, linh hoạt .
Về kiến thức phải nắm vững phương pháp dạy, cung cấp cho trẻ kiến thức dù đơn giản  nhưng cũng phải thật chính xác .
 Tận dụng mọi thời gian để tự rèn luyện mình, dù ở lớp hay ở nhà .
Sử dụng bộ tranh cho trẻ LQVMTXQ , theo nội dung từng bài, theo đúng chương trình .
 Luôn lắng nghe, tiếp thu ý kiến nhận xét của BGH sau mỗi tiết dạy, để từ đó phát huy những mặt tốt, khắc phục những hạn chế .
+ Về cách tiến hành :
Với mỗi bài tuỳ thuộc vào đối tượng cho trẻ làm quen, tôi tìm những cách vào bài khác nhau để gây sự chú ý, tò mò của trẻ. có thể dùng câu đố, bài hát  Để trẻ nhận biết đối tượng bằng tranh ảnh và đồ vật, vật thật và mô hình .
Với mỗi đối tượng trẻ được làm quen, trẻ được quan sát thật kỹ, trẻ biết đa ra ý kiến nhận xét của mình, cùng với đó là câu hỏi gợi mở của cô, cứ mỗi lần làm quen như vậy tôi lồng ghép nội dung giáo dục vào bài. Trẻ không những hiếu về vật đó mà còn có cách ứng xử, hành động với chúng .
Sau khi trẻ được làm quen 3 – 4 đối tượng( trong 1bài ) tôi cho trẻ so sánh 2 đối tượng một, để trẻ có thể rễ ràng hoàn thành nhiệm vụ phân loại trong các trò chơi. 
Tổ chức các trò chơi trong mỗi tiết đạt, tôi tổ chức đan xen trò chơi động với trò chơi tĩnh, làm cho không khí tiết dạy vui tơi hào hứng và hiệu quả .
Trong các tiêt học khác tôi cũng lồng ghép kiến thức môi trường xung quanh để củng cố vốn hiểu biết về biểu tợng đã có của trẻ 
 Ví dụ : Chọn tiết làm quen với con vật sống trong rừng
Cô đưa tranh hình “con voi ” Cô và trẻ cùng đàm thoại về con voi để trẻ biết được hình dạng ,môi trường sống , thức ăn và cách vận động của nó 
Trong hoạt động khác của trẻ, tôi có thể cung cấp kiến thức cũ, tận dụng mọi lúc, mọi nơi để giáo dục trẻ .
Trong hoạt động góc, trẻ đợc chơi ở góc thiên nhiên. trẻ tưới cây, nhặt lá, bắt sâu, xem sách về môi trường xung quanh. đặc biệt trẻ được chơi nhiều đồ vật thật, khi được hoạt động nhiều với đồ vật thật, trẻ được nhìn, sờ, nắn, ngửi  Từ đó có hình ảnh chọn vẹn về những gì xung quanh trẻ, không thế mà tôi còn phát huy tính sáng tạo của trẻ bằng cách cho tẻ làm tranh từ nguyên liệu thiên nhiên như : Hoa, lá ép khô, vỏ cây, coọng rơm, vỏ thuỷ sản 
Qua các buổi dạo chơi, thăm quan, hoạt động ngoài trời, dã nngoại  khi trẻ quan sát tôi hướng trẻ sử dụng mọi giác quan để trẻ có thể chỉ ra chọn vẹn đối tượng đó .
Ví dụ: Cô và trẻ quan sát cây hoa hồng , hớng trẻ nhận biết màu sắc cánh hoa. Cho trẻ sờ cánh hoa thấy mịn và nhẵn, các mép của lá có răng ca . Đưa hoa lên ngửi có mùi thơm .
Trẻ được quan sát kỹ, có được đầy đủ các đặc điểm của đối tượng nên trẻ so sánh rất tốt và phân loại rất nhanh .
Dạo chơi thăm quan hoạt động ngoài trời , không những để trẻ khám phá thế giới sung quanh mình mà tôi còn giáo dục tình yêu thiên nhiên , ý thức bảo vệ môi trường . tôi cũng luôn chú ý kiến thức xã hội với trẻ về công việc của mỗi người , về mói quan hệ giữa con người với nhau , đặc biệt là giáo dục ATGT với trẻ tạo cho trẻ thói quen và ý thức khi tham gia giao thông . Với trẻ mặc dù kiến thức rất đơn giản . Đi trên đờng không chạy , không lô đùa , đi bên tay phải , hoạc là nhìn những tín hiệu giao thông .
7. Kết hợp giữa phụ huynh và cô giáo ..
Đối với trẻ mầm non dễ nhớ lại dễ quên, nếu không được luyện tập thường xuyên thì sau ngày nghỉ xẽ quên lời cô dạy. 
 Vì thế tôi thường xuyên chao đổi với phụ huynh vào giờ đón trả trẻ để hiểu đợc tính cách trẻ và để phụ huynh luyện them cho trẻ .
Cháu A , cháu B rất thích đọc câu đố cho bố mẹ nghe .
Cháu C ,cháu D rất hay hỏi về những gì lạ xung quanh .
 Động viên các cháu không chỉ biết bảo vệ môi trường xung quanh mà còn giữ gìn, giúp đỡ cha mẹ những công việc vệ sinh nhỏ .
Trao đổi với phụ huynh mua cho trẻ những quyển tranh về con vật, cây cỏ  phù hợp với lứa tuổi. trẻ đợc làm quen với hình ảnh, với chữ viết .
Việc kết hợp giữa gia đình và cô giáo là không thể thiếu đợc, giúp trẻ luỵên tập nhiều hơn, từ đó trẻ có đợc vốn kiến thức về thiên nhiên, về xã hội phong phú và đa dạng hơn. Vì trẻ ở môi trường là nông thôn, nên ở nhà trẻ được tiếp xúc với nhiều thiên nhiên, cỏ cây hoa lá rất nhiều, được bố mẹ thường xuyên cung cấp và củng cố những gì đã có thì hiệu quả việc cho trẻ làm quen với môi trường sung quanh là rất cao .
KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Qua thực hiện một số biện pháp trên kết quả đạt được như sau :
Bản thân được trau rồi kiến thức, kỹ năng, nghệ thuật dạy trẻ .
Phụ huynh tín nhiệm tin yêu 
Kết quả đánh giá qua 6 tiết dậy được thể hiện qua bảng sau : 
Bảng 2 : Kết quả đạt được
( Tổng số trẻ là 41)
STT
Kỹ năng quan sát, tìm ra đặc điểm,
khả năng so sánh, phân loại
Kết quả
Số lượng
Tỷ lệ %
1
Loại tốt 
12
29
2
Loại khá 
15
37
3
Loại TB
14
34
4
Loại yếu 
0
0
Với trẻ có tiến bộ rõ rệt trong từng tiết dạy .
Trẻ có kỹ năng quan sát, so sánh, phân loại tốt, hiểu biết rộng về tự nhiên cũng như về xã hội .
Đặc biệt trong hội thi bé khỏe măng non và giáo dục bảo vệ môi trường các cháu lớp tôi thể hiện rất tốt và có ý thức bảo vệ môi trường. Được ban giám khảo đánh giá rất cao .
KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CỦA TRẺ
Được biểu hiện qua bảng sau :
Bảng 3: Bảng tổng hợp kết quả, so sánh trước và sau khi thực hiện
TT
Kỹ năng quan sát ,so sánh ,phân loại 
Đầu năm
Cuối năm
Tăng
Số lượng 
Tỷ lệ %
Số lượng 
Tỷ lệ %
Số lượng 
Tỷ lệ %
1
Loại tốt 
8
20
14
34
6
14
2
Loại khá 
10
24
16
39
14
15
3
Trung bình 
18
44
12
27
4
Loại yếu 
5
12
0
0
Đối tượng phụ huynh :
Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc dạy trẻ làm quen với môi trường xung quanh, tạo điều kiện cùng công tác với cô giáo để được làm quen với môi trường xung quanh của trẻ đạt hiệu quả cao nhất, đó cũng đã góp phần nâng cao chất lượng môn cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh .
C. Kết luận
1. Bài học kinh nghiệm 
- Giáo viên thực sự yêu nghề mến trẻ, có năng lực sư phạm, nắm chắc chuyên môn .
- Có sự hiểu biết về kỹ năng dạy trẻ làm quen với môi trường sung quanh .
- Có sự sáng tạo trong mỗi tiết dạy, luôn có sự đổi mới trong phương pháp dạy trẻ 
- Thường xuyên rèn luyện bản thân, kỹ năng dạy, thao tác, rèn luyện giọng nói 
Đồ dùng dạy trẻ phong phú sáng tạo hấp dẫn với trẻ .
Làm tót công tác tuyên truyền với các bậc phụ huynh .
Luôn tạo được môi trường học mà chơi, chơi mà học .
Chú ý rèn trẻ ít nói, chậm hiểu có phương pháp hướng dẫn cụ thể .
Động viên kịp thời và giúp trẻ tập luyện thường xuyên .
Tạo điều kiện tốt để trẻ có khả năng tư duy, phát triển tốt. dựa vào hội thi “Bé khỏe măng non” 
 Trên đây là một số biện pháp, kinh nghiệm mà tôi đã thực nghiệm để “ Nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh ” cho trẻ 4 - 5 tuổi, để nâng cao kỹ năng quan sát, so sánh phân loại ở trẻ khi được làm quen với môi trường xung quanh mà tôi đã thu được kết quả. Tôi mạnh dạn nêu ra để trao đôi với các bạn dồng nghiệp và các tổ chuyên môn cùng ứng dụng và xem xét để hoạt động đạt kết quả cao hơn. Bản thân rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý bạn và các đồng nghiệp để những giờ dạy môi trường xung quanh đạt kết quả cao
2. Kiến nghị:
- Tôi muốn đề nghị với phòng giáo dục và đào tạo huyện Vĩnh Tường quan tâm hơn nữa đến trường mầm non An Tường chúng tôi. cấp thêm đồ dùng đồ chơi để phục vụ học tập và vui chơi của trẻ. 
- Tôi mong phòng giáo dục đào tạo và ban giám hiệu nhà trường bồi dưỡng thêm về chuyên môn cho các cô được thường xuyên để các cô có thêm nhiều kinh nghiệm hơn để vận dụng vào công việc của mình.
- Tôi rất mong được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường, các cô giáo cùng các chị em giúp đỡ tôi để tôi có thể hoàn thành công việc ở nhà cũng như ở trường.
- Đây là những kinh nghiệm nhỏ của tôi, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu và của các cô, các chị trong trường cũng như các cô, các chị ở trường bạn để tôi được hoàn thiện hơn trong nhiệm vụ của mình.
 Tôi xin chân thành cảm ơn !
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị An Tường, Ngày 10 tháng 3 năm 2015
 Người viết
 Đỗ Thị Hương

File đính kèm:

  • docskkn m(n MTXQ.doc
Sáng Kiến Liên Quan