Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp giúp học sinh học yếu, kém học tôt môn toán

Toán học là bộ môn khoa học được coi là chủ lực, bởi trước hết Toán học hình thành cho các em tính chính xác, tính hệ thống, tính khoa học và tính logic, vì thế nếu chất lượng dạy và học toán được nâng cao thì có nghĩa là chúng ta tiếp cận với nền kinh tế tri thức khoa học hiện đại, giàu tính nhân văn của nhân loại.

“ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiến, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” ( Luật giáo dục, điều 24.2). Trong thực tế phương pháp dạy học bộ môn toán ở trường trung học cơ sở ở nước ta phổ biến vẫn là cách dạy truyền thụ kiến thức trong sách giáo khoa, “ thầy đọc trò chép”. Do đó thực trạng hiện nay cho thấy vấn đề học sinh học yếu, kém ở các bộ môn rất trầm trọng. Trong đó môn toán không phải là ngoại lệ. Với vai trò quan trọng của bộ môn có tính quyết định đến chất lượng học tập các bộ môn khác. Hơn nữa chương trình toán THCS là những viên gạch đặt nền móng đầu tiên cho cả quá trình học tập sau này.

 Học sinh học yếu kém môn toán là những học sinh có kết quả về môn toán thường xuyên dưới mức trung bình. Do đó việc lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng cần thiết đối với những học sinh này tất yếu đòi hỏi tốn nhiều công sức và thời gian hơn so với những học sinh khác.

 

doc20 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 25/12/2015 | Lượt xem: 2484 | Lượt tải: 64Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp giúp học sinh học yếu, kém học tôt môn toán", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 tìm được một phương pháp tối ưu nhất nhằm lấp đầy các chỗ hổng kiến thức và từng bước nâng cao thêm về mặt kỹ năng trong việc giải các bài tập Toán cho học sinh. Từ đó phát huy, khơi dậy khả năng sử dụng hiệu quả kiến thức vốn có của học sinh, đồng thời thu hút, lôi cuốn các em ham thích học môn toán, đáp ứng những yêu cầu về đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học hiện nay.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh học yếu, kém môn toán ở trường THCS cụ thể là trường THCS Bu Prăng. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả rõ ràng trong việc nghiên cứu và thể nghiệm trong đề tài này tôi chủ yếu tập trung đi sâu vào phương pháp dạy học toán cho học sinh yếu, kém của nhà trường vào các giờ học luyện tập, tự chọn, các buổi học phụ đạo học sinh yếu, kém, các giờ học ngoại khóa..Các bài toán được đề cập đến trong đề tài thuộc phạm vi SGK, SBT đảm bảo tính vừa sức đối với các em.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được hoàn thành trên phương pháp thống kê tổng hợp, quan sát, phân tích nguyên nhân và phương pháp thực nghiệm sư phạm.
1.5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Một số học sinh học yếu, kém môn toán của trường THCS Bu PRăng.
Đề tài được thực hiện trong năm học 2014 - 2015
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề
	Đầu các năm học tôi thông qua học bạ lớp dưới, thông qua bài kiểm tra khảo sát đầu năm, kiểm tra vấn đáp những kiến thức cơ bản, trọng tâm mà các em đã được học. Qua đó giúp tôi nắm được những đối tượng học sinh yếu kém và những ''lỗ hổng” kiến thức của các em. Trên cơ sở đó tôi phân lớp thành nhiều nhóm gọi là nhóm '' Tương đồng về kiến thức”. Rồi tìm hiểu nguyên nhân và lập kế hoạch khắc phục.
2.2. Thực trạng của vấn đề
Qua thực tế tìm hiểu tôi nhận thấy có các nguyên nhân chủ yếu sau đây dẫn đến học sinh học yếu môn toán đó là:
 Học sinh có nhiều "lỗ hổng" về kiến thức cũng như kỹ năng.
Gồm các nguyên nhân sau:
* Nguyên nhân khách quan:
Do kinh tế gia đình khó khăn nên điều kiện học tập thiếu thốn về cả vật chất cũng như thời gian, dẫn đến kết quả học tập theo đó bị hạn chế.
Do học sinh có sự khủng hoảng nhất thời về mặt tinh thần trong cuộc sống dẫn đến sao nhãng việc học hành.
* Nguyên nhân chủ quan:
Kiến thức bị hổng do học sinh lười học. 
Do khả năng tiếp thu chậm. 
Do thiếu phương pháp học tập phù hợp.
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
2.3.1) Khắc phục các yếu tố khách quan: ảnh hưởng đến kết quả học tập của những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tinh thần trách nhiệm của một người thầy giáo tôi nhận thấy:
Đối với những em do hoàn cảnh kinh tế gia đình quá khó khăn ví dụ như các em bị thiếu thốn sách vở đồ dùng học tập. Ngoài các buổi đến lớp các em phải đi đốn củi, làm cỏ vươn cà phê,... để phụ giúp kinh tế gia đình không có thời gian để học tập. Sau khi tìm hiểu biết được hoàn cảnh của các em tôi đã có ý kiến đề xuất lên ban lãnh đạo nhà trường có thể miễn giảm cho các em một phần nào các khoản đóng góp có thể được, giảm bớt gánh nặng về sự thiếu thốn vật chất cho các em. Ngoài ra tôi đã phát động một số đồng nghiệp và một số các em học sinh trong trường, lớp quyên góp một phần nào đó để giúp bạn có thể mua một số đồ dùng học tập như bút, vở,Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các em đó trong học tập.
Với đối tượng học sinh gặp sự cố bất thường về tinh thần. Ví dụ như bố mẹ đi làm ăn kinh tế ở xa, hay những trường hợp có những cú sốc về tình cảm trong gia đình mà các em bị ảnh hưởng, có một số em phải ở với ông bà bị thiếu thốn về tình cảm và sự chăm sóc của bố mẹ...Thông qua học sinh và phụ huynh tôi thường xuyên trò chuyện thân mật riêng với các em , động viên an ủi để các em có thể vượt qua cơn khủng hoảng về tinh thần, góp phần nào giúp các em trở lại trạng thái cân bằng về tình cảm và tập trung vào việc học tốt hơn.
Với đối tượng học sinh yếu kém do lười học. Tôi trực tiếp trò chuyện riêng với các em, phân tích cho các em hiểu mặt tốt, xấu và sự liên quan đến tương lai của các em. Về mặt chuyên môn, tôi tăng cường công tác kiểm tra việc học và làm bài tập về nhà, trong các giờ học tôi khuyến khích cho các em phát biểu, gọi các em lên bảng và có lời khen kịp thời, cho điểm khuyến khích, động viên các em, giúp các em tự tin và hứng thú học tập hơn.
Sau khi tạo được tâm thế thoải mái về tinh thần trong học sinh thì việc tiếp theo đóng vai trò quan trọng và quyết định. Đó chính là thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm giúp các học sinh yếu kém có điều kiện về mặt kiến thức để theo kịp yêu cầu chung của những tiết học trên lớp, tiến tới có thể hoà nhập vào việc dạy học đồng loạt.
Qua kinh nghiệm gần mười giảng dạy tôi đã gặp rất nhiều khó khăn khi giảng dạy kiến thức mới trong điều kiện nền tảng kiến thức cũ rất yếu kém của học sinh. Đây là một vấn đề mà tất các các giáo viên giảng dạy mất rất nhiều công sức để bù đắp kiến thức cho các em do vậy là một giáo viên dạy toán ở một trường vùng sâu, vùng biên giới của huyện Tuy Đức các em ở đây đa số là con em dân tộc nên trình độ nhận thức còn rất chậm, do đó đã thôi thúc tôi phải làm một điều gì đó để có thể giúp đỡ các em.Và tôi đã thay đổi cách nghĩ và cách làm trong công tác giảng dạy để giúp đỡ các em yếu, kém học tốt môn toán hơn qua các biện pháp cụ thể.
2.3.2) Khắc phục các yếu tố chủ quan:
2.3.2.1) Trước hết cần đảm bảo cho học sinh có trình độ xuất phát cho những tiết lên lớp:
Để tiết học trên lớp đạt kết quả cao thường đòi hỏi những tiền đề nhất định về trình độ kiến thức, kỹ năng sẵn có của học sinh. Đối với diện học sinh yếu kém thì thiếu hẳn tiền đề này. Vì thế cần giúp nhóm học sinh này có đủ tiền đề đảm bảo trình độ xuất phát cho những tiết lên lớp đạt hiệu quả.
Trước hết, tôi nghiên cứu kỹ nội dung chương trình, vạch rõ khối lượng tri thức và những kỹ năng cần thiết như những tiền đề xuất phát thông qua SGK, SGV, chuẩn chương trình ...
Sau đó, phân tích những tri thức kỹ năng có sẵn ở học sinh ở mức độ nào(qua quá trình tìm hiểu, quan sát ở học sinh trên lớp, qua các bài kiểm tra ...) 
Tiếp đến, tôi tập trung vào việc tái hiện những tri thức và tái tạo những kỹ năng cần thiết một cách tường minh thông qua việc cho học sinh ôn tập những tri thức, kỹ năng trước khi dạy nội dung mới vào các buổi học ngoài giờ chính khoá thông qua các vi dụ cụ thể:
Ví dụ 1: Phân tích đa thức 14x2 y – 21xy2 + 28x2y2 thành nhân tử. 
Giáo viên gợi ý: 
- Tìm nhân tử chung của các hệ số 14, 21, 28 trong các hạng tử trên ? 
(Học sinh trả lời là: 7, vì ƯCLN(14, 21, 28 ) = 7 )
- Tìm nhân tử chung của các biến x2 y, xy2, x2y2 ? (Học sinh trả lời là xy )
- Nhân tử chung của các hạng tử trong đa thức đã cho là 7xy.
Giải: 14x2 y – 21xy2 + 28x2y2 = 7xy.2x – 7xy.3y + 7xy.4xy 
= 7xy.(2x – 3y + 4xy) 
Ví dụ 2: 
Khi dạy bài cộng trừ số hữu tỉ, để học sinh học tốt bài này thì các em buộc phải nắm được các kiến thức, kỹ năng liên quan như đổi số thập phân ra phân số, qui đồng mẫu các phân số, qui tắc cộng, trừ phân số, qui tắc “chuyển vế”, qui tắc “dấu ngoặc”. Trong hoạt động đó học sinh được ôn lại các kiến thức tương ứng trong tập hợp số nguyên như cộng, trừ số nguyên... thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập như sau:
Bài tập1: Đổi các số thập phân sau ra ph ân số:
 0,6 v à 2,25
 HS: ; 
Bài tập2: Tính : 
Hỏi: Muốn thực hiện phép cộng trên trước hết ta phải làm gì?
 (HS: Phải qui đồng mẫu các phân số)
Hỏi: Tiếp theo cộng như thế nào?
 (HS: Tử cộng tử, giữ nguyên mẫu) 
Hỏi: Nhắc lại cách cộng hai số nguyên?
 (HS: Nêu cách cộng hai số nguyên và tiến hành cộng)
Bài tập 3: Tìm x, biết: 
Hỏi: Muốn tìm được x trước hết ta phải làm gì?
 (HS: Lúng túng không trả lời được)
GV: Hãy nhắc lại qui tắc chuyển vế trong Z 
 (HS: Nhắc lại qui tắc chuyển vế trong Z) 
GV: Tương tự trong Q ta cũng có qui tắc chuyển vế
 (HS: Vận dụng qui tắc chuyển vế và thực hiện bài toán
 (Theo qui tắc chuyển vế)
 x 
 Vậy: 
Như vậy trong buổi phụ đạo học sinh đã nắm được những kiến thức tiền đề của bài mới. Đảm bảo trình độ xuất phát cho tiết học chính khoá giúp các em tiếp thu bài một cách chủ động và hứng thú hơn, phát biểu xây dựng bài sôi nổi hơn. Hiệu quả giờ học được nâng lên rõ rệt. 
Cụ thể : 
	Trong bài học mới khi đưa ra yêu cầu thực hiện phép tính :
 -0,6 + 2,25.
Chỉ với gợi ý nhỏ: Mọi số hữu tỉ đều có thể viết được dưới dạng phân số với a,b Z, b 0. Là học sinh phát hiện được hướng giải quyết vấn đề nhờ bài học phụ đạo đã nắm vững. 
 Ví dụ 3: 
Trước khi dạy khái niệm "đường trung trực của đoạn thẳng" giáo viên cần cho học sinh ôn tập lại các kiến thức, kỹ năng cũ như trung điểm của đoạn thẳng, cách vẽ trung điểm của đoạn thẳng , vẽ đường thẳng vuông góc với đoạn thẳng cho trước qua một điểm cho trước đã được học ở lớp 6, rèn kỹ năng cho học sinh sử dụng thước và ê ke thành thạo thông qua các bài tập sau:
Bài tập 1
 Điền vào chỗ (...) trong phát biểu sau để có định nghĩa đúng.
	"Trung đểm của đoạn thẳng AB là ..."
Bài tập 2 
	Vẽ đoạn thẳng AB dài 4 cm. Vẽ điểm M là trung điểm của đoạn thẳng AB. 
Bài tập 3
	Cho M là trung điểm của đoạn thẳng AB. Qua M vẽ đường thẳng xy vông góc với đoạn thẳng AB.
Như vậy khi học sinh đã nắm được khái niệm và kỹ năng nói trên thì việc tiếp thu bài mới không mấy khó khăn. 
	Trong thực hiện việc tạo tiền đề đảm bảo trình độ xuất phát cần chú ý các yêu cầu sau:
 - Mỗi bài toán phải được thực hiện qua nhiều bước, hướng dẫn và yêu cầu cách thực hiện thành thạo từng bước một.
- Tổ chức phân dạng bài tập một cách khoa học, chi tiết, cung cấp cho học sinh các dạng bài tập một cách có hệ thống.
- Soạn thêm nhiều bài tập đơn giản và tương tự cho từng dạng để các em tự làm, qua đó các em được lặp lại nhiều lần, giúp các em dễ khắc sâu kiến thức.
Sau khi kiến thức lớp dưới đã được bù đắp và bằng cách hạ thấp yêu cầu đến mức tối thiểu ở các dạng bài tập tôi nhận thấy các em học sinh đã xích lại gần nhau hơn, tiếp thu bài mới tốt hơn, yêu thích học môn toán hơn.
2.3.2.2) Thực hiện biện pháp lấp "lỗ hổng" về kiến thức và kỹ năng cho học sinh:
Qua tìm hiểu thực tế cho thấy: Kiến thức có nhiều "lỗ hổng" là một "bệnh " phổ biến của học sinh yếu kém toán. Vai trò của việc đảm bảo trình độ xuất phát là cần thiết nhưng chỉ để phục vụ cho nội dung sắp học . Còn việc lấp lỗ hổng về kiến thức kỹ năng là nhiệm vụ cần thiết nhưng mang tính tổng quát không phụ thuộc ý đồ chuẩn bị cho một bài học cụ thể nào sắp tới.
Trong quá trình dạy học người thầy cần quan tâm phát hiện những lỗ hổng về kiến thức, kỹ năng của học sinh. Tìm ra những "lỗ hổng" điển hình đối với học sinh yếu kém mà ở trên lớp vì điều kiện thời gian chưa khắc phục được để có kế hoạch tiếp tục giúp đỡ. 
	Trong quá trình giảng dạy, tôi thấy ở học sinh yếu kém toán lớp 7 thường bị hổng kiến thức chủ yếu ở phần tập hợp số nguyên, các kỹ năng như thực hiện các phép tính trên số nguyên, quy đồng mẫu các phân số.... ở số học. Còn về hình học, học sinh thường vẽ hình theo diễn đạt còn kém. các khái niệm về trung điểm của đoạn thẳng, tia phân giác của góc còn chưa nắm vững...
	Bởi thế tôi tập trung thời gian và sức lực cho việc bù đắp những lỗ hổng này cho các nhóm học sinh vào các buổi học phụ kém và cả giao bài về nhà.
 Ở các buổi học phụ đạo học sinh yếu, kém tôi đã hệ thống hoá những kiến thức, kỹ năng còn hổng cho học sinh và đặc biệt chú ý đến hệ thống các bài tập chứa đựng nội dung kiến thức và kỹ năng cần bù đắp.
Chẳng hạn: 
Với nhóm học sinh yếu về kỹ năng cộng trừ số nguyên thì một mặt ở giờ học phụ kém tôi giúp các em nhớ lại cách thực hiện đồng thời cho các em thực hành nhiều lần với bài tập đơn giản vừa sức để các em mau chóng lấy lại được kiến thức và kỹ năng cơ bản. Mặt khác tôi giao bài tập về nhà và phân công học sinh khá kiểm tra giúp đỡ, hướng dẫn thêm cho nhóm.
Ở các nhóm khác tôi cũng tiến hành tương tự.
Ngoài ra, thông qua quá trình học lí thuyết và làm bài tập của học sinh tôi đã cố gắng tập cho học sinh có ý thức tự phát hiện những lỗ hổng của mình và biết cách tra cứu sách vở, tài liệu để tự mình lấp những "lỗ hổng" đó.
Ví dụ: Khi dạy về bài Lũy thừa với số mũ tự nhiên giáo viên cần:
Hệ thống lại kiến thức cơ bản:
a. Định nghĩa
 an = (n Î N*)
	 n thừa số
b. Một số tính chất
 Với a, b, m, n Î N
	am. an = am+n, am. an . ap = am+n+p (p Î N)
	am : an = am-n 	(a ≠ 0, m > n)
	(a.b)m = am. bm 	(m ≠ 0)
	(am)n = am.n (m,n ≠ 0)
 Quy ước	
	a1 = a
	a0 = 1 	(a ≠ 0)
 Với : x, y Î Q; m, n Î N; a, b Î Z
xn = 	(x Î N*)
 n thừa số
	(b ≠ 0, n ≠ 0)
xo = 1
xm . xn = xm+n
	(x ≠ 0)
x-n = 	(x ≠ 0)
	(xm)n = xm.n
	(x.y)m = xm. ym
	(y ≠ 0)
Bài tập : Tìm x biết rằng
 a, x3 = -27	b, (2x – 1)3 = 8
 c, (x – 2)2 = 16	 d, (2x – 3)2 = 9 
 Đối với bài toán này học sinh chỉ cần nắm vững kiến thức cơ bản có thể dễ dàng làm được, lưu ý với số mũ chẵn, học sinh cần xét hai trường hợp:
 a, x3 = -27	 b, (2x – 1)3 = 8
 x3 = (-3)3	 (2x – 1)3 = (-2)3	
=> x = -3	 => 2x – 1 = - 2 
Vậy x = - 3	 2x = -2 + 1
	 2x = - 1
	 => x = 
 Vậy x = 
	c, (2x – 3)2 = 9 => (2x – 3)2 = (-3)2 = 32
 	=> 2x -3 =3 hoặc 2x -3 = -3
	 2x = 6	 2x = 0
	x = 3	 x = 0
	 Vậy x = 3 hoặc x = 0 .
	d , (x - 2)2 = 16 => (x - 2)2 = (-4)2 = 42
	 => x – 2 = -4 hoặc x – 2 = 4
	 x = -2	 x = 6
	Vậy x = -2 hoặc x = 6
2.3.2.3) Giúp học sinh yếu kém luyện tập đảm bảo vừa sức 
	Đối với học sinh yếu kém, thầy giáo nên đặt quan điểm đảm bảo tính vững chắc của kiến thức lên hàng đầu. Việc luyện tập theo trình độ chung sẽ không phù hợp với học sinh yếu kém, vì vậy nhóm này cần nhiều thời gian luyện tập hơn. 
	Trước hết phải làm cho các em hiểu rõ đề bài: Đề bài cho biết cái gì? yêu cầu cái gì?
Nếu học sinh không hiểu đề bài thì không thể tiếp tục quá trình giải toán để đưa lại kết quả đúng được. Do đó giáo viên cần dành nhiều thì giờ giúp các em vượt qua được vấp váp đầu tiên này.
	Để rèn một kiến thức hay kỹ năng nào đó thì số lượng bài tập cùng mức độ cùng thể loại đối với các em yếu kém cần nhiều hơn bình thường, cùng mức độ . Do đó giáo viên cần chú ý gia tăng số lượng bài tập cùng thể loại . Ngoài ra các bài tập phải được phân bậc với mức độ gần nhau.
 Cụ thể: 
	Khi dạy bài : "Cộng, trừ số hữu tỉ ". Phần bài tập về nhà cho đối tượng học sinh yếu, kém tôi ra các dạng như sau:
Bài 1: Tính
 a) ; 
 b) 	; 
Bài 2: Tính
 a) 	; 
 b) ; 
 Bài 3: Tìm x, biết
 a) 	; 
 b) 	; 
 	Thông thường khi ra bài tập cho đối tượng học sinh yếu, kém không nên ra quá nhiều và khó, các dạng bài tập phải vừa sức với các em đặc biệt là có kiểm tra, chấm, chữa và cho điểm để động viên, khuyến khích các em.
	Được bước đi theo từng bậc thang vừa sức với mình, các em yếu kém sẽ tự tin hơn, không còn cảm giác bị hụt hẫng và sợ ngã. Sự tự tin giúp các em có thể tự leo hết các nấc thang dành cho mình. Từ đó dần dần chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng cơ bản cần thiết. Các bậc thang dù có thấp song sự kiên trì và nghị lực mới là điều quan trọng giúp các em vượt qua tình trạng yếu kém hiện tại.
2.3.2.4) Giúp đỡ học sinh rèn luyện kỹ năng học tập,có phương pháp học tập phù hợp.
 	Một thực tế vẫn xảy ra thường xuyên là học sinh không biết cách học như thế nào cho có hiệu quả. Các em do không có kỹ năng học tập nên thường chưa học kỹ, thậm chí chưa hiểu lý thuyết đã lao vào làm bài tập, đọc chưa kỹ đề đã đặt bút vào làm bài, trong khi làm bài các em thường vẽ hình cẩu thả, viết nháp lộn xộn...Vì thế việc hướng dẫn các em phương pháp học cũng đóng vai trò hết sức quan trọng.
	Trước hết cần nói rõ yêu cầu sơ đẳng của việc học tập toán: 
- Phải nắm vững lý thuyết trước khi làm bài tập.
- Trước một bài tập cần đọc kỹ đầu bài, vẽ hình rõ ràng, viết nháp cẩn thận.
- Sau khi học xong một chương cần giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức (tốt nhất là bằng bảng hoặc bằng sơ đồ). Tóm tắt lý thuyết cơ bản và các công thức quan trọng cũng như cách giải một số dạng toán cơ bản và dán vào góc học tập. 
 Ví dụ 1: Không giải phương trình hãy xác định số nghiệm của phương trình sau:
1,7x2 – 1,2x – 2,1 = 0
 = 1,22 - 4.1,7.2,1
 = - 12,84 < 0 
 Phương trình vô nghiệm.
 Sai: 
 - Xác định sai các hệ số từ đó dẫn đến việc tính biệt thức đenta và xác định số nghiệm sai.
 - HS không biết tìm hiểu kỹ đầu bài một cách tổng quát từ đó HS không thấy được phương trình đã có a.c < 0 để dựa vào chú ý mà kết luận nghiệm của phương trình đã cho mà không cần phải tính biệt thức đenta.
Ví dụ 2: Phân tích đa thức x2 – xy + x – y thành nhân tử.
Cách 1: nhóm (x2 – xy) và (x – y)
Cách 2: nhóm (x2 + x) và (– xy – y )
Lời giải sai: x2 – xy + x – y = (x2 – xy) + (x – y)
= x(x – y) + (x – y)
= (x – y)(x + 0) (kết quả dấu sai vì bỏ sót số 1)
Sai lầm của học sinh là: bỏ sót hạng tử sau khi đặt nhân tử chung
(HS cho rằng ở ngoặc thứ hai khi đặt nhân tử chung (x – y) thì còn lại là số 0) 
Lời giải đúng: x2 – xy + x – y = (x2 – xy) + (x – y)
 = x(x – y) + 1.(x – y)
 = (x – y)(x + 1)
2.4. Kết quả đạt được
Qua một số kinh nghiệm mà tôi đã đưa ra ở trên, bản thân tôi thấy với cách chủ động tự nêu vấn đề và giải quyết vấn đề có sự giúp đỡ của giáo viên làm cho học sinh có hứng thú trong khi học và giúp cho học sinh có thói quen" suy nghĩ ", giải quyết bài toán ở nhiều góc độ khác nhau thông qua một bài toán đơn giản bằng tư duy khái quát hóa để làm được bài toán khó hơn, từ đó các em học sinh hình thành tư duy của mình biết tự phát triển tư duy khi học môn hình học nói chung, môn toán nói riêng. Vấn đề này giúp học sinh giải quyết một bài toán chắc chắn hơn, sáng tạo hơn.
Những năm trước đây khi chưa sử dụng phương pháp mới mỗi lớp có tới 20 30% học sinh yếu, kém. Nhưng với cách làm này năm học vừa qua 2014 - 2015 chỉ còn 5 15% học sinh học yếu, kém và cứ tiếp tục cách làm như vậy tôi tin chắc rằng học sing yếu, kém ở trường THCS sẽ giảm rõ rệt.
 Hơn thế nữa qua cách làm này, các em rất hứng thú và yêu thích môn toán hơn, tự tin hơn trong học tập và đã đạt được một số kết quả tương đối tốt.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Như vậy việc giúp đỡ học sinh yếu, kém học tốt môn toán là việc làm rất khó khăn lâu dài đòi hỏi giáo viên phải có tình thương, một chút hy sinh và tinh thần trách nhiệm.
 	Việc sắp xếp thời gian thích hợp ngoài giờ lên lớp để bổ trợ kiến thức bị hổng cho học sinh yếu, kém đó là một khó khăn không phải ai cũng làm được. Mà phải có sự tận tâm hy sinh cao cả của người thầy tất cả vì tương lai các em. Do vậy rất cần đến sự chia sẻ từ phía lãnh đạo và các cấp ngành giáo dục. 
Mỗi người thầy có một cách làm riêng, song với cách làm nêu trên với thành công ban đầu thiết nghĩ đó là kết quả đáng phấn khởi đối với người thầy dạy toán. Việc làm này không dễ thành công trong ngày một ngày hai mà phải là sự cố gắng bền bỉ và tận tuỵ thì mới mong mang lại kết quả tốt.
Với vốn kiến thức của mình còn hạn hẹp, bề dày kinh nghiệm còn khiêm tốn, nên không tránh khỏi những hạn chế khiếm khuýêt. Vậy rất mong hội đồng xét duyệt góp ý, bổ sung để kinh nghiệm giảng dạy của tôi ngày càng phong phú và hữu hiệu. Mong các đồng nghiệp góp ý và bổ sung cho đề tài được hoàn thiện hơn.
3.2. Kiến nghị
Để thực hiện đề tài có hiệu quả cần:
	- Nhà trường cần tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm để xác định đối tượng học sinh yếu kém.
	- Có kế hoạch phụ đạo học sinh yếu, kém kịp thời.
	- Nâng cao chất lượng đại trà của các khối lớp bằng các buổi học ngoài giờ chính khoá và đặc biệt tăng cường các buổi phụ đạo cho học sinh yếu kém.
	- Tăng cường phối hợp giữa gia đình với nhà trường, giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm để tạo ra một sức mạnh tổng hợp.
	- Phát động các đợt thi đua học tập trong công tác Đội. Tổ chức các câu lạc bộ giúp nhau học tập....
 Quảng Trực, ngày tháng 3 năm 2015 
 Giáo viên thực hiện:
 Bạch Xuân Lương
MỤC LỤC
TT
Tên mục
Trang
1
MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
1
2
2 - 3
3
3
3
2
NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề
2.2. Thực trạng của vấn đề
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
2.4. Kết quả đạt được
3
3
3-4
4 -14
14-15
3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
15
15
15-16
 ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CẤP TRƯỜNG
 ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CẤP HUYỆN

File đính kèm:

  • docSKKN.doc
Sáng Kiến Liên Quan