Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp chỉ đạo hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng môn toán tại Trường TH Bắc Lý 2

A. PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ.

Môn toán học ở tiểu học góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Môn toán có vị trí hết sức quan trọng bởi vì:

 - Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở bậc Trung học.

 - Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có được phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong học tập và trong đời sống. Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp giải quyết vấn đề; góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt; khả năng ứng xử và giải quyết những tình huống nảy sinh trong học tập và trong cuộc sống; nhờ đó mà hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động mới.

 

doc21 trang | Chia sẻ: binhthang88 | Ngày: 23/11/2017 | Lượt xem: 392 | Lượt tải: 9Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp chỉ đạo hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng môn toán tại Trường TH Bắc Lý 2", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
áp trực quan sẽ tốt hơn, chẳng hạn bài “Bài toán giải bằng hai phép tính” SGK Toán 3; Bài hình chữ nhật, hình lập phương, diện tích xung quang, diện tích toàn phần, thể tích toán 5. cần phải có đồ dùng trực quan hỗ trợ thì học sinh mới hiểu và nắm được kiến thức. 
Tăng cường việc sử dụng bộ đồ dùng dạy học toán sẵn có thường xuyên hiệu quả. Bộ đồ dùng dạy học toán ở các lớp được BGD cấp nhằm mục đích nâng cao hiệu quả dạy học, nhưng hiện thực tại một số lớp mất hỏng, thiếu chi tiết, đặc biệt bộ biểu diễn của GV một số lớp không còn nữa nên thường GV lên lớp dạy theo phương pháp đàm thoại. Học sinh không được thao tác trên đồ dùng kiến thức học sinh thu được trong tiết học là thuộc theo kiểu học vẹt không khắc sâu, không hiểu được bản chất thiếu cơ sở nhất là cấu tạo số, cộng trừ, phân số  ở các lớp 1, 2, 3.
Từ thực tế như trên tôi đã chỉ đạo khi dạy toán các tiết dạng bài mới có bộ biểu diễn yêu cầu khi dạy phải thực hiện từ đồ dùng xong mới đến hình thành kiến thức bằng tư duy, tức là HS phải được thực hành trên đồ dùng, sau đó mới đến các con số. Đối với giáo viên phải có bộ biểu diễn bằng cách mua bổ sung hoặc tự làm bộ biểu diễn giáo viên nào quên thao tác thực hành thì đề xuất chuyên môn tập huấn lại thao tác biểu diễn trên đồ dùng, đọc kỹ hưỡng dẫn thực hiện để thực hiện dạy học.
Ảnh học sinh thực hành trền đồ dùng trong tiết học toán
 2. Đa dạng hoá hình thức tổ chức dạy - học toán trong nhà trường
2. 1. Đa dạng các hình thức tổ chức hoạt động thực hiện các bài tập trong giờ thực hành luyện tập: 
Việc tổ chức các hoạt động học toán cũng như các môn học khác nếu có nhiều hình thức thực hiện các hoạt động trong một giờ học sẽ tạo ra không khí thoải mái, kích thích sự tự giác tìm tòi chủ động của học sinh, giảm sự chán nản của học sinh. 
Trong thực tế việc thiết kế các hoạt động khác nhau để thực hành các mục tiêu các bài tập của giáo viên là rất ít bởi giáo viên chưa chủ động trong việc thực hiện nội dung mục tiêu dạy học, thiết kế là coppi sửa chứ không phải tự nghĩ ra thiết kế cho phù hợp với lớp mình đang dạy nhất là các tiết toán luyện tập các bài tập trong tiết học thì một hình thức tổ chức dạy học đó là thực hiện vào vở xong giáo viên chữa bài học sinh đối chiếu và chữa lại. 
Từ thực tế như thế tôi đã chỉ đạo việc đa dạng hoá hình thức thực hiện các bài tập trong tiết học phải khác nhau không giống nhau tránh sự nhàm chán cho học sinh, và giảm bớt tỷ lệ học sinh yếu ở các lớp bởi lý do như tôi đã phân tích ở nguyên nhân. Yêu cầu trong một tiết luyện tập hình thức tổ chức không được lặp lại giữa các bài tập, căn cứ vào mục đích của bài giáo viên thay các hoạt động phù hợp để đạt được mục đích mà tất cả các học sinh đều được học và đạt mục đích đề ra theo thiết kế dạy học sát đối tượng và đặc biệt là giáo viên phát hiện những học sinh cần giúp đỡ và kịp thời giúp đỡ trong việc thực hành tính toán của các em. 
Đối với những bài tập vận dụng kiến thức đã học thuộc ở các tiết học trước vào thực hiện bài tập dạng “ tính nhẩm” , “ tính nhanh” “ viết” thì hình thức thực hiện là tổ chức trò chơi nhanh tay điền kết quả vào bảng con. Giáo viên đọc đề học sinh ghi kết quả vào bảng giơ lên ai nhanh đúng khen, học sinh nào nhiều lần không đúng chứng tỏ học sinh đó chưa thuộc bảng yêu cầu đọc lại kiến thức hôm trước để vào thực hiện bài khác; với những bài tập yêu cầu đọc số, phân số, nêu số thuộc hàng – lớp  tổ chức mở sách quan sát yêu cầu bài tập và gọi nối tiếp đọc to cho cả lớp nghe và nhận xét. Đối với những bài tập cần rèn kỹ năng trình bày và tính thì hình thức tổ chức cho học sinh thực hành vào vở chính hoặc giấy nháp như các bài tập: “ đặt tính rồi tính”, “ toán có lời văn”, “ tìm x”. thực hiện cá nhân giáo viên xuống tận học sinh để kiểm tra và giúp đỡ những học sinh còn hạn chế các kỹ năng một cách kịp thời. Đối với một số dạng bài tập rèn kỹ năng so sánh, tính thì có thể tổ chức theo hoạt động nhóm. Trong một tiết học thực hành luyện tập căn cứ vào nội dung bài, mục tiêu cần rèn mà giáo viên thiết kế phù hợp các hoạt động thực hành không trùng lặp một cách máy mọc gây chán nản cho học sinh.
2.2. Đa dạng hoá việc củng cố kiến thức môn toán trong quá trình học tập của học sinh. 
Đưa các trò chơi, giao lưu vào các buổi học, giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt ngoài giờ, trò chơi giao lưu tại lớp của các lớp về toán học hàng tuần nhằm mục đích ôn những kiến thức toán đã học trong tuần, trong tháng, trong kỳ.. . Như đã triển khai cùng với giao lưu Tiếng Việt đầu tuần trong một tháng có 4 tiết chào cờ thì tuần 1 giao lưu TV hát, múa, kể chuyện, tuần 2 giao lưu toán  HS lên đọc thuộc bảng cộng, trừ, nhân, chia, công thức  nội dung yêu cầu là giáo viên chủ nhiệm nộp cho lớp trực và do lớp trực điều hành gọi HS lớp đó lên đọc trầm nội dung thuộc lớp đó chuyên môn yêu cầu triển khai đồng bộ trên tất cả các bản. Phối hợp cùng Đội lên kế hoạch hoạt động chữa bài tập hay ôn tập toán ở thời gian sinh hoạt 15 phút hàng ngày theo thời gian biểu. Tổ chức trò chơi nhanh tay nhanh trí ở các lớp về kiến thức môn toán vào cuối tuần để học sinh ôn lại những kiến thức toán đã học nhằm củng cố khắc sâu thêm kiến thức hình thức là GV đọc câu hỏi HS làm vào bảng ai nhanh, làm đúng sẽ được thưởng.
3. Quản lý chỉ đạo việc theo dõi đánh giá học sinh của giáo viên trực tiếp giảng dạy một cách chính xác, tỷ mỷ, thường xuyên về khả năng tiếp thu kiến thức, năng lực và phẩm chất của từng học sinh trong học tập môn toán cũng như các môn học khác. 
Tại sao phải tăng cường công tác quản lý chỉ đạo giáo viên trực tiếp giảng dạy thực hiện đánh giá học sinh một cách thường xuyên, tỷ mỷ về khả năng tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực và phảm chất trong học tập?
Chúng ta thấy mặt ưu của thông tư 30/2014 là theo dõi đánh giá quá trình học tập của học sinh không chỉ chú trọng vào việc tiếp thu kiến thức các môn học mà còn đánh giá nhận xét sự hình thành phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh thông qua các môn học. Nhằm đào tạo con người mới có đủ kiến thức khoa học, năng lực thích ứng và các phẩm chất cần thiết cho cuộc sống. Mặc dầu về mặt quản lý chỉ đạo chung thì bắt buộc mọi giáo viên khi lên lớp dạy – học đều phải đánh giá học sinh các nội dung quy định của thông tư nhưng thực tế khi giáo viên dạy thì việc theo dõi chỉ mang tính thực hiện pháp lệnh chứ chưa thực sự quan tâm nhiều đến việc theo dõi đánh giá sát sao, thường xuyên quá trình học tập của học sinh. Thể hiện ở chỗ GV chủ nhiệm, giáo viên bộ môn nắm không chắc khả năng tiếp thu kiến thức và các năng lực phẩm chất của từng học sinh nếu quản lý hỏi về từng học sinh thì phần đa giáo viên phải mở số TDCL mới trả lời được. Thông qua kiểm tra việc ghi nhận xét đánh giá quá trình thực hành viết hoặc tính toán của học sinh trong vở học sinh thì các lời nhận xét tương đối giống nhau chưa thể hiện được sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng, năng lực của từng em đang kiểu GD chung cho các đối tượng như nhau chưa phân ra khả năng cụ thể của từng học sinh. Đây cũng là nguyên nhân học sinh yếu nhiều và không có kế hoạch phụ đạo kiến thức, hình thành năng lực, phẩm chất cho từng học sinh. Bố trí tăng thời lượng nhưng học sinh vẫn bị hổng kiến thức mà giáo viên không kịp thời giúp đỡ thậm chí là không biết học sinh đó yếu cái gì và phụ đạo cái gì.
Để khắc phục tình trạng này bản thân tôi đã chỉ đạo việc theo dõi đánh giá, nhận xét kết quả học tập của học sinh như sau:
3.1. Phân đối tượng học sinh trong lớp, ghi chép nhật ký đánh giá kết quả học tập và giáo dục học sinh theo từng tháng. 
Yêu cầu giáo viên chủ nhiệm, GV bộ môn sau thời gian nhận lớp được 1 tháng phải phân loại học sinh trong lớp theo các mặt: Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học; Đánh giá sự hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh; Đánh giá sự hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh. Theo TT 30/ 2014 yêu cầu giáo viên ghi nhận xét từng nội dung, từng học sinh cụ thể để phân đối tượng học sinh một cách cụ thể. Từ đó mới có kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng cho các nhóm đối tượng cụ thể. Trong kế hoạch chủ nhiệm, trước kế hoạch dạy học (bài soạn) phải có danh sách học sinh các nhóm đối tượng để thực hiện soạn giảng sát đối tượng theo mẫu chuyên môn yêu cầu theo từng tháng.
Mẫu sổ theo dõi kết quả học tập và giáo dục: (Giáo viên ghi vào quyển sổ cá nhân để theo dõi (như nhật ký) hàng tháng).
a, VD: Kết quả theo dõi học tập, hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất lớp 1A tháng 9. 
TT
Họ và tên hs
Đánh giá KT- KN
Năng lực
Phẩm chất
Cần BD, phụ đạo
1
Kha Văn Điệp
TV: chưa biết viết các âm: ch, h, gi. Chữ viết còn chưa đúng mẫu.
Toán: chưa biết so sánh các số đã học. 
- Chưa mạnh dạn trong giao tiếp; khả năng tự học kém.
- Chưa tự chuẩn bị được đồ dùng học tập cho bản thân.
- Chưa tập trung chú ý trong học tập. 
- Còn rụt rè trình bày ý kiến có nhân chưa rành mạch
- Phụ đạo đọc, viết vào các buổi chiều âm: ch, h, gi. Toán phụ đạo về giá trị các số để biết so sánh, hướng dẫn viết đúng số 3, 5.
- Cho trình bày nhiều trước lớp.
2
Kha Thị Hà
3
Vi Thị Hằng
 a, Mẫu tổng hợp chia đối tượng học sinh trong lớp theo nhóm đối tượng trong số bài soạn.
VD: Danh sách phân nhóm đối tượng học sinh lớp . Tại thời điểm tháng .
TT
Họ và tên hs
ĐT1. Học sinh xếp loại “HT”
ĐT2. Học sinh xếp loại “CHT”
Cần giúp đỡ.
1
Kha Văn Điệp
x. (cả toán và tiếng việt)
- Quan tâm nhiều phụ đạo KT âm, so sánh các số
2
Kha Thị Hà
x
3
Vi Thị Hằng
x ( môn toán)
- Phụ đạo so sánh các số
Ảnh danh sách phân đối tượng của GV chủ nhiệm hàng tháng
3. 2. Quản lý việc đánh giá học sinh của giáo viên chủ nhiệm thông qua kết quả bài làm của học sinh ( nội dung này được bổ sung vào KH chuyên môn vào tháng 12/ 2015):
Yêu cầu giáo cho giáo viên chủ nhiệm cho học sinh làm 2 bài kiểm tra vào giấy kiểm tra giáo viên nhận xét, đánh giá vào bài kiểm tra của học sinh cuối tháng gửi về cho chuyên môn.
Cách thực hiện:
- Giáo viên tự ta đề đề bài có nội dung đã được học trong tháng. Môn toán với 3 câu: câu 1, cấu tạo số, so sánh số; câu 2, kiểm tra kỹ năng tính toán, kỹ năng viết số ; câu 3, mở rộng liên hệ kiến thức đã học vào tính toán đối với lớp 2- 5 thay bằng bài toán có lời văn. Môn tiếng việt đọc cho học sinh chép 1 đoạn đối với lớp 2- 5 số lượng tiếng theo quy định của chuẩn KT- KN thời gian viết 10 phút, lớp 1 viết theo viết chính tả việc 4b (thiết kế TV1CGD), nội dung viết 1 bài bất kỳ đã học.
- Tổ chức kiểm tra vào tuần 2, 4 hàng tháng ở chiều thứ 5 hàng tuần, tiết 1 cho học sinh làm bài kiểm tra TV kiểm tra viết. Toán giáo viên chép đề lên bảng cho học sinh làm bài thời gian 20 – 25 phút ( cả hai bài vào một tờ giấy) hết giờ giáo viên thu bài về nhận xét đánh giá. Tiết 2, 3 giáo viên chữa bài hưỡng dẫn học sinh thực hiện và giúp những học sinh thuộc đối tượng 2 theo kế hoạch dạy học.
- Đánh giá – nhận xét kết quả thực hiện của học sinh, nộp bài. Giáo viên chấm bài nhận xét vào bài của học sinh theo TT30 ghi đánh đánh giá nhận xét bằng mực đỏ, chiều thứ 6 tuần 4 hàng tháng về trường dự sinh hoạt chuyên môn nộp cho chuyên môn.
Mục đích tác dụng của việc thực hiện giải pháp này.
Mục đích: Kiểm tra được việc nắm kiến thức trọng tâm của giáo viên thực hiện giảng dạy trong tháng đó để bổ cứu cho giải pháp tóm tắt nội dung chương trình ở giải pháp 1; kiểm tra việc ghi nhận xét, đánh giá của giáo viên trong việc thực hiện TT30; Kiểm tra quản lý chất lượng học sinh từ chuyên môn đến từng học sinh mình phụ trách từ đó tư vấn lên kế hoạch phụ đạo cho giáo viên thực hiện nhiệm vụ dạy học.
Tác dung: Qua việc triển khai giải pháp này từ tháng 12/ 2015 đến nay tôi thấy: Giáo viên nắm chắc kiến thức trọng tâm của môn học trong từng giai đoạn hơn, trong dạy học giáo viên xác định trong tâm kiến thức của chương, bài tuần tháng chính xác hơn, chủ động thực hiện mục tiêu dạy học; Việc soạn giảng ít phụ thuộc vào sách giáo khoa, thiết kế hơn; Công tác dạy sát đối tượng có nội dung cụ thể hơn cho từng đối tượng; Giáo viên nắm rõ chắc chắn hơn trình độ kiến thức – năng lực – phẩm chất của học sinh trong lớp một cách cụ thể chính xác; Việc đánh giá – nhận xét ( lời nhận xét trong vở học sinh càng ngày càng chính xác cả ba nội dung theo TT30 hơn, chữ viết của giáo viên cũng được cải thiện hơn ( đẹp hơn), giáo viên hiểu hơn về cách ghi các loại hồ sơ đánh giá học sinh theo TT30 đúng và sát từng tháng hơn; Học sinh có kỹ năng làm bài, trình bày bài hơn; Công tác quản lý dạy học – chất lượng dạy học có hệ thống hơn và chính xác hơn. 
Hình ảnh và lời nhận xét của giáo viên qua kết quả bài của học sinh. 
C. KẾT LUẬN.
I. Kết quả sau thời gian triển khai các giải pháp trên:
- Đối với giáo viên:
Giáo viên nắm được mạch kiến thức nên khi soạn – giảng đi đúng chuẩn kiến thức trọng tâm, tự chủ, tự tin trong việc soạn giảng theo dõi sát được học sinh nắm được mục tiêu từng giai đoạn, nhận xét học sinh chắc không chung chung, đánh giá học sinh học hoàn thành và chưa hoàn thành mạch kiến thức một cách chắc chắn, từ đó có giải pháp phụ đạo giúp đỡ kịp thời và đúng chỗ hổng kiến thức của học sinh. Việc soạn giảng sát đối tượng giáo viên chủ động hơn, phân chia đối tượng nhất là đối tượng học sinh chưa đạt chắc và chính xác hơn về từng nội dung kiến thức cụ thể. Năng lục chuyên môn của đội ngũ cũng được ôn luyện và củng cố lại bởi phải đọc, chép, phải ra câu hỏi cho các trò chơi .. nên kiến thức được củng cố và nắm chắc hơn.
Đối với học sinh:
Kiến thức môn toán từng bước được củng cố kịp thời giảm hẳn số lượng học sinh hổng kiến thức cơ bản môn toán ở các lớp, học sinh ham học toán hơn nhờ đa dạng hoá hoạt động thực hành, hoạt động củng cố kiến thức toán qua các trò chơi, giao lưu .. Học sinh nắm được kiến thức có tính cơ sở khoa học nhờ được thực hành trên đồ dùng học tập kiến thức được ghi sâu. 
 Kết quả thông qua số liệu qua đợt khảo sát tháng 2 năm 2016 vừa qua như sau:
- Bảng so sánh xếp loại HT
Khối
TS HS
Kết quả khảo sát
So sánh giữa toán và TV
Hiệu số %HT giữa T và TV 
Môn Toán
Môn Tiếng việt
Môn Toán
Môn Tiếng việt
HT
CHT
HT
CHT
HT
%
HT
%
Khối 1
65
51
14
52
13
51
78
52
80
-2
Khối 2
66
55
11
56
10
55
83
56
85
-2
Khối 3
56
50
6
53
3
50
89
53
95
-5
Khối 4
59
50
9
53
6
50
85
53
90
-5
Khối 5
61
52
9
54
7
52
85
54
89
-3
Cộng
307
258
49
268
39
258
84
268
87
-3
- Bảng so sánh xếp loại CHT
Khối
TS HS
Kết quả khảo sát
So sánh XL "CHT" giữa toán và TV
Hiệu số % CHT giữa T và TV 
Môn Toán
Môn Tiếng việt
Môn Toán
Môn Tiếng việt
HT
CHT
HT
CHT
CHT
%
CHT
%
Khối 1
65
51
14
52
13
14
21.5
13
20
2
Khối 2
66
55
11
56
10
11
16.7
10
15
2
Khối 3
56
50
6
53
3
6
10.7
3
5
5
Khối 4
59
50
9
53
6
9
15.3
6
10
5
Khối 5
61
52
9
54
7
9
14.8
7
11
3
Cộng
307
258
49
268
39
49
16.0
39
13
3
Qua kết quả khảo sát lần này cho số lượng giữa hai môn gần tương đồng. Tỷ lệ học sinh yếu môn toán giảm đi đáng kể và số lượng học sinh nắm được kiến thức cơ bản của môn toán tại thời điểm khảo sát số lượng cao, chỉ còn một số học sinh hổng về kiến thức ở các lớp trên còn hạn chế về kỹ năng tính, toán giải. Hiệu số chênh lệch giữa toán và Tiếng việt không quá lớn như những lần kiểm tra trước. Hiệu số chênh lệch giữ hoàn thành môn toán và môn tiếng việt là 3%, Chưa hoàn thành môn toán và môn tiếng việt là 3%. 
II. Những thuận lợi khó khăn trong quá trình thực hiện giải pháp:
Việc nâng cao chất lượng dạy học là mục tiêu, mong muốn của các nhà trường là một nhiệm vụ cốt lõi của các cơ sở giáo dục. Nhưng để nâng cao chất lượng dạy – học nói chung môn toán nói riêng có rất nhiều thành tố tác động đến như đội ngũ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, môi trường giáo dục  
Việc khắc phục những hạn chế về chất lượng dạy học môn toán trong một phạm vi nhỏ của một nhà trường lấy chất lượng của các môn học để so sánh tìm nguyên nhân và giải pháp khắc phục những tồn tại đó thì theo tôi là một việc làm cần thiết của từng trường, của thực tại cụ thể ở trường chứ không phải trường nào cũng có chất lượng toán kém hơn tiếng việt hay toán so với môn học khác. Đây là nhiệm vụ quan trọng của quản lý – chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học, việc thực hiện mục tiêu dạy học môn của giáo viên tại trường đó.
1. Thuận lợi:
- Giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng môn toán là một trong những nhiệm vụ trong việc chỉ đạo quản lý, thực hiện nhiệm vụ mục tiêu giáo dục nói chung của nhà trường;
- Việc tóm tắt mạch kiến thức môn học nắm chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học nói chung môn toán nói riêng là nhiệm vụ bắt buộc cho mọi giáo viên tiểu học
- Việc vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù môn học thì giáo viên đã nắm và đã được đào tạo tại các trường sư phạm;
- Chỉ đạo soạn – giảng sát đối tượng học sinh là một chủ trương chỉ đạo của ngành trong những năm qua; 
- Đa dạng hoá các hình thức tổ chức hoạt động dạy học là nghiệp vụ sư phạm của giáo viên đã được học và thực hành trong thực tế.
2. Khó khăn:
- Là vấn đề không mới về phần quản lý, là một việc làm bắt buộc trong công tác quản lý chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ dạy học – giáo dục của các đơn vị giáo dục. Nhưng trong thực tế việc giáo viên trong đơn vị có trình độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm nắm chắc mạch kiến thức môn toán, mạch kiến thức môn toán thì không đồng đều giữa các giáo viên; Việc yêu cầu giáo viên nắm mạch kiến thức môn học của bậc học, lớp học không phải trường nào cũng yêu cầu giáo viên phải tóm tắt được mà xem đó là việc giáo viên đã biết nhưng thực tế thì không phải như vậy, cùng với không ai kiểm tra dần dần giáo viên sao nhãng thậm chí là quyên;
- Việc quản lý chỉ đạo dạy học sát đối tượng chúng ta nói nhiều về lý thuyết nhưng khi qua thực tế soạn giảng thì chỉ là hình thức bởi nguyên nhân là nhiều giáo viên dạy khi thấy học sinh không thực hiện được yêu cầu hiện tại đánh giá là học sinh yếu nhưng chưa thực sự phân tích học sinh yếu cụ thể phần kiến thức nào, và phụ đạo bắt đầu từ đâu bởi GV cũng không nắm chắc mạch kiến thức mà khi lên lớp dựa vào sách giáo khoa và sách thiết kế để thực hiện chứ chẳng quan tâm trong thời gian đó đang thực hiện nội dung kiến thức đó là gì và kiến thức trước đó là gì?. Quản lý các nhà trường cần thực hiện một cách cụ thể hoá, chuyên môn các nhà trường cần nắm chắc trình độ học sinh từng lớp cụ thể để có kế hoạch chỉ đạo soạn – giảng phù hợp nhất, hiệu quả nhất.
- Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học trên lý thuyết nhiều và giáo viên chỉ thực hiện những tiết dạy thể nghiệm, tiết thao giảng dự giờ còn thường ngày lên dạy thì giáo viên ít thực hiện.
3. Một số bài học rút ra sau thời gian triển khai các giải pháp chỉ đạo trên:
Muốn thực hiện chỉ đạo chuyên môn nâng cao chất lượng dạy – học môn toán đưa chất lượng môn toán đồng đều với các môn học khác khi thực tế môn toán của trường thấp hơn so với môn học khác người chỉ đạo chuyên môn cần:
- Phân tích cơ sở khoa học, cơ sở thực tế để tìm ra nguyên nhân từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục;
- Giải pháp đưa ra mới hay tăng cường thực hiện giải pháp chỉ đạo phải xác định đó là giải pháp cấp thiết, bắt buộc phải thực hiện;
- Việc nắm chương trình tóm tắt được mạch kiến thức của giáo viên là cần thiết để GV tự chủ trong việc lựa chọn và thực hiện dạy học, việc sử dụng phương pháp dạy học – sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên yêu cầu giáo viên phải có nghiệp vụ chuyên môn đáp ứng nhiệm vụ dạy học;
- Công tác quản lý việc thực hiện dạy học của giáo viên cần thường xuyên có những quy chế ràng buộc giáo viên thực hiện dạy học có hiệu quả có pháp chế cụ thể cho việc lấy chất lượng để đánh giá giáo viên sàng lọc giáo viên;
- Quản lý chuyên môn phải tâm huyết dành nhiều thời gian cho hoạt động chuyên môn và đưa ra các giải pháp sát thực cập nhật nhất nhằm khắc phục những tồn tại của thức tế, công tác chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc thực thi giải pháp phải thường xuyên liên tục, lộ trình thực hiện phải theo kế hoạch nhất định, có đánh giá từng giai đoạn và điều chỉnh hình thức thực hiện hay bổ sung kế hoạch chỉ đạo sát thực tế./. 

File đính kèm:

  • docSang_kien.doc