Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi làm quen với tác phẩm văn học, nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trường mầm non Ba Đình

Như chúng ta đã biết, ở trường mầm non thông qua các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ để giúp trẻ phát triển toàn diện. Mỗi hoạt động chăm sóc giáo dục trong chương trình giáo dục mầm non, được được tổ chức theo một hệ thống thống nhất. Cung cấp kiến thức kỹ năng có tính đồng tâm trong suất các độ tuổi từ đầu nhà nhà trẻ cho đến cuối độ tuổi mẫu giáo.

Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học (LQVTPVH) là một trong những hoạt động ở trường mầm non được trẻ yêu thích. Hoạt động làm quen với tác phẩm văn học là loại hình nghệ thuật; đặc biệt nó rất gần gũi với trẻ thơ, từ buổi đầu thơ ấu, trẻ đã sống chan hoà trong không khí lời ru “ ầu ơ “ đầy yêu thương tận tình của bà, của mẹ. Đó chính là trẻ đã được đến với văn học và đó cũng là cánh cửa mở ra chân trời nhận thức cho trẻ. Đặc biệt văn học có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ; là phương tiên dẫn dắt trẻ đến với thế giới xung quang.

Qua những bài ca dao, câu chuyện là tấm gương mẫu mực về lời ăn tiếng nói cho trẻ học tập, là phương tiện hữu hiệu trong việc giáo dục trẻ lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, tình yêu mến bạn bè với những người thân thiết, biết được việc làm tốt, biết yêu cái đẹp, cái thiện, ghét cái ác, phê phán những việc làm xấu, kính yêu Bác Hồ, thật thà, ngoan ngoãn .Điều đó chính là văn học là phương tiện hình thành các phẩm chất đạo đức trong sáng cho trẻ thơ.

 Với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ nhà trẻ và trẻ 3 tuổi, vốn từ và ngôn ngữ của trẻ đang phát triển mạnh mẽ. Vì vậy cần thiết phải quan tâm phát triển để hướng đến kết quả mong đợi tối ưu nhất về phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong độ tuổi.

 

doc20 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 25/12/2015 | Lượt xem: 36909 | Lượt tải: 642Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp trẻ 3 - 4 tuổi làm quen với tác phẩm văn học, nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trường mầm non Ba Đình", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
í tưởng tượng của trẻ, giúp trẻ tự đạt ra các câu hỏi cũng như các câu trẻ lời sáng tạo. 
	Ví dụ: Bước vào vườn cổ tích, trẻ nhìn thấy ngay hình ảnh 2 bạn gà và vịt xinh đẹp và thân mật. trẻ có thể đạt câu hỏi: Bạn gà vịt đang là gì nhỉ?; trẻ có thể tự trả lời: À, chắc là gà vịt đang đang nói chuyện; À, chắc là gà vịt đang rủ nhau đi chơi!....
Bước tiếp sâu hơn vào vườn, trẻ nhìn thấy mô hình gà đang trên bãi cỏ, vịt đang ở dưới ao. Trẻ có thể lại tự hỏi và tự đặt câu hỏi theo tri giá và tưởng tượng của trẻ.
Cứ như vậy giáo viện theo giõi và gợi mở cho trẻ kể chuyện sáng tạo qua mô hình; sau đó khi vào tổ chức hoạt động cho trẻ cô lại có thể dùng mô hình đó để giới thiệu chuyện, hướng trẻ vào tâm trạng được giải đáp thắc mắc của trẻ qua việc cô kể chuyện cho trẻ nghe.
Tương tự như vậy tôi xây dựng thay đổi các hình ảnh, mô hình theo nội dung các bài thơ, câu chuyện, bài ca giao đồng giao mà trẻ sẽ học hoặc đã học để củng cố.
Trong mỗi hoạt động của trẻ với môi trường, tôi đều quan sát, tận dụng mọi tình huống, cơ hội để giúp trẻ gợi nhớ hay khắc sâu các tác phẩm văn học mà trẻ sẽ được làm quen hoặc đã cho trẻ làm quen. Cũng thông qua môi trường đã xây dựng giáo viên quan tâm khai thác sự tác động trực tiếp của môi trường đến sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
 Hình ảnh 1: Xây dụng góc cổ tích tại nhóm lớp
* Xây dựng góc sách
Ngoài việc xây dựng góc cổ tích trong lớp để giúp trẻ làm quen với hình ảnh gợi mở về các tác phẩm văn học trẻ sẽ được làm quen, hoặc đã được làm quen. Tôi xây dựng góc sách của lớp. Góc sách cũng là góc được bố trí trong không gian phù hợp của lớp. Góc sách có nhiều các loại sách, tranh, chuyện tranh có nội dung phù hợp với nội dung chủ đề. Các sách tranh phải phù hợp với trẻ, là các tranh chuyện mầm non, tranh có ghép chữ to, hình ảnh sinh động hấp dẫn trẻ, có tác động đến trí tưởng của trẻ.
Xây dựng góc sách để trong các giờ chơi trẻ sẽ chủ động xem tranh, xem sách. Thông qua đó để làm quen với nội dung của các tác phẩm văn học. Thông qua các tranh chuyện, trẻ tự đặt câu hỏi về nội dung các bức tranh, tư duy về các bức tranh thành những câu chuyện theo trí tưởng tượng của trẻ. Tự trả lời cho những câu hỏi mà trẻ tự đạt ra, hoặc các câu hỏi mà cô gợi mở cho trẻ tìm hiểu.
Thông qua góc sách cô hướng dẫn cho trẻ cách cầm sách, cách đọc sách, trẻ tự đọc chuyện theo tưởng tưởng; trẻ tư duy tưởng tưởng về những câu chuyện sáng tạo qua các hinh ảnh trong sách tranh. Từ đó đạt được mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng như phát triển các lĩnh vực giáo dục khác.
Để góc sách được phong phú thì giáo viên phải tích cực sưu tầm sách tranh, thay đổi sách tranh trong góc sách theo chủ đề, theo nội dung từng tác phẩm văn học mà trẻ sẽ học, đã học để trẻ tìm hiểu, tránh sự nhàm chán. Sưu tầm các loại tranh ảnh, hoạ báo có nội dung chương trình để làm phong phú góc sách. Để thuận tiện và hiệu quả của góc sách đối với giáo dục trẻ, việc bố trí, sắp xếp các sách tranh trong góc phải vừa tầm với của trẻ, giúp trẻ dễ lấy dễ sử dụng.
	Hình ảnh 2: Trẻ cùng cô đang xem sách tranh tại góc sách
Ngoài ra tôi tận dụng tất cả mọi không gian trong ngoài lớp đề trang trí các hình ảnh đa dạng có nội dung phù hợp để tận dụng tác động của môi trường xây dựng đến sự phát triển của trẻ ở mọi lúc mọi nơi, mọi không gian môi trường.
Để phát huy hiệu quả của môi trường đã xây dựng thì đòi hỏi giáo viên phải quan tâm đến mọi hoạt động của trẻ với môi trường. Tạo các cơ hội để khai thác sự tác động của môi trường với sự phát triển toàn diện của trẻ.
Qua việc xây dựng môi trường cho trẻ LQVTPVH trong nhóm lớp, tôi đã áp dụng trong trong hoạt động cho trẻ LQVTPVH, đã có tác động tích cực nâng cao hiệu quả cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học; có tác động tích cực và đạt hiệu quả cao về phát triển ngôn ngữ cho trẻ. 
3. Giải pháp tích cực đổi mới sáng tạo hình thức tổ chức hoạt động cho trẻ LQVTPVH, gây hứng thú cho trẻ tích cực tham gia hoạt động. 
 Đây là giải pháp chính để giúp trẻ LQVTPVH. Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải nắm vững phương pháp và nội dung thực hiện các thể loại văn học được gợi ý trong kế hoạch của chương trình chăm sóc giáo dục. Nghiên cứu các tác phẩm ở những khía cạnh khác nhau để lựa chọn phương pháp, sáng tạo các hình thức tổ chức cho trẻ LQTPVH phù hợp, nhằm giúp trẻ thích thú được tham gia vào hoạt động. Từ việc trẻ thích thú hoạt động thì trẻ mới có thể cảm nhận được nội dung của bài thơ câu chuyện, trẻ mới có thể thực hiện trả lời được các câu hỏi của cô và trẻ mới có thể chủ động đặt ra các câu hỏi để thỏa mãn tính tò mò ham hiểu biết của mình trong các tình tiết của hoạt động.
Trước hết giáo viên phải hiểu được sáng tạo hình thức tổ chức có nghĩa là: Trong mỗi hoạt động cho trẻ LQVTPVH giáo viên phải nghĩ ra được các hình thức hoạt động sinh động để chuyển tải nội dung yêu cầu của bài dạy đến với trẻ. Hình thức đó phải phù hợp với hoạt động của trẻ, có tính mới lạ với trẻ. 
Ví dụ:
+ Khi tổ chức hoạt động cho trẻ LQVTPVH - kể chuyên 3 cô tiên. Thông thường giáo viên vấn thực hiện là: Cho trẻ ngồi vào lớp, dùng lời giới thiệu dẫn dắt để trẻ biết câu chuyện cô sẽ kể; cô kể diễn cảm lần 1; kể lần 2 theo tranh, kể lần 3
Theo mô hình, đàm thoại theo hệ thống câu hỏi chuẩn bị
Như vậy cũng có thể xem là tổ chức một hoạt động kể chuyện đạt yêu cầu. Nhưng nếu chỉ như vậy thường xuyên, trẻ sẽ cảm thấy nhàm chán, khả năng tiếp thu của trẻ hạn chế, trẻ thụ động theo trong tiếp thu kiến thức kỹ năng.
	+ Nhưng cũng hoạt động cho trẻ LQVTPVH - kể chuyện 3 cô gái. Tôi sáng tạo đổi mới hình thức tổ chức bằng cách: Tôi tạo một mô hình khu vườn cổ tích trong lớp. trước khi vào hoạt động cho trẻ đến tham khu vườn. Trẻ được quan sát 
Mô hình với những hình ảnh nhân vật, quang cảnh sinh động mới lạ. như vậy trẻ sẽ rất thích thú, tập trung chú ý để tìm tòi những điều mới lạ trong hình ảnh các nhân vật. Từ đó làm nẩy sinh trong trí tưởng tưởng của trẻ bằng nhu cầu đặt các câu hỏi: Ai nhỉ? Sao bé vậy? sao bông hoa hồng to thế; và trẻ thể hiện cảm xúc thích quá!...
Lúc này giáo viên sẽ lại đặt câu hỏi mở để kích thích tính tính tò mò cho trẻ, hướng trẻ vào hoạt động sẽ được thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu về các nhân vật như: Các con có muốn biết những cô gái trong bông hoa hồng là ai không? Các con có biết vì sao các cô gái lại bé tí teo như vậy không? Và lúc này cô mở cánh cửa cho trẻ bước vào thế giới mới mà trẻ đang muốn biết, qua việc cô kể câu chuyện diễn cảm cho trẻ nghe.
Hình ảnh 3: Xây dựng mô hình chuyện ba cô tiên tại góc cổ tích
Đó là sáng tạo hình thức cho trẻ LQVTPVH ngay từ đầu hướng trẻ vào hoạt động. Còn trong suốt quá trình trẻ hoạt động cũng vậy, cũng cần phải có hình thức sáng tạo làm thay đổi tư thế, tâm trạng học cũ của trẻ, chuyển sang một hình thức làm thay đổi tư thế tâm trạng mới giúp trẻ hưng phấn hơn với hoạt động.
	Như vậy đòi hỏi giáo viên phải thật sự có tâm huyết, có trí tưởng tượng về tâm trạng của trẻ trong mỗi hoạt động học cụ thể, để tư duy tìm ra các hình thức sinh động tổ chức cho trẻ hoạt động. Từ việc trẻ hứng thú hoạt động thì hiệu quả chuyển tải nội dung đến với trẻ sẽ rất cao.
	Qua việc thực hiện giải pháp luôn tìm tòi sáng tạo các hình thức tổ chức cho trẻ LQVTPVH, tôi nhận thấy trong tất cả các giừo hoạt động LQVTPVH trẻ đều rất thích và trẻ nhớ nội dung tác phẩm nhanh, trả lời lưu loát được các câu hỏi đảm thoại và còn đạt được các câu hỏi với cô trong khi trẻ học tập. Như vậy mục tiêu giúp trẻ phát triển ngôn ngữ qua mỗi hoạt động cho trẻ LQVTPVH cụ thể đạt được rất tốt.
4. Giải pháp dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học thông qua hoạt động mọi lúc mọi nơi.
 Với hoạt động ở mọi lúc mọi nơi tôi đã vận dụng phù hợp từng đề tài để dạy trẻ dạy vào các thời điểm thích hợp.
* Qua giờ đón trả trẻ
Trong giờ đón trẻ tôi có thể cho yêu cầu trẻ đọc các bài thơ, bài ca giao đồng giao. Tôi có thể hướng dẫn trẻ tự xếp tranh, xem tranh và kể chuyện theo tranh mà mình vừa xếp được. Qua việc trò chuyên với trẻ tôi đặt những câu hỏi liên quan đến câu chuyện phù hợp cho trẻ tư duy và trả lời.
	Ví dụ: + Hôm qua con đã được nghe cô kể câu chuyện gì?
 + Câu chuyện có nhân vật nào?...
Từ tất cả các hoạt động trong giờ đón trả trẻ, tôi đều tận dụng để giáo dục trẻ các nội dung phù hợp; đặc biệt là trao đổi trò chuyện với trẻ các nội dung có vấn đề, các nội dung liên quan đến các tác phẩm văn học, từ đó để khai thác tối ưu tác động đến phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
* Thông qua các hoạt động chơi
 Thông qua hoạt động vui chơi tôi có thể cho trẻ chơi đóng kịch phản ánh lại tác phẩm theo hướng dẫn gợi ý của cô; Chơi góc gia đình trẻ ru em bé; trẻ làm cô giáo dạy học sinh đọc thơ
*Thông qua hoạt động chiều
 Tôi có thể đọc kể tác phẩm mới được quy định trong chương trình cho trẻ nghe hoặc những tác phẩm cô tự chọn phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. việc ôn luyện tập các tác phẩm đã học trong chương trình giáo viên đọc hoặc kể lại tác phẩm cho trẻ nghe sau đó yêu cầu trẻ đọc hoặc kể lại theo gợi ý của trong các thời điểm ngoài giờ học, cô theo dõi sửa sai cho trẻ để trẻ thực hiện đúng yêu cầu mong đợi của cô. Muốn cho việc ôn luyện hứng thú tham gia tôi tổ chức dưới hình thức trò chơi: hái hoa, đoán tên, đóng kịch, hay thi biểu diễn giữa cá nhân, các tổ theo các đề tài.
* Thông qua các ngày hội ngày lễ
Thông qua các ngày hội ngày lễ trong trường là hình thức để lồng gép hoạt động cho trẻ LQVTPVH hiệu quả. 
Ví dụ: gắn liền với các ngày hội ngày lễ vào dịp kỉ niệm ngày 8/3 ,1/6, 20/11, 22/12... cô giáo tổ chức cho các cháu trong lớp, trong trường liên hoan biểu diễn văn nghệ, trong đó có thi đọc thơ kể truyện, đóng kịch theo tác phẩm văn học. Hình thức này thu hút được nhiều trẻ tham gia biểu diễn, có tác dụng động viên cho các cháu giỏi, đồng thời khuyến khích các cháu yếu, nhút nhát tham gia vào các hoạt động nghệ thuật... 
Và tương tự như vậy, tôi đã tận dụng mọi cơ hội mọi lúc mọi nơi để nâng cao hiệu quả cho trẻ LQVPVH.
5. Giải pháp làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với Văn học
Với đặc điểm của trẻ mầm non, trẻ trực quan hình tượng là chủ yếu. Bởi vậy đồ dùng đồ chơi chính là sách giáo khoa của trẻ, giúp trẻ nhận biết kiến thức dễ dàng và hào hứng trong khi học. Vì vậy việc chuẩn bị đồ dùng đồ chơi đủ và phong phú đa dạng phục vụ cho hoạt động học là hết sức cần thiết. Có đủ đồ dùng đồ chơi có tác động lớn đến hiệu quả cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
 Qua hoạt động dạy trẻ, tôi hiểu được đặc điểm của trẻ là trẻ rất thhích các hình ảnh nhân vật có tính dân gian như: Rối que, rối tay. Tôi đã sử dụng những phế liệu như đồ dùng bỏ đi vải, xốp để tạo nên những mô hình, đồ vật, con vật xinh xắn giúp trẻ hứng thú trong giờ văn học. Việc làm đồ dùng đồ chơi tôi căn cú vào nội dung các câu chuyện, bài thơ để làm thành các bộ rối tay hoặc rối que phục vụ cho dạy một câu chuyện.
Ngoài ra dùng các phế liệu nhựa, xốp là sạch xây dựng nên các mô hình làm đồ dùng dạy học.
	Hình ảnh 4: Đồ chơi tự làm phục vụ cho trẻ LQVTPVH
Giải pháp tuyên truyền phối hợp với phụ huynh 
 Như chúng ta đã biết, đối với trẻ mầm non môi trường tiếp xúc của trẻ chủ yếu là gia 
đình và nhà trường. Chính vì vậy việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một biện pháp không thể thiếu. Phụ huynh chính là nhân tố quyết định về các điều kiện cho hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ rất cần thiết phải có đóng góp của phụ huynh. Trong việc tạo nguồn nguyên liệu, xây dựng môi trường văn học tại trường lớp, nhất thiết cần đén sự phối hợp của phụ huynh. 
Tôi đã quan tâm việc tuyên truyền với phụ huynh bằng nhiều hình thức, thông qua góc 
tuyên truyền trao đổi thường xuyên qua giờ đón trả trẻ; thông qua các kỳ họp phụ huynh, tôi nêu tầm quan trọng của lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói riêng, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động cho trẻ LQVTPVH. Tuyên truyền cho phụ huynh hiểu về việc thông qua các hình ảnh sự gợi mở của người lớn, để trẻ tư duy về hình ảnh đó một cách lô gic, từ nội dung duy, giúp trẻ nói lên được ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ, thông qua các câu hỏi mà người lớn gợi ý, hỏi trẻ. Từ đó phụ huynh phối hợp với giáo viên giáo dục trẻ tại gia đình, giúp việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng kể chuyện sáng tạo của trẻ tốt hơn. 
Hàng tháng tuyên truyền với phụ huynh qua các biểu bảng nêu lên nội dung về chủ điểm, về các câu chuyện sáng tạo của cô và trẻ. Qua đó phụ huynh thấy được ngôn ngữ của trẻ phát triển như thế nào và có biện pháp kích thích sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình.
Ví dụ: Cô trao đổi với phụ huynh về những hình thức có thể giúp trẻ kể lại chuyện, đọc thơ ,tư duy sáng tạo câu chuyện trẻ đã kể, yêu cầu phụ huynh về nhà cho trẻ kể lại câu chuyện đó hoặc kích thích trẻ kể các câu chuyện khác khi gặp tình huống nào đó, hình ảnh nào đó ở gia đình. 
Huy động phụ huynh đóng góp tiền ủng hộ tạo góc văn học hoặc thu nhập những nguyên vật liệu sẵn có, dễ tìm như báo hoạ mi, vải vụn, len vụn, các vỏ hộp, mút xốpkết hợp trong và ngoài giờ đón trả trẻ để trao đổi với phụ huynh.
Xây dựng góc sách tuyên truyền với phụ huynh về các câu truyện của cô, của trẻ đa dạng và phong phú. Bao gồm các sách tranh, hình ảnh về thế giới xung quanh.Để phụ huynh có thể tham khảo, có hiểu biết thêm, cùng với giáo viên phối hợp tạo điều kiện cho trẻ làm LQVTPVH hiệu quả nhất và phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất.
 Kết quả việc tuyên truyền phối hợp đã giúp cho môi trường giáo dục của lớp đa dạng, phong phú; nhóm lớp đủ đồ dùng đồ chơi. Từ kết quả đó đã tác động đến hiệu quả giáo dục trẻ nói chung và hoạt động cho trẻ LQVTPVH nói riêng. 
Giải pháp sưu tầm các bài hát ru và ru trẻ ngủ trong giờ ngủ
Từ xa xưa, hát ru là món ăn tinh thần quý giá đối với mỗi trẻ thơ. Nhưng ngày nay món ăn tinh thần đó đối với trẻ đã bị đa các bà mẹ trẻ và giáo viên mầm non không mang lại cho trẻ. 
Từ thực tế chăm sóc giáo dục trẻ, tôi nhận thấy đa số trẻ thèm khát được 
nghe những lời ru êm ái trước giờ trẻ ngủ. Mỗi bài hát ru đều chứa đựng trong đó những giá trị giáo dục sâu sắc. Ngoài ra khi trẻ nghe cô hát ru rất nhiều trẻ còn lắng nghe và hát theo cô. Có trẻ còn hỏi cô về một số những thắc mắc trong nội dung các câu thơ mà trẻ thấy khó hiểu. Vì vậy tôi nghĩ đây cũng là một giải pháp mới giúp mở rộng cho trẻ làm quen với văn học và thông qua đó phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Trước hết, tôi đã bằng nhiều hình thức sưu tầm các bài hát ru xưa. Tự học 
hát ru để sử dụng trong hoạt động chăm sóc giấc ngủ cho trẻ và đồng thời thực hiện mục tiêu của sáng kiến kinh nghiệm.
Tôi đã tìm đến các ông bà cao tuổi trên địa bàn xã, nhờ các ông bà đọc lại cho các bài hát ru xưa tôi chép lại. tôi sưu tầm trên mạng để có được các bài hát ru như mong muốn.
Kết quả tôi đã sưu tầm được 32 bài hát ru cổ, 10 bài hát ru lời mới. Giai điệu các bài hát ru mượt mà ấm áp; nội dung các bài hát ru chứa đựng nhiều những nỗi niềm sâu lắng mang tính giáo dục cao. Tuy đối với trẻ là rất trừu tượng, nhưng điều đó luôn tạo ra trong trẻ sự tưởng tượng phong phú, để kích thích trẻ có thể có nhu cầu hỏi người lớn để được giải đáp. Hoặc sẽ mãi là điều trẻ nhớ và tưởng tượng trong tâm trí trẻ. Những câu từ trong các bài hát ru thường lại là những hình ảnh gây được chú ý của trẻ.
Ví dụ: 
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ còn bắt ốc đồng sâu chưa về.
Bắt được con trắm con trê
Buộc cổ lôi về nấu nước làm lông.
Miếng thịt thì để phần chồng
Miếng xương mẹ gặm, miếng lòng con ăn!
Hay:
Cái bống đi chợ cầu hôn
Sao mày chẳng rủ cái tôm đi cùng?
Bồng bồng cõng chồng đi chơi
Đi đến chỗ lội đánh rợ mất chồng.
Ai ơi cho mượn gầu sòng
Tôi tát nước cạn cho chồng tôi lên!
Hay:
Con cò, con vạc, con nông 
Sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò?
Không không tôi dứng trên bờ
Mẹ con nhà vạc đổ ngờ cho tôi!
Như vậy tôi đã có lượng bài hát ru, áp dụng để chăm sóc giấc ngủ cho trẻ. 
Những bài hát ru cũng là những tác phẩm văn học được mở rộng đưa đến với trẻ, tạo cảm hứng tưởng tượng cho trẻ, qua đó góp phần vào giúp trẻ hứng thú học với hoạt động LQVTPVH. Cũng như thông qua hát ru giáo dục nhân cách và phát triển ngôn ngữ cho trẻ đạt hiệu quả cao.
IV. KIỂM NGHIỆM
Quá trình áp dụng các giải pháp đã thực hiện, tôi nhận thấy đa số trẻ trong 
lớp thích thú với hoạt động LQVTPVH. Có nhiều ý tưởng hay trong kể chuyện. Trẻ duy trì dùng câu chính xác để diễn đạt ý tưởng bằng các câu khó hơn, câu mở rộng.
Sau khi thực hiện các biện pháp tôi đã tiến hành khảo sát kết quả theo các nội dung đã khảo sát ban đầu để so sánh và rút ra hiệu quả đạt được sau nghiên cứu. Kết quả cho thấy như sau:
- Tạo được môi trường giáo dục ở nhóm lớp tốt cho trẻ hoạt động.
- Tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có, dễ tìm để tạo ra nhiều loại đồ dùng phong phú, đa dạng, sử dụng có hiệu quả trong việc tổ chức cho trẻ hoạt động nói chung và trẻ LQVTPVH nói riêng.
- Giáo viên nắm vững thêm về phương pháp cho trẻ LQVTPVH, phong phú trong tư duy về hình thức tổ chức cho trẻ LQVTPVH.
- nâng cao được hiệu quả công tác tuyên truyền phối hợp.
- Đặc biệt là nâng cao được chất lượng cho trẻ LQVTPVH, góp phần phát 
triển ngôn ngữ cho trẻ, đáp ứng được kết quả mong đợi về phát triển ngôn ngữ của trẻ trong độ tuổi. Kết quả được thể hiện trên trẻ cụ thể:
STT
 Nội dung khảo sát
Số trẻ
 Kết quả khảo sát
 Số trẻ
 Tỉ lệ %
Tỉ lệ % tăng so với ban đầu.
1
Khả năng nghe theo yêu cầu độ tuổi.
 30
 27
 90
34
2
Sử dụng vốn câu từ theo yêu cầu độ tuổi.
 30
 26
 86,6
36,6
3
Sử dụng ngôn ngữ diễn đạt kể lại chuyên, mô tả lại sự việc có sự giúp đỡ. 
 30
 24
 80
34
	Qua kết quả kiểm nghiệm, tỉ lệ % hiệu quả sau khi tổ chức thực hiện các giải pháp đã tăng lên rõ rệt so với kết quả khảo sát ban đầu. Như vậy đã khẳng định các giải pháp đã đựơc tổ chức thực hiện nêu trong sáng kiến có hiệu quả khá tốt.
C. KẾT LUẬN ĐỀ XUẤT
I. KẾT LUẬN
Qua một năm tiến hành các giải pháp giúp trẻ làm quen với tác phẩm văn học, với mục đích nâng cao chất lượng cho trẻ LQVTPVH nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Qua quá trình triển khai thực hiện, mối giải pháp đều đã đóng góp hiệu quả cho mục đích của đề tài đáng kể. 
Một trong những giải pháp quan trọng có tác động lớn nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với văn học đó là môi trường văn học. Môi trường tốt sẽ tác động đến việc trẻ thu nhận kiến thức, trên cơ sở trực tiếp trải nghiệm và trong hoạt động tương tác với xung quanh. Các giải pháp đều đã có đóng góp cho hiệu quả của đề tài bằng những kết quả cụ thể thu được sau tiến hành mỗi giải pháp. Các giải pháp đã được tiến hành một cách khoa học có mục đích, có hệ thống đã giúp cho đề tài hiệu quả.
 Từ thực tế về kết quả đạt được qua việc tổ chức thực hiện các giải pháp trong SKKN, nhằm đạt được kết quả nâng cao chất lượng cho trẻ LQVTVH, phát triển ngôn ngữ cho trẻ, tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm như sau:
1. Giáo viên cần phải có tâm huyết với nghề nghiệp, luôn có ý thức bồi dưỡng năng lực chuyên môn gnhiệp vụ bản thân để có khả năng thực hiện hiệu quả việc chăm sóc giáo dục trẻ.
2. nhận thức được tầm quan trọng và có kỹ năng xây dựng môi trường Giáo dục.
3. Nắm vững phượng pháp tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ nói chung và hoạt động cho trẻ LQVTPVH nói riêng, biết giáo dục tích hợp.
4. Tích cực thực hiện công tác tuyên truyền phối hơp với phụ huynh đạt hiệu quả.
II. ĐỀ XUẤT
Đề nghị lãnh đạo nhà trường quan tâm nhiều hơn nữa trong việc bổ sung thêm thiết bị đồ dùng theo hướng hiện đại cho hoạt động văn học nói riêng và các họat động chăm sóc giáo dục trẻ trong trường nói chung. 
Trên đây là một số giải pháp tôi đã áp dụng cho trẻ 3 tuổi LQVTPVH, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho trẻ LQVTPVH, nhằm tác động tích cực đến phát triển lĩnh vực ngôn ngữ cũng như góp phần phát triển toàn diện cho trẻ. Trong quá trình tổ chức thực hiện các các giải pháp không tránh khỏi những khiếm khuyết. Tôi rất mong được hội đồng khoa học ngành và các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến cho đề tài được hoàn thiện hơn.
 Tôi xin chân thành cảm ơn!
 XÁC NHẬN Ba Đình , ngày 15 tháng 4 năm 2014 
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến 
 kinh nghiệm của mình không sao chép 
 của người khác. 
 Người viết sáng kiến
 Nguyễn Thị Hương 

File đính kèm:

  • docskkn.doc
Sáng Kiến Liên Quan