Sáng kiến kinh nghiệm Một vài kinh nghiệm để dạy và học tốt phần văn học nước ngoài - Ngữ văn 11

Bộ phận văn học nước ngoài ở trường Trung học phổ thông (THPT) thật sự là mảng khó dạy đối với giáo viên, tuy mới nhìn qua tưởng chừng như ngược lại, vì mảng văn học ít nhiều xa lạ này dễ gây hứng thú cho học sinh; Hơn nữa những tác phẩm tuyển chọn đưa vào sách giáo khoa toàn là những đỉnh cao nổi tiếng cổ, kim, đông tây đã được thời gian sàng lọc. Đó thực sự là những áng thơ văn long lanh như châu ngọc cả về hình thức lẫn nội dung.

Ở trường Đại học, công việc giảng dạy được chuyên môn hóa triệt để. Mỗi thầy cô chỉ phụ trách một nền văn học, thậm chí chỉ một giai đoạn văn học, một tác giả cụ thể nên có điều kiện đi sâu, nắm bắt văn học không tách rời với chất liệu ngôn ngữ và bối cảnh xã hội, lịch sử, văn hóa của mỗi nước hoặc từng khu vực có tính đặc thù trên thế giới. Boalô có viết trong Nghệ thuật thơ ca: “Điều gì nhận thức rõ thì diễn đạt rõ ràng”. Ở Trường THPT, người giáo viên môn Ngữ Văn phải đảm đương cả Văn học Việt Nam lẫn văn học nước ngoài từ Châu Á qua Châu Âu, Châu Mỹ, từ những anh hùng ca ra đời nhiều thế kỷ trước Công nguyên đến những tác phẩm hiện đại. Với kiến thức “tràng giang đại hải” như thế, làm sao có thể làm chủ mảng văn học nước ngoài?

Đã thế, chương trình ở THPT những năm gần đây có nhiều đổi mới. Giáo viên đứng trước những khó khăn mới đối với các tác phẩm văn học nước ngoài. Giáo viên lại đứng trước một thử thách nữa là tình hình nghiên cứu giảng dạy văn học ở nước ta và trên thế giới trong những năm vừa qua có nhiều đổi mới. Hướng tiếp cận thi pháp có nhiều thay đổi. Tất nhiên, vấn đề này không chỉ đặt ra đối với riêng phần văn học nước ngoài.

 

doc31 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 31/07/2015 | Lượt xem: 2678 | Lượt tải: 67Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một vài kinh nghiệm để dạy và học tốt phần văn học nước ngoài - Ngữ văn 11", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iển của lịch sử loài người”. Lần so sánh này hàm ý tích cực: khẳng định cả Các Mác lẫn Đác-uyn. Lần so sánh thứ hai (thuộc đoạn 7) mang ý nghĩa đả kích những kẻ xấu xa, “thi nhau vu khống nguyền rủa ông” bằng cách để Mác xem họ như “cái mạng nhện vướng chân”
Phần 3 một lần nữa kh¼ng ®Þnh sù bÊt diÖt cña tªn tuæi vµ sù nghiÖp cña Các M¸c. Ở đây ng­êi ®äc còng nhËn ra niÒm kÝnh yªu, sù c¶m phôc s©u s¾c, sù tiÕc th­¬ng v« h¹n cña ¡ng-ghen dành cho Các M¸c. §ã lµ sù t«n vinh chÝnh nghÜa khi Các M¸c ®øng vÒ phÝa nh©n lo¹i tiÕn bé, vÒ phÝa giai cÊp v« s¶n toµn thÕ giíi ®Ó b¶o vÖ quyÒn lîi cña hä.
2.2b. Tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm:
Tác phẩm văn học bao giờ cũng mang trên mình dấu ấn của một thời kỳ lịch sử nhất định. Vì vậy việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác bao giờ cũng là một yêu cầu có tính nguyên tắc. Dạy - học tác phẩm văn học nước ngoài, việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác thật là việc vô cùng quan trọng. Vì đây là những điều rất xa lạ với học sinh. Sự phụ thuộc của tác phẩm văn học vào hoàn cảnh lịch sử sẽ rất khó giải thích cho học sinh nếu như không gắn liền với những điểm phân tích, đánh giá chung với hoàn cảnh cuộc sống và hoạt động sáng tác của nhà văn. Có như thế mới giúp học sinh có điều kiện tìm hiểu sâu tác phẩm.
Khi day học đoạn trích “Tình yêu và thù hận” – trích Rômêô và Juliet của Sếch-pia mà không nói về thời đại Phục Hưng thì sẽ không hiểu vì sao Sếch pia viết về đề tài tình yêu – đề tài phổ biến gắn với khát vọng giải phóng con người của thời đại Phục Hưng.
Những người khốn khổ là câu chuyện về xã hội nước Pháp trong khoảng hơn 20 năm đầu thế kỷ XIX kể từ thời điểm Napoléon I lên ngôi và vài thập niên sau đó. Tác phẩm miêu tả cả một thế giới của những con người nghèo khổ. Đó là bức tranh chân thực về cuộc sống ở nước Pháp nói chung và ở Paris nghèo khổ nói riêng vào nửa đầu thế kỷ XIX.
Người trong bao, có hiểu sâu sắc bối cảnh lịch sử của nước Nga cuối thế kỷ XIX, bộ phận trí thức Nga mới thấy rõ ràng thông qua nhân vật Bêlicốp, tác giả muốn phê phán lối sống hèn nhát, bạc nhược, bảo thủ và ích kỉ của một bộ phận trí thức Nga thời bấy giờ.
Khi dạy bài thơ Tôi yêu em của Puskin, ta cần chú ý đến hoàn cảnh sáng tác bài thơ. Có ít nhất hai tư liệu nói về sự ra đời của bài thơ. Theo tác giả Kôrôvin, bài thơ bắt nguồn từ một mối tình có thật giữa nhà thơ với A.A.Ô-lê-nhi-na, con gái vị chủ tịch Viện hàn lâm nghệ thuật Nga, song lời cầu hôn của nhà thơ bị từ chối. Câu chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1829. Một tình yêu đơn phương mãnh liệt.
Nhưng theo tác giả Gôrôđexki, bài thơ gắn với cô Karôlina Xôbanxkaia, cô gái hơn nhà thơ năm tuổi. Vậy ai là đối tượng nói tới trong bài thơ? Đây là một câu đố hóc hiểm của nghệ thuật thế giới. Có điều những mối tình say đắm có thật và những cô gái đẹp này đã tạo ra thiên tài thơ tình Puskin.
2.2c. Tìm hiểu phong tục tập quán sinh hoạt, quan niệm đạo đức, thẩm mĩ của dân tộc đã sản sinh ra trong tác phẩm trong mối quan hệ tương quan với văn hóa dân tộc.
Để hiểu cảm đúng tác phẩm văn học nước ngoài, giáo viên cần giúp học sinh hiểu được phong tục, tập quán sinh hoạt cũng như quan niệm đạo đức, thẩm mĩ của dân tộc mà tác phẩm phản ánh trong mối tương quan với nền văn hóa dân tộc mình.
Đặt tác phẩm văn học vào mối tương quan văn học của hai dân tộc là để khai thác đến cạn kiệt những tư tưởng hữu dụng cho đời sống tinh thần công dân tương lai, kích thích những truyền thống tốt đẹp hiện tại, để hiểu sâu sắc hơn nhân loại.
Cho đến nay, dạy học văn học Phục Hưng trong nhà trường cũng gặp không ít khó khăn. Thời đại Phục Hưng ở Châu Âu, từ Ý qua Pháp rồi đến nhiều nước khác, ở mỗi nước lại có màu sắc riêng. Đối với trích đoạn “Tình yêu và thù hận” – trích Rômêô và Juliet của Sếch-pia, học sinh có thể đặt ra nhiều câu hỏi: tại sao Rômêô đang say mê Rôdalin, thế mà vừa gặp Juliet đã thay lòng đổi dạ yêu Juliet ngay? Rômêô say mê Rôdalin mới chỉ là say mê một người đẹp được nhìn thoáng qua một đôi lần, chưa có sự gần gũi tiếp xúc. Trong khi đó, ở đêm vũ hội Rômêô được chiêm ngắm vẻ đẹp của Juliet, được hôn tay này và trong khi trò chuyện đã được tiếp xúc với tâm hồn trong trắng, dịu hiền của nàng; Juliet được giới thiệu là 14 tuổi. Yêu đương vào tuổi ấy, thời nay là quá sớm. Thời phong kiến quan niệm người phụ nữ chỉ cần biết lấy chồng, nuôi con nên yêu sớm, lấy chồng sơm là chuyện thường thấy. Và buổi dạ hội nhà Capiulet tổ chức chính là nhằm mục đích là để Juliet kén một người bạn đời.
Hoặc vấn đề đặt ra trong Bài thơ số 28 giúp học sinh hiểu về quan niệm tình yêu của Ta-go, mà ở đây có thể liên hệ đến tình yêu lứa đôi. Targo cho rằng trong tình yêu, sắc đẹp của thể xác giống như hoa hồng chóng phai tàn, chỉ có tâm hồn mới bền lâu. Targo cũng giống các nhà thơ tình lãng mạn khác . Tình yêu tuy có đau khổ nhưng không chịu khóc than rên xiết, không hủy hoại thân mình một cách vô ích, mà vẫn mang một niềm tin tưởng.
Đặt tác phẩm trong mối tương quan văn hóa của hai dân tộc sẽ giúp cho việc nghiên cứu tác phẩm cụ thể sẽ nhận ra và làm phong phú hơn đời sống tâm hồn và tình cảm dân tộc của mỗi người khi tiếp xúc với tác phẩm văn học nước ngoài có rất nhiều điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trong cách cảm, nghĩ và cách diễn đạt. 
2.2d. Hướng tiếp cận văn bản (sơ đồ):
2.2e ÁP DỤNG THỰC NGHIỆM TRONG VĂN BẢN CỤ THỂ.
2.2e1. Tình yêu và thù hận (trích Rômêô và Juliet) U. Sếch-pia.
Rômêô và Juliet
Sếch-pia
Nghệ thuật:
Kiểu lời thoại: Độc thoại và đối thoại.
Sử dụng hai sắc thái tương phản (lời hồn nhiên chân thành và lời hồn nhiên bay bổng)
Sử dụng hai sắc thái tâm lí (âu lo và vô tư).
Nội dung:
Tình yêu thủy chung trong trắng
Mối huyết thù đẫm máu
Ä 	
 Mâu thuẫn
Ê “Tình yêu và thù hận” đã được giải quyết sau 16 lời thoại, và trên tinh thần các lời thoại đó của hai nhân vật Rômêô và Juliet, thì tình yêu đã chiến thắng thù hận.
2.2e2. Tôi yêu em của Pus-kin.
Puskin 
Puskin trong cuộc đấu với Dantexơ (1837) 1181837(1837)
Vợ Puskin – Natalia Gônsarôva
1181837(1837)
2.2e2.1. Tác giả. 
2.2e2.2. Kết cấu:	
- 2 câu thơ.
- Hai dấu chấm (.) ở cuối dòng thứ tư và dòng cuối cùng.
- Điệp khúc: Tôi yêu em → cảm xúc nhân vật trữ tình cuồn cuộn chảy, 
	bất chấp logic.
- Sự thay đổi đột ngột ở mạch thơ (dòng 1,2 với dòng 3,4 ở đoạn 1).
2.2e2.3. Nghệ thuật:
 	 - Ngôn từ: trong sáng, giản dị
 	 - Biểu đạt: cô đọng, hàm súc
 - Cấu tứ: hài hoà, chặt chẽ
2.2e2.4. Nội dung: 
Diễn biến tâm trạng phức tạp trong hồn nhà thơ khi yêu giúp chúng ta cảm nhận được tình cảm chân thành, mãnh liệt, sự vị tha, nhân hậu của tác giả.
Tình yêu chân thành, đằm thắm, cao thượng đã vượt qua thói thường ích kỉ: chỉ biết ghen tuông. Câu kết của bài thơ làm cho nhân cách con người sáng chói, vị tha và cao thượng.
2.2e3. Bài thơ số 28 (trong tập Người làm vườn) – R.Ta-Go.
Targo 
2.2e3.1 Thể thơ: thể văn xuôi.
2.2e3.2 Bố cục: 
- Câu 1-2 . Nghịch lí của tình yêu.
- Câu 3-11.Lí giải về nghịch lí của tình yêu
2.2e3.3 Nghệ thuật: so sánh - ẩn dụ, đậm màu sắc trữ tình và tính chất triết lí.
- Đôi mắt → muốn nhìn vào → tâm tưởng của anh
Như
 - Trăng kia → muốn vào sâu → biển cả → Em muốn được hiểu thấu trái tim và suy nghĩ của người mình yêu.
 2.2e3.4 Nội dung:
 	 - “ Anh” ®· ®ãn nhËn ®«i m¾t ®ã víi sù ch©n thµnh, nång nhiÖt hÕt m×nh.
“ Anh ®· ®Ó cuéc ®êi anh trÇn trôi dưới m¾t em
Anh kh«ng dÊu em mét ®iÒu g×”
→ Anh kh«ng che giÊu, kh«ng gi÷ l¹i ®iÒu g×. Anh nç lùc lµm tÊt c¶ ®Ó em hiÓu anh. → NghÞch lý x¶y ra:
“ ChÝnh v× thÕ mµ em kh«ng biÕt g× tÊt c¶ vÒ anh”
 → Kh¸t khao ®ược hoµ hîp, kh¸m ph¸ t©m hån cña nhau bëi t×nh yªu lu«n lµ mét bÝ Èn
 	- “ Anh” kh¸t khao ®ược d©ng hiÕn. §ưa ra nh÷ng gi¶ ®Þnh (NÕu A chØ lµ B) råi l¹i phñ ®Þnh ( Nhưng A chØ lµ C).
 G§1: 
 	 A ( chØ lµ ) B (nhưng lại lµ) C
 Nếu Ò Đời anh Ò + Viên ngọc Ò Nhưng Ò Trái tim
 	 + Đóa hoa
Ä Như vậy đời anh chỉ là “phương tiện” để đạt tới cái đích của tình yêu. Anh sẵn sang cho tất cả những gì anh có Ò Tình yêu mãnh liệt.
GĐ2:
 	A ( chØ lµ ) B (nhưng lại lµ) C
 	 Nếu Ò Trái tim Ò + Lạc thú Ò Nhưng Ò Tình yêu
 	 + Khổ đau
- Nếu giả thiết xảy ra thì tình yêu thật đơn giản. Song ở đây phức tạp hơn: trái tim anh lại là tình yêu vốn nhiều đối lập và mâu thuẫn: vừa sung sướng, vừa đau khổ, vừa thiếu thốn, vừa giàu sang Ò Trái tim là cõi vô biên trường cửu, đầy bí ẩn.
2.2e4. Người trong bao – A.P.Sê-Khốp.
2.2e4.1. Tác giả (Cuộc đời; sự nghiệp; xuất xứ tác phẩm).
2.2e4.2. Nghệ thuật: 
Ngôi kể: dịch chuyển từ ngôi thứ ba sang ngôi thứ nhất.
Giọng điệu: điềm tĩnh, mỉa mai, chua xót.
Xây dựng nhân vật: chân dung kì dị, tính cách kì quái mà chân thực.
Đối lập tương phản giữa kiểu người, tính cách và lối sống trái ngược của Bê-li-cốp với mọi người.
Hình ảnh, lời nói vừa có ý nghĩa cụ thể, vừa biểu trưng.
2.2e4.3. Nội dung:
* Tính cách nhân vật Bê-li-cốp:
TT
Biểu hiện
Miêu tả
1
Ăn mặc
Đi giày cao su, đội ô, mặc áo bành tô cốt bông.
2
Bộ dạng
Bộ mặt giấu trong cổ áo bành tô bẻ cao, mắt đeo kính râm, lỗ tai nhét bông, đi xe ngựa che mui.
3
Quan điểm, ý nghĩa
Ngợi ca quá khứ, sung bái cấp trên, tin vào chỉ thị, thông tư, bài báo cấm đoán.
4
Nghề nghiệp
Dạy tiếng Hi Lạp cổ
5
Hành xử
Đến thăm nhà đồng nghiệp, kéo ghế ngồi chẳng nói gì, một tiếng sau ra về.
6
Sinh hoạt ở nhà
Mặc áo khoác ngoài, đội mũ, đóng cửa, cài then, buồng ngủ chật như cái hộp, ngủ trùm chăn kín mít.
* Hình ảnh “cái bao” 	* Qua vật dụng hàng ngày 
	Ò	* Qua công việc hàng ngày 
* Thường trực trong tư tưởng 
2.2e5. Người cầm quyền khôi phục uy quyền (trích Những người khốn khổ) – V.Huy-Gô.
V.Huygo 
Trang bìa Những người khốn khổ
Giăng Van-Giăng và Phăng tin gặp lần đầu bệnh
Giăng Van-Giăng và Phăng tin tên giường bệnh
Cô-Dét 
Giăng Van-Giăng và Phăng tin trên giường bệnh
2.2e5.1 Nghệ thuật:
** Miêu tả trực tiếp: Ngôn ngữ, thái độ, cử chỉ.
2.2e5.2 Nội dung:
+ Đối với Phăng-tin:
Thái độ: nhẹ nhàng, điềm tĩnh.
Hành động:Nâng đầu,đặt ngay ngắn, thắt lại dây rút cổ áo,vén tóc, vuốt mắt
	è Yêu thương, trân trọng che chở, cảm thông.
+ Đối với Gia-ve:
Trước khi Phăng-tin chết:
	Cử chỉ điềm tĩnh, ngôn ngữ nhã nhặn, không tỏ ra khiếp sợ.
 	 è Đối lập với Gia-ve. 
Sau khi Phăng-tin chết: 
	Mạnh mẽ, quyết liệt:
	“Giật gãy giường”
	“Cầm lăm lăm cái thanh giường”
	“Nhìn trừng trừng”
è Cử chỉ, thái độ của tình thương, bảo vệ tình thương.
** Miêu tả gián tiếp.
Qua thái độ của Phăng-tin:
	Phó thác, cầu cứu, tin tưởng tuyệt đối.
Qua câu chuyện mà bà xơ Xem-pli-xơ thường kể lại: Giăng-van-giăng thì thầm, Phăng-tin nở nụ cười, gương mặt sáng rạng rỡ
èHình ảnh của một vị cứu tinh, một đấng cứu thế đối với con người khốn khổ.
** Bình luận của tác giả.
- Một loạt câu hỏi
à Khẳng định sự đồng cảm, tình yêu thương giữa 2 con người khốn khổ, lời hứa với người đã khuất.
	- Lời bình: “Chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại”
	à Giăng-van-giăng đã xoa dịu nỗi đau của Phăng-tin.
è Con người phi thường, lãng mạn, mang sức mạnh của tình yêu.
** Nghệ thuật lãng mạn:
Phóng đại, so sánh, ẩn dụ.
So sánh
Giăng-van-giăng
Gia-ve
- Ngôn ngữ, cử chỉ.
- Thái độ
- Điềm đạm, nhã nhặn, đầy yêu thương.
- Trân trọng nâng niu con người.
- Cộc cằn, thô lỗ.
- Vô cảm, tàn nhẫn.
Đối lập, tương phản.
Giăng-van-giăng
Gia-ve
Dịu dàng, tế nhị, tràn đầy tình thương.
Mạnh mẽ, quật cường.
 Ò Vị cứu tinh Ò Cái thiện
- Tàn nhẫn, man rợ, bạo lực, thô bỉ.
- Hèn nhát, sợ sệt.
ÒTên đao phủ, con ác thú Ò cái ác.
Phăng tin
Yếu đuối, tuyệt vọng Ò Nạn nhân
Tư tưởng đề cao sức mạnh của tình yêu.
** Tình huống kịch tính: sự giằng co giữa Giăng-van-giăng và Gia-ve, sự hoảng hốt, bất ngờ, thất vọng của Phăng-tin.
** Lời văn: trau chuốt, giàu cảm xúc mãnh liệt.
Ä Đoạn trích là thông điệp của tình thương.
2.2e6. Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác – Ăng-Ghen.
Nghĩa trang Hai –ghết
 CÁC MÁC VÀ ENGELS 
 CÁC MÁC
 ENGELS
e6.1 Hoàn cảnh ra đời.
e6.2 Thể loại: 
- Văn tế (điếu văn)
- Viết bằng văn xuôi chính luận (Văn tế hiện đại)
e6.3 Bố cục.
e6.4 Nghệ thuật:
Nói giảm, nói tránh.
Lập luận theo kiểu kết cấu trùng điệp, tăng tiến "nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của C. Mác đồng thời thể hiện sự kính trọng và thương tiếc được nhân lên nhiều lần
e6.5 Nội dung: Những cống hiến của Mác:
c6.5.1 Nội dung của cống hiến thứ 1:
“Tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người”
 Bản chất của quy luật:
Hình thức, thể chế nhà nước, pháp luật, tôn giáo, văn học, nghệ thuật. 
 Cơ sở hạ tầng
Kiến trúc thượng tầng
Kinh tế và sinh hoạt trực tiếp.
Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
Hình thức, thể chế, nhà nước, tôn giáo, văn học nghệ thuật
Tư liệu sản xuất, cách sản xuất tư liệu sản xuất, trình độ phát triển kinh tế.
Quyết định
 Cơ sở hạ tầng
Kiến trúc thượng tầng
Có trước
Ảnh hưởng trở lại
Có sau
→ Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng.
c6.5.2 Cống hiến thứ 2:
“Tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa”
Giai cấp tư sản bóc lột công nhân làm thuê
Giá trị thặng dư
TBCN giàu lên nhanh chóng 
Giai cấp công nhân càng bị bần cùng đi
e6.5.3 Cống hiến thứ 3
“Sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, biến các lý thuyết cách mạng – khoa học thành hành động cách mạng”
Với Mác:
- Khoa học = động lực lịch sử, lực lượng cách mạng.
- Đấu tranh = hành động tự nhiên
 Các Mác không chỉ là một nhà khoa học. Trước hết Mác là một nhà Cách mạng.
** Lập luận theo kết cấu tầng bậc kết hợp với so sánh.
Giống như
Đác-uyn
Mác
(cống hiến 1)
nhưng không chỉ
có thế thôi
 (cống hiến 2)
Cống hiến 
lớn lao hơn cả
(cống hiến 3)
 Ä 	Những cống hiến này được sắp xếp theo một trật tự tăng tiến, cống hiến sau lớn hơn cống hiến trước. Để làm nổi bất cống hiến của Các Mác, Ăng Ghen đã so sánh Các Mác với Đác-uyn, với các nhà khoa học khác cùng thời đại.
 	 Các Mác nổi bật lên hang đầu như là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”.
2.3. Mục đích của phương hướng thực hiện.
Do thực trạng của tiết dạy và học tác phẩm văn học nước ngoài còn chưa chú trọng tích cực, nên người giáo viên phải làm sao phát huy được sự sáng tạo, húng thú để học sinh có một tâm thế cảm, hiểu tác phẩm, tâm tư tình cảm của tác giả, thời đại, văn hóa các nước... Qua đó, học sinh có khả năng thẩm thấu những giá trị văn học nước ngoài cũng như những tác phẩm văn học Việt Nam.
Giúp học sinh tự tin, mạnh dạn tìm hiểu văn hóa các nước thông qua tác phẩm văn học, giúp các em có được nền tảng kiến thức vững chắc và phong phú hơn.
IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN.
Áp dụng đề tài Để dạy và học tốt phần văn học nước ngoài – Ngữ Văn 11 đã góp phần tạo sự hứng thú, góp phần tạo niềm say mê, học hỏi của học sinh và đạt hiệu quả cao trong giờ học. 
Tiết học tác phẩm nước ngoài không còn đơn điệu, buồn tẻ mà có sự chủ động của học sinh trong giờ học, giáo viên trở thành người hướng dẫn, định hướng giúp học sinh cảm thụ tác phẩm một cách tích cực.
Đề tài Để dạy và học tốt phần văn học nước ngoài – Ngữ Văn 11 là cách tạo được hướng tiếp cận tác phẩm chủ động, khêu gợi hứng thú và khả năng ham học hỏi về văn hóa các nước qua hình tượng, tính cách nhân vật trong văn bản ở HS trong giờ học Ngữ văn.
Qua áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của tôi vào thực tế, tôi thu được kết quả khá khả quan sau:
Khèi
Líp
SÜ sè
Giái
Kh¸
TB
YÕu
SL
(%)
SL
(%)
SL
(%)
SL
(%)
11
11A4
47
2
0.4%
30
63.8%
15
319%
3
0.6%
11A6
48
0
0
31
64.6%
14
29.2%
4
0.8%
11A10
47
0
0
35
74.5%
10
21.3%
2
0.4%
Tôi nhận thấy rằng những biện pháp và hình thức dạy – học các tác phẩm văn học nước ngoài đã góp phần phục vụ hữu ích và nâng cao hiệu quả, chất lượng các giờ dạy - học tác phẩm văn học nước ngoài.
Phần lớn học sinh nắm chắc và sâu kiến thức bài học, hiểu và cảm thụ sâu sắc những giá trị đặc sắc nghệ thuật, nội dung của tác phẩm văn, thơ nước ngoài.
Có kỹ năng tìm hiểu, khám phá, phân tích những tác phẩm văn chương nước ngoài theo đặc trưng, thể loại.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Qua thời gian áp dụng đề tài này vào giảng dạy phần văn học nước ngoài trong chương trình Ngữ Văn 11, tôi thấy đây là kinh nghiệm tốt để giúp người giáo viên dạy Văn khi đứng trước những tác phẩm văn học nước ngoài có thể tự tin, chủ động trong khai thác, phân tích, tiếp cận các tác phẩm văn chương đó để ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả của tiết dạy – học văn. Để có được kết quả cao khi thực hiện đề tài này, bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:
+ Với giáo viên: 
Giáo viên phải thực sự là người yêu nghề, yêu văn chương, có kiến thức sâu sắc về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, quan niệm thẩm mĩ của các dân tộc có các tác giả đã sản sinh ra những tác phẩm mà mình sẽ trực tiếp giảng dạy.
Có ý thức tìm đọc và hiểu đúng, hiểu trọn vẹn các tác phẩm văn học nước ngoài phải dạy.
Nắm chức hệ thống phương pháp dạy – học tác phẩm văn học theo thể loại, đặc biệt là các tác phẩm văn học nước ngoài.
+ Với học sinh:
Các em phải là những bạn đọc thực sự say mê, yêu thích văn học, đặc biệt là các tác phẩm văn học nước ngoài.
Mỗi học sinh phải có ý thức đọc trước tác phẩm, tự tìm hiểu hệ thống câu hỏi qua phần đọc hiểu văn bản.
Mỗi học sinh luôn ý thức tự rèn luyện các kỹ năng phân tích, tìm hiểu các yếu tố ngôn ngữ, nhân vật trong tác phẩm văn học nước ngoài.
Vận dụng tốt những kinh nghiệm trên, theo tôi kết quả giờ học văn học nước ngoài mới có kết quả cao. Đồng thời khắc phục được tình trạng lười học, chán học, ngại học do quan niệm phần văn học này là khó đối với học sinh.
VI. KẾT LUẬN.
Tác phẩm văn học nước ngoài là tiếng nói tâm tình, là cuộc đời của những con người sống rất xa ta về không gian, thời gian nhưng lại có cùng một nhịp đập trái tim với chúng ta. Ta phải vận dụng cả những tình cảm và hiểu biết nhiều khi tưởng như không dính dáng đến tác phẩm một cách linh hoạt, sáng tạo để đưa các em đến bến bờ xa lạ của thế giới văn học nhân loại, để nâng cao tầm nhìn, tầm suy nghĩ của các em. Có như thế, việc dạy tác phẩm văn học nước ngoài mới có hiệu quả và góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.
Để dạy – học tốt phần văn học này, giáo viên cần phải có một vốn hiểu biết rộng rãi, vốn sống, vốn ngoại ngữ, sự am hiểu về nền văn minh, văn hóa thế giới và đặc biệt là tấm long say mê văn học để khám phá những tinh hoa văn hóa thế giới.	
 Vì vậy, trong giới hạn chuyên đề này, tôi chỉ xin đưa ra vài suy nghĩ về kinh nghiệm để dạy – học tốt tác phẩm văn học nước ngoài trong giờ học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông. Hy vọng những sáng kiến kinh nghiệm của tôi sẽ góp phần nhỏ vào định hướng về phương pháp khai thác tác phẩm văn học nước ngoài nhằm vận dụng vào thực tiễn giảng dạy, để giúp học sinh tiếp cận, hiểu và cảm nhận đúng giá trị của tác phẩm.
Hy vọng nội dung của đề tài: Một vài kinh nghiệm để dạy và học tốt phần văn học nước ngoài – Ngữ Văn 11 sẽ góp phần bổ ích vào việc giảng dạy môn Ngữ văn thật sự có hiệu quả. 
 Do thời gian có hạn mà kiến thức và sự cảm nhận văn học thì vô hạn nên chắc chắn đề tài sẽ không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Rất mong nhận được sự chia sẻ, đóng góp ý kiến từ các đồng nghiệp.
 Xin chân thành cảm ơn!
 Biên Hòa, Ngày 18 tháng 01 năm 2010 
 Người thực hiện
 Đào Vân Anh
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách Ngữ Văn 11 và sách Ngữ Văn 11 nâng cao.
Sách giáo viên Ngữ Văn 11và sách giáo viên Ngữ Văn 11 nâng cao.
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Ngữ Văn 11.
Sách Lý luận dạy học – NXB Giáo dục Hà Nội.
Sách Dạy học văn học nước ngoài – PGS. TS. Lê Huy Bắc.
Sách Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường THPT - PGS Trương Dĩnh.
---------------- 0----------------
MỤC LỤC
 	Trang
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI	 1 
II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ TÀI	 2 III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI	 	 3 
1. Cơ sở lý luận	 3
2.1 Bản thống kê tiết văn học nước ngoài 	 4 
2.2 Nội dung thực hiện 	 4
2.2.1 Về thể loại kịch 	 	 4
2.2.2 Về thể loại thơ	 6
2.2.3 Về truyện ngắn và tiểu thuyết 10 
	2.2.4 Về thể loại nghị luận	 13
2.3 Áp dụng thực nghiệm trong văn bản	 15
16 IV.KẾT QUẢ THỰC HIỆN 23
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM 	 24 VI. KẾT LUẬN 	 26 VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO 	 25
---------------- 0----------------

File đính kèm:

  • docSANG_KIEN_KN_THPT.doc