Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp dạy hình thành số ở lớp 1

Toán học có vị trí rất quan trọng vì kiến thức toán học có rất nhiều ứng dụng trong đời sống hàng ngày. Ngay từ khi lớp 1,trẻ luôn tò mò, ham thích tìm hiểu toán học, tìm hiểu không gian xung quanh. Khơi dậy những tiềm năng này sẽ tạo nên hứng thú học toán, thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của trẻ . Dạy học về quá trình hình thành số trong sách giáo khoa toán 1 nhằm giúp học sinh:

 Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản thiết thực về phép đếm, về hình thành các số trong phạm vi 100.

 Hình thành và rèn luyện các kỹ năng thực hành, đọc đếm, viết, so sánh các số trong phạm vi 100. Tập dượt so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh về quá trình hình thành số trong sách giáo khoa toán 1. Những kỹ năng đó giúp học sinh chăm chỉ tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học toán, vì thế “ Quá trình hình thành số ” rất quan trọng trong chương trình toán 1,đồng thời nó xuyên suốt bậc tiểu học. Cũng như bao môn học khác môn toán được đưa vào dạy ngay từ đầu cấp học từ lớp 1 và cũng là một trong những môn quan trọng cần bồi dưỡng cho học sinh giỏi, không ngoài mục đích đào tạo các em trở thành những nhà toán học, nhà khoa học mà còn giáo dục các em trở thành những con người mới phát triển toàn diện, con người năng động sáng tạo, tự chủ thực sự để phù hợp với yêu cầu của thời đại mới, thời đại của khoa học thông tin kỹ thuật hiện đại như mục tiêu giáo dục đã đề ra.

 

doc11 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 30/12/2015 | Lượt xem: 8294 | Lượt tải: 217Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp dạy hình thành số ở lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Đề tài sáng kiến
Một số phương pháp dạy hình thành số ở lớp 1
A- Đặt vấn đề :
 	Toán học có vị trí rất quan trọng vì kiến thức toán học có rất nhiều ứng dụng trong đời sống hàng ngày. Ngay từ khi lớp 1,trẻ luôn tò mò, ham thích tìm hiểu toán học, tìm hiểu không gian xung quanh. Khơi dậy những tiềm năng này sẽ tạo nên hứng thú học toán, thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của trẻ . Dạy học về quá trình hình thành số trong sách giáo khoa toán 1 nhằm giúp học sinh:
 Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản thiết thực về phép đếm, về hình thành các số trong phạm vi 100. 
 Hình thành và rèn luyện các kỹ năng thực hành, đọc đếm, viết, so sánh các số trong phạm vi 100. Tập dượt so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh về quá trình hình thành số trong sách giáo khoa toán 1. Những kỹ năng đó giúp học sinh chăm chỉ tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học toán, vì thế “ Quá trình hình thành số ” rất quan trọng trong chương trình toán 1,đồng thời nó xuyên suốt bậc tiểu học. Cũng như bao môn học khác môn toán được đưa vào dạy ngay từ đầu cấp học từ lớp 1 và cũng là một trong những môn quan trọng cần bồi dưỡng cho học sinh giỏi, không ngoài mục đích đào tạo các em trở thành những nhà toán học, nhà khoa học mà còn giáo dục các em trở thành những con người mới phát triển toàn diện, con người năng động sáng tạo, tự chủ thực sự để phù hợp với yêu cầu của thời đại mới, thời đại của khoa học thông tin kỹ thuật hiện đại như mục tiêu giáo dục đã đề ra.
 Từ mục tiêu của giáo dục tiểu học sự chỉ đạo của phòng giáo dục Vũ Thư, của trường Tiểu học Vũ Vân, từ công việc của bản thân năm nào cũng dạy toán 1, tôi thấy học sinh có nắm chắc được cách đếm, đọc, viết số, cấu tạo số, so sánh số và nắm được thứ tự của dãy số, cách tìm số liền trước, số liền sau, các số có 1 chữ số, các số có 2 chữ số, số chẵn số lẻ, chữ số và số, số tròn chục thì mới học sinh mới học tốt được môn toán. Từ nhận thức trên tôi khẳng định rằng học sinh học tốt các số trong phạm vi 100 thì đó chính là cơ sở thúc đẩy quá trình học tốt môn Toán 1.Vì thế mà trong việc dạy toán tôi đặc biệt chú trọng tới việc dạy hình thành số cho học sinh lớp 1 và chọn đề tài kinh nghiệm “Dạy hình thành số cho học sinh lớp 1” để trình bày 1 số kinh nghiệm của bản thân.
	Đề tài được xây dựng trên phạm vi lớp 1 trường Tiểu học Vũ Vân và giới hạn đề tài là tổng kết đúc rút kinh nghiệm của bản thân và đồng nghiệp.
B- Giải quyết vấn đề
I. Những phát hiện:
1. Với học sinh:
 Học sinh lớp 1 là lớp đầu cấp các em bắt đầu đến trường nên tâm lý vừa phấn khởi vừa háo hức lại vừa có tâm trạng sợ sệt bước đầu làm quen với việc học các số trong phạm vi 100 các em dễ nhớ, dễ quên chưa có phương pháp học tập, chưa có ý thức học tập, chưa hiểu rõ bản chất của dãy số tự nhiên trong phạm vi 100.
- Đọc, viết số còn sai.
- Chưa nắm đựơc thứ tự dãy số tự nhiên từ 0 đến 100.
- Chưa nắm được cấu tạo các số trong phạm vi 100. 
- Khả năng so sánh số còn hạn chế.
- Chưa biết tìm số liền trước số liền sau còn hạn chế.
- Chưa biết cách sắp xếp thứ tự các số 
- Sử dụng bộ đồ dùng chưa hợp lý.
 2. Đối với giáo viên:
 Muốn dạy tốt môn Toán cho học sinh lớp 1 thì yêu cầu người giáo viên phải nắm chắc nội dung chương trình kiến thức cần đạt được của học sinh sau khi học xong chương trình lớp 1.
 Phải chuẩn bị bài chu đáo, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học trong môn Toán. Đặc biệt phải sử dụng linh hoạt đồ dùng trực quan trong các tiết học; vì học sinh nắm kiến thức thông qua hình ảnh trực quan và những ví dụ thực tế gần gũi với cuộc sống hàng ngày của học sinh để khắc sâu kiến thức cho học sinh phải rèn cho học sinh tính tự giác tích cực chủ động nắm kiến thức trong học tập.
 Phải rèn cho học sinh sử dụng tốt bộ đồ dùng toán 1, phải rèn cho học sinh có kỹ năng đếm đọc viết, so sánh, cấu tạo, sắp xếp, thứ tự số một cách thành thạo. Giáo viên phải đọc viết số đúng, đẹp, chuẩn.
 Phải kiểm tra đánh giá học sinh đúng quy định. Qua mỗi lần kiểm tra đều rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy, động viên khen thưởng kịp thời.
 3. Đối với phụ huynh
 Phụ huynh phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, dụng cụ học tập cho học sinh như: SGK, bảng phấn, vở ghi, thước,  và phải chuẩn bị cho học sinh một góc học tập đúng quy định.
II. Hệ thống các biện pháp để thực hiện:
 - Ngay từ đầu năm học, sau khi nhận lớp tôi đã tìm hiểu lực học của học sinh, phân loại học sinh để có biện pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh.
 - Phải nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng trực quan và sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học trong giảng dạy.
 - Soạn bài trước một tuần theo phương pháp mới: Lấy học sinh làm trung tâm trong các tiết dạy, học sinh chủ động nắm kiến thức.
 - Hình thành và rèn cho học sinh kỹ năng đếm, đọc, viết, so sánh, sắp xếp thứ tự số, nắm chắc cấu tạo số.
 - Rèn cho học sinh biết vận dụng kiến thức toán học vào trong cuộc sống hàng ngày,vận dụng các số đã học trong phạm vi 100 để làm tốt các dạng bài tập toán trong chương trình toán 1.
 - Khuyến khích học sinh lấy được những ví dụ cụ thể cho mỗi bài học để khắc sâu kiến thức cho học sinh.
 - Hướng dẫn, rèn luyện kỹ năng đọc, viết đúng các số dễ viết sai dễ lẫn như: “21 đọc là: Hai mươi mốt chứ không đọc là Hai mươi một; 75 đọc là Bảy mươi lăm chứ không đọc là Bảy mươi năm ”. Bằng cách yêu cầu các em đọc đi đọc lại cách đọc, viết đi viết lại nhiều lần để ghi nhớ.
Cụ thể :
 1 . Giới thiệu các số trực giác (các số từ 1 đến 5):
 Các số 1, 2, 3, 4, 5 là các số tự nhiên đầu tiên rất gần gũi với cuộc sống trẻ em. Bằng kinh nghiệm sống và quá trình học mẫu giáo, trẻ em 6 tuổi đã có biểu tượng đúng về các số 1, 2, 3, 4, 5 trước khi vào lớp 1. Trên thực tế, khi yêu cầu trẻ 5, 6 tuổi lấy 2 cái bát, 4 cái đũa, 5 cái chén thì nhiều em đã thực hiện công việc đó một cách dễ dàng. Thậm chí, khi cần so sánh số lượng ở 2 nhóm que tính, nhiều học sinh nói ngay được là 5 que nhiều hơn 2 que tính . Mặc dù các em đã chưa óc giới thiệu về so sánh số. Điều đó chứng tỏ biểu tượng về số và so sánh số đã có rất sớm ở trẻ 6 tuổi. Có lẽ vì thế mà các số1, 2, 3, 4, 5 được gọi là các số trực giác. Trong chương trình toán lớp 1 chỉ có 2 tiết giới thiệu về các số từ 1 đến 5. Nên khi dạy phần này tôi thường chú ý tới việc giới thiệu số với việc dạy viết các chữ số. Sau đó, tôi thường dẫn dắt các em lấy nhiều ví dụ cụ thể ở xung quanh lớp học, trong đời sống thực tế để học sinh có biểu tượng rõ hơn về số.
 Ví dụ: Có 1 bảng lớp, lớp có 1 cô giáo, có 1 cửa ra vào, có 1 mặt trăng
- Mỗi người có 2 tay, 2 mắt, 1 đôi dép có 2 chiếc, .
- Xe xích lô có 3 bánh, xe đạp 3 bánh ở trẻ em, 
- Con trâu có 4 chân, ô tô có 4 bánh, 
- Bàn tay có 5 ngón tay, ngôi sao có 5 cánh, tổ em có 5 bạn, 
 Từ những ví dụ cụ thể trên tôi thấy học sinh nắm chắc bài hơn và thực hành trong vở bài tập đúng hơn.
2. Hình thành các số từ 6 đến 10:
 a) Với các số từ 6 đến 10 tôi hình thành cho học sinh theo cách thêm 1, như 5 thêm 1 được 6, 6 thêm 1 được 7, 
 Làm tương tự như vậy tôi xây dựng cho học sinh các số 8,9,10.
 - Khi dạy bài số 0 tôi vận dụng từ tình huống thực tế theo cách bớt dần từ 1 cho đến hết. Chẳng hạn tôi hướng dẫn học sinh quan sát tranh vẽ trong SGK toán và nêu: Trong bình có 3 con cá, vớt ra 1 con cá thì bình còn mấy con cá? (1 con cá) vớt tiếp 1 con nữa thì trong bình còn mấy con cá? (Không còn con cá nào). Từ đó tôi nêu tiếp: Để chỉ trong bình không còn con cá nào ta dùng số: 0.
 Và như vậy tôi hướng dẫn học sinh nhận biết có mười chữ số để bểu diễn các số từ 0 đến 9. Đó là các số : 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 chữ số đầu này đều là số có 1 chữ số.
 b, Với việc hướng dẫn hình thành số 10:
 + Số 10 được hình thành sau số 9: 10 bằng 9 thêm 1.
 + Số 10 được viết bởi 2 chữ số là chữ số 1 đứng trước và chữ số 0 đứng sau viết:10
 - Khi biểu diẽn số 10 tôi hướng dẫn học sinh sử dụng bộ đồ dùng toán bằng cách sử dụng chữ số 1 và chữ số 0 gắn cạnh nhau, 10 là số tự nhiên đầu tiên được biểu diễn thông qua các chữ số đã có. Bằng cách đó tôi lần lượt hướng dẫn học sinh biểu diễn các số tự nhiên thông qua 10 chữ số ban đầu. Từ đó tôi khắc sâu để học sinh hiểu: 
 Trong các số từ 0 đến 10 thì:
+ 0 là số tự nhiên bé nhất.
+ 9 là số có một chữ số lớn nhất.
+ 10 là số nhỏ nhất có hai chữ số .
3 . Hình thành “một chục” 
 Trong cuộc sống một số đồ vật hoặc một số đối tượng thường được gộp thành một đơn vị mới.
 Ví dụ: 5 ngón tay hợp thành một bàn tay: Như vậy “bàn tay” là đơn vị cao hơn bàn ngón tay.
 - 2 chiếc giày hợp thành một đôi giày. Đôi giày là đơn vị cao hơn chiếc giày. Ngày là đơn vị cao hơn giờ, năm là đơn vị cao hơn tháng, trường học cao hơn "lớp học”
 Những đơn vị cao hơn được ra đời do nhu cầu của cuộc sống để có thể đếm và biểu diễn các số lớn hơn một cách tiện lợi hơn, đơn giản hơn .Vì vậy tên gọi giá trị của đơn vị hàng cao hơn bằng bao nhiêu đơn vị hàng thấp là do quy ước, chẳng hạn trong thực tế thì:
 + 1 đôi giày bằng 2 chiếc giày (cùng cỡ, cùng màu, 1 chiếc bên phải một chiếc chân phải một chiếc chân trái ). 
 + 1 năm bằng 12 tháng, 1 ngày có 24 giờ,
 Vì vậy khi hình thành khái niệm “1 chục” tôi hướng dẫn học sinh qua các ví dụ cụ thể:
+ 10 que tính bó lại ta được 1 chục que tính .
+ 10 quả trứng gà ta nói 1 chục trứng 
+ 10 cái bát ta nói có 1 chục cái bát.
+ 10 quả cam là 1 chục quả cam  để rồi dẫn dắt học sinh nêu được: 10 đơn vị bằng 1 chục.
 - Như vậy “chục” là “đơn vị” hàng cao hơn đơn vị. Trong cuộc sống ta hay nói : mua hai chục trứng, mua một chục bát, 
 - Về số lượng 10 đơn vị là 1 chục là bằng nhau nhưng khác nhau về bản chất khái niệm . “Chục” là đơn vị hàng cac hơn, được hình thành qua đơn vị, để rồi chục lại là cơ sở hình thành các số lớn hơn tiếp theo. Khái niệm “chục” ra đời mở đầu quá trình biểu diễn các số tự nhiên theo hệ thập phân tiếp theo ở lớp trên: 
10 đơn vị = 1 chục .(chữ số 1 chỉ một chục , chữ số 0 chỉ không đơn vị)
10 chục bằng 100
10 trăm bằng 1 nghìn 
 Để học sinh hiểu cứ 10 đơn vị ở hàng thấp làm thành 1 đơn vị ở hàng cao hơn liền nó. Mỗi số tự nhiên đều được biểu diễn qua 10 chữ số 0 , 1 , 2 , 3 , 4 , 5 , 6, 7 , 8 ,9. Như vậy tập hợp số tự nhiên ở tiểu học được biểu diễn theo hệ thập phân .
4 . Hình thành các số từ 11 đến 100: 
 ở phần này hình thành các số từ 11 đến 100 được chia làm 4 phần nhỏ.
 a. Hình thành các số tự nhiên từ 11 đến 19: Tôi hướng dẫn học sinh hình thành theo cách: 
 Lấy 1 chục gộp với một số (từ 1 đến 9)
Ví dụ + 1 chục và 1 đơn vị gọi là 11 , viết là 11 
 + 1 chục cộng 2 đơn vị gọi là mười hai, viết là 12
 + 1 chục và 9 đơn vị gọi là mười chín , viết là 19
 b. Hình thành các số tròn chục: Thông qua các chục, tôi dẫn dắt học sinh bằng ví dụ như :
+ 2 chục là hai mươi, viết là 20.
+ 3 chục là ba mươi, viết là 30.
+ 9 chục là chín mươi, viết là90.
 c. Hình thành các số từ 21 đến 99: Với các số này, tôi hình thành cách nêu số chục và số đơn vị: Ví dụ: 2 chục và 3 đơn vị là hai mươi ba, viết là 23:
 + 3 chục và 1 đơn vị là ba mươi mốt, viết là 31.
 + 9 chục và 9 đơn vị là chín mươi chín, viết là99.
 d. Khi hình thành số 100 tôi hướng dẫn học sinh sử dụng tia số để nêu được số liền sau số 99 là 100, đọc là một trăm.
 e. Khi dạy về tia số, tôi hướng dẫn học sinh hiểu: Tia số là sự biểu diễn các số trên tia theo nguyên tắc:
 0 1 2 	 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14... 
 + Các điểm trên tia số được cách đều nhau một khoảng cách bằng nhau và mỗi điểm trên tia số ứng vối một số
 + Số 0 ứng với điểm gốc của tia
 + Số 1 đứng sau (bên phải) của số 0, tương tự như vậy thì số 2 đứng sau số 1, số 11 đứng sau số 10
 - Tôi hướng dẫn nhìn vào tia số ta thấy số 0 là số bé nhất đứng ở đầu tia số; số 1 đứng liền sau số 0, số 2 đứng liền sau số 1  số 11 đứng liền sau số 10,  Ngược lại số 0 đứng liền trước số 1, số 1 đứng liền trước số 2, 
 Cũng trên tia số tôi cho học sinh nhìn thấy hình ảnh trực quan về thứ tự các số trên tia số, từ trái sang phải và các số được sắp xếp theo thứ tự từ bé đến lớn.
 Tương tự tôi cũng yêu cầu học sinh học nhìn vào tia số để có thể so sánh các số chẳng hạn: 
+ 15 đứng trước 21 nên 15 15.
+ 83 đứng sau 79 nên 83 > 79 hay 79 < 83.
 Như đã nêu ở trên: Các số 10, 20, 30 , ., 90 là các số tròn chục.
 + Số liền sau 99 là 100.
 Nếu theo cách nêu ở các số tròn chục thì các số: 20, 30, , 90 không được hình thành như là một số liền sau của 19, 29, ..., 89. Vì hệ số 100 không được hình thành như một số tròn chục.
 Tuy nhiên tôi hướng dẫn học sinh có thể coi số 20, 30, ,90 là số liền sau của 19, 29, .., 89. 
 Nhờ quan sát trên tia số hoặc có thể lập theo cách:
20 = 10 +10	hoặc 30 = 20 +10
 = 10 +9 +1	 = 20 + 9 +1
 = 19 +1 = 29 +1
 Từ đó ta có thể nêu: tương tự như trên thì : 100 = 99 + 1
 = 90 + 9 + 1 
 = 90 + 10
	 = 9 chục + 1chục
 	 = 10 chục
 Từ đó để học sinh tự rút ra được : 100 = 10 chục	
 Khi dạy về cấu tạo thập phân của số tự nhiên tôi thường dẫn dắt học sinh theo các câu hỏi gợi ý sau:
Số 75 có mấy chữ số? (hai chữ số).
Số 75 gồm mấy chục và mấy đơn vị? (gồm 7 chục và 5 đơn vị).
Từ câu gợi ý trên học sinh sẽ tự nêu được:
 75 = 70 + 5 từ cấu tạo đó học sinh nêu được cách đọc số là: Bảy mươi lăm (7 là số chục, 5 là đơn vị ).
 Để học sinh nắm chắc hơn về cách đọc số 5 ở hàng đơn vị trên tôi đưa ra câu hỏi: “Tại sao em đọc là “Bảy mươi lăm’’ mà không đọc là “Bảy mươi năm”? nhằm kiểm tra lại kiến thức cũ học sinh đã học (bài này đã học ở phần hình thành số 15 tiết 71).
 Do đó học sinh dễ dàng trả lời được số 5 khi đứng ở hàng đơn vị mà hàng trước nó là 0 thì đọc là “năm ”: ( Ví dụ: 105 đọc là Một trăm linh năm).
 Còn số 5 đứng ở hàng đơn vị mà ở hàng trước nó là các số từ 1 đến 9 thì đọc là “ lăm” (Ví dụ: 45 đọc là Bốn mươi lăm )
 Từ đó học sinh nêu được 100 gồm 10 chục ( chữ số 0 bên phải chỉ hàng đơn vị: 10 là số chỉ hàng chục nên 10 chục = 100.
 - 100 là số có 3 chữ số đầu tiên mà học sinh lớp 1 được học trong đó chữ số 1 là chỉ hàng trăm chữ số 0 đứng liền sau số 1 chỉ 0 chục, chữ số 0 bên phải chỉ 0 đơn vị.
 - Chú ý :Để đạt hiệu quả cao trong quá trình hình thành các số từ 0 đến 100 giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh : Nhận biết được số lượng, thứ tự, biết đọc, viết, đếm, các số từ 0 đến 100.đặc biệt phải hướng dẫn cho học sinh tập đếm, đếm để hình thành, củng cố biểu tượng về số.Giáo viên có thể cho học sinh đếm từ 1 đến 5, từ 1 đến 20;đếm "lùi" từ 5 (10,20) về 1;đếm theo chục từ 10 đến 100.Dạy đếm dễ thực hiện, tổ chức như một trò chơi.Cho học sinh tập đếm làm cho lớp học vui, học sinh hào hứng mà hiệu quả dạy toán cao.Mặt khác việc tập đếm còn giúp học sinh củng cố thứ tự các số, đồng thời bước đầu hình thành biểu tượng về các phép tính . Việc đếm trong sách giáo khoa đề cập chưa nhiều nhưng biết đếm rất quan trọng để học tính . tập đếm là cơ sở các phép tính , nếu học sinh biết đếm thành thạo thì dễ dàng tiếp thu và nắm vững các phép tính sau này. Chẳng hạn, với học sinh có điều kiện hoặc khi học phép tính , giáo viên có thể hướng dẫn hoặc tổ chức cho học sinh tập đếm cách 2 từ 0 đến 20(0,2,4,6,8,.....): đếm "lùi " cách 2 từ 20 về 0(20,18,16,14,12,...); đếm cách 3, cách 5 từ 0 đến 30,50,....
 Tóm lại: Để giúp các em học tốt được môn toán 1 cần rèn cho các em kỹ năng đếm, đọc, viết, so sánh, nắm chắc cấu tạo, sắp xếp thứ tự số trong phạm vi 100.
 3 - Kết quả:
 - 100% số học sinh trong lớp đọc, viết đúng các số trong phạm vi 100.
 - Nắm chắc cấu tạo số, biết so sánh số, biết sắp xếp thứ tự số, biết cách tìm số liền trước số liền sau của 1 số. Nắm được các khái niệm như : số và chữ số, chục, các số tròn chục, số có 1 chữ số, số có 2 chữ số, số lớn nhất có 1 chữ số, số bé nhất có 1 chữ số, số lớn nhất, bé nhất có 2 chữ số, số có 2 chữ số giống nhau.
 - Biết vận dụng kiến thức về các số đã học để làm tốt các dạng bài tập toán 1, các bài toán nâng cao lớp 1.
 - Bằng những việc làm trên năm học nào lớp tôi cũng đạt chất lượng cao về môn toán cụ thể : 100% số học sinh đọc, viết số đúng đẹp, 90- 95 % số học sinh xếp loại học lực khá, giỏi về môn toán,trong năm học có 5 em đạt học sinh giải toán trên mạng cấp huyện .
 - Giáo viên nhiệt tình trong giảng dạy, được bạn bè đồng nghiệp tin yêu, ban giám hiệu tin tưởng, học sinh chăm ngoan học giỏi.
III, Bài học kinh nghiệm:
 Để học sinh học tốt môn Toán 1 thì trong quá trình dạy "hình thành số cho học sinh lớp 1" giáo viên phải có tâm huyết với nghề, phải chuẩn bị chu đáo cho 
từng tiết dạy đặc biệt phải chuẩn bị kỹ đồ dùng trực quan, tăng cường sử dụng phương pháp trực quan một cách có hiệu quả, lấy những ví dụ cụ thể gần gũi với cuộc sống thực tế để học sinh nắm chắc được số lượng,cấu tạo số, đọc viết số một cách chắc chắn. 
 Chú ý dạy cho học sinh tập đếm: đếm xuôi, đếm ngược các số từ 0 đến 100 theo nội dung từng bài cụ thể trong sách giáo khoa Toán 1.
 Tổ chức trò chơi trong tiết học toán để học sinh vui mà học, thích học toán
 Tuyên dương khen thưởng những em có tiến bộ và thường xuyên giúp đỡ động viên những em đọc, viết số còn yếu và kịp thời sửa lỗi sai cho cho các em một cách nhẹ nhàng . 
 Bằng một số phương pháp giảng dạy hợp lý trên, tôi nhận thấy các em thích học Toán, đọc viết số, làm toán ngày càng nhanh, chính xác hơn, giúp các em hoàn thành bài ngay trên lớp, và rèn được kỹ năng làm bài cho học sinh.Học sinh biết vận dụng kiến thức của môn Toán vào cuộc sống thực tế một cách thành thạo .
 C - Kết luận chung:
 Muốn dạy tốt môn Toán cho học sinh lớp 1 đặc biệt là quá trình “dạy hình thành số cho học sinh lớp 1" thì giáo viên cần thương yêu học sinh, nhiệt tình giảng dạy, phải có chuyên môn vững chắc có kỹ năng sư phạm, biết xử lý tốt các tình huống sư phạm, luôn sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học đặc biệt trong quá trình hình thành số cho học sinh lớp 1 thì yêu cầu giáo viên sử dụng tốt phương pháp trực quan. Học sinh phải sử dụng tốt bộ đồ dùng Toán 1. Kích thích lòng say mê học tập của các em làm cho các em ham mê học tập, chuyển dần hoạt động học tập thực sự là hoạt động chủ đạo đối với các em học sinh.
 Qua nhiều năm giảng dạy Toán lớp 1, lớp tôi luôn là lớp được đánh giá là lớp có chất lượng học toán tốt có tới 90 -95% học sinh khá, giỏi. Năm học 2011-2012 có 5 học sinh đạt học sinh giải toán trên mạng cấp huyện.
 Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong việc dạy hình thành số cho học sinh lớp 1 mà tôi đã đúc rút được qua thực tế giảng dạy trong những năm qua. Song đề tài kinh nghiệm của tôi không tránh khỏi những thiếu sót kính mong ban thi đua các cấp xem xét bổ sung, đánh giá ghi nhận. Đó là nguồn động viên lớn giúp tôi giảng dạy ngày càng tốt hơn.
 Tôi xin chân thành cảm ơn !
 Vũ Vân, ngày 20 tháng 4 năm 2012
 Người viết
đánh giá của hđtđ cấp cơ sở 
 Phạm Thị Hiền

File đính kèm:

  • docSKKN_Mot_so_kinh_nghiem_day_hinh_thanh_so_cua_lop_1.doc