Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi học tốt môn khám phá khoa học ở trường mầm non

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ.

Giáo dục mầm non là ngành học mở đầu cho hệ thống giáo dục quốc dân, chiếm vị trí quan trọng, trong giáo dục mầm non có nhiệm vụ xây dựng những cơ sở ban đầu, đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách con người. Trẻ em là hạnh của của mọi người, là tương lai của mọi gia đình, của toàn xã hội và của cả nhân loại.

 Đây là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, thời điểm này tất cả mọi việc đều bắt đầu. Bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn và vận động bằng đôi tay và đôi chân của mình.Tất cả những cử chỉ đó đều làm nên những thói quen, kể cả thói xấu. Chính vì vậy chúng ta đã bước sang thế kỷ 21, thế kỷ của nền văn minh trí tuệ, của nền khoa học hiện đại. Muốn được như vậy, ngay từ tuổi ấu thơ trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi đang ở những bước phát triển mạnh về nhận thức, tư duy, về ngôn ngữ, về tình cảm.Những thế giới khách quan xung quanh thật bao la, rộng lớn, có biết bao điều mới lạ, hấp dẫn, và còn có bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá, cho nên giáo dục mầm non đã góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ.

 

doc28 trang | Chia sẻ: binhthang88 | Ngày: 23/11/2017 | Lượt xem: 4936 | Lượt tải: 93Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi học tốt môn khám phá khoa học ở trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g ban đầu để đi đến kết luận.
 Với các thí nghiệm phải tiến hành trong thời gian dài, cô cần lựa chọn những thời điểm thích hợp để hướng dẫn trẻ ghi lại kết quả quan sát sự thay đổi của vật làm thí nghiệm bằng hình vẽ, biểu đồ, kết hợp với các câu hỏi gợi ý để trẻ so sánh kết quả thí nghiệm với trạng thái ban đầu, cùng trẻ giải thích nguyên nhân của sự thay đổi và kết quả thí nghiệm. 
4.1: Thí nghiệm 1 : Quả trứng thần bí.
* Mục đích: - Trau dồi óc quan sát, khả năng phán đoán.
 - Kích thích tính tìm tòi, ham hiểu biết.
* Chuẩn bị: - 2 quả trứng sống, 2 cốc thủy tinh, Nước ngọt, nước muối.
* Cách tiến hành. - Cô hỏi trẻ các đồ dùng cô đã chuẩn bị, trẻ đoán xem cô sẽ làm gì với những đồ dùng này
- Trẻ đánh dấu thứ tự 2 cốc nước ( Cốc 1 và 2), sau đó thả cả 2 quả trứng vào 2 cốc nước ngọt, trẻ nhận xét khi thả trứng vào thì trứng sẽ nổi lên trên mặt nước. Cô mời trẻ cho muối vào cốc nước thứ nhất, khuấy đều, sau đó thả quả trứng vào. Quả trứng sẽ từ từ nổi lên trên mặt nước.
- Cô cho trẻ quan sát và rút ra kết luận: Quả trứng trong cốc nước muối sẽ nổi lên trên mặt nước vì trứng nặng hơn nước muối, nhưng quả trứng sẽ chìm trong nước ngọt vì nó nặng hơn nước ngọt.
4.2. Thí nghiệm 2. Làm nổi một vật chìm.
* Mục đích yêu cầu.- Rèn luyện sự quan sát chú ý, tư duy thông qua thí nghiệm “ Làm nổi một vật chìm”
- Kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của trẻ.
- Có ý thức giữ gìn đồ dùng đồ chơi.
* Chuẩn bị:
- Một vài đồ chìm trong nước như: thìa ilốc, thìa nhôm, gạch đồ chơi, lon côca, chai nước, cốc thủy tinh....
- Một chậu nước.
- Băng dính, đất nặn, túi bóng....
* Cách tiến hành. 
- Cô cho trẻ xem viên bánh trôi nước khi sống, thả xuống nước. Viên bánh trôi sẽ chìm xuống nước. Hỏi trẻ làm thế nào để viên bánh trôi có thể nổi lên? ( Trẻ nêu ý kiến)
- Cô đun làm cho nước nóng lên -> Viên bánh trôi sẽ từ từ nổi lên khỏi mặt nước.
- Cô đặt một đồ chơi đã chuẩn bị vào chậu nước và cho trẻ quan sát, nhận xét ( Các đồ chìm trong nước). Cô hỏi trẻ. Làm thế nào để vật đó có thể nổi lên được?
- Cô hỏi trẻ ngoài cách như vậy thì còn cách nào khác để cho các vật nổi có thể nổi lên được?
- Cho trẻ về các nhóm nhỏ để làm thí nghiệm với các đồ cô đã chuẩn bị. Cô quan sát, bao quát trẻ và hỏi. Làm sao cho vật nổi được? vì sao vật đó lại nổi lên được?
( Mỗi nhóm sẽ có cách riêng của trẻ. Có trẻ đổ nước ở trong lon nước ra, có trẻ dùng túi bóng buộc vào cái thìa, có trẻ lấy băng dính bịt chặt miệng cốc...những đồ đó sẽ nổi lên được). Nếu trẻ không làm vật đó nổi được, cô phải xem và xử lý kịp thời hoặc có thể giải thích cho trẻ.
5.3. Thí nghiệm 3: Cuộc chạy đua của ba cây nến.
* Mục đích: 
- Trẻ nhận biết được không khí xung quanh.
- Trẻ biết nến cháy nhờ khí ôxy. Khí ôxy hết thì nến sẽ tắt.
- Trẻ rút ra được nhận xét: Cây nến nào cháy lâu nhất? Tại sao?
* Chuẩn bị:- 3 cây nến, bật lửa
- 2 cốc thuỷ tinh lớn và nhỏ cho mỗi nhóm.
* Cách tiến hành;
 - Cho trẻ quan sát và gọi tên các đồ dùng cô đã chuẩn bị.
- Hỏi trẻ gắn cây nến lên đĩa bằng cách nào? Cô gắn cho từng nhóm để trẻ quan sát.
- Sau khi gắn xong đặt 1 đĩa nến ở ngoài, 1 đĩa còn lại được đậy bởi 1 cái cốc thủy tinh nhỏ. Cô hỏi trẻ: Hiện tượng gì xảy ra? Cây nào cháy lâu hơn?
- Cô tiếp tục đốt một cây nến nữa và úp lên bởi 1 cốc thủy tinh lớn. Cô hỏi trẻ: Hiện tượng gì xảy ra? Cho trẻ dự đoán xem cây nến nào cháy lâu nhất trong 3 cây nến?
- Cho trẻ quan sát cho đến khi 2 cây nến ở trong cốc tắt dần
=> Cây nến với nhiều không khí xung quanh có thể tiếp tục cháy sau khi 2 cây nến ở trong cốc đã tắt. Cây nến trong cốc lớn có nhiều không khí hơn nên sẽ cháy lâu hơn cây nến trong cốc nhỏ.
4.4: Thí nghiệm 4: Có thể trồng cây bằng gì?
* Mục đích.
- Giúp trẻ hiểu được ngoài cách trồng cây bằng hạt, người ta có thể trồng cây bằng cành, bằng lá hoặc bằng củ.
* Chuẩn bị.	
 - 4 chậu đất để trồng cây.
- Một số dây khoai lang hoặc cành hoa 
trạng nguyên.
- Một số lá bỏng.
- Một số cành hoặc lá cây khác mà không thể trồng bằng cành hoặc bằng lá.
* Cách tiến hành.
- Cô cho trẻ chơi trò chơi “ Gieo hạt, nảy mầm”
- Hỏi trẻ: Ngoài cách trồng cây bằng hạt, ta có thể trồng cây bằng cách nào?
- Cho trẻ nói tên 1 số loại cây và lá mà cô đã chuẩn bị.
- “ Hôm nay chúng ta sẽ giâm, trồng một số cành cây khoai lang, trạng nguyên, lá bỏng....và thử xem điều gì sẽ xảy ra”
- Cô cho trẻ dự đoán chậu nào sẽ có các mầm cây mọc lên.
- Hàng ngày, cô cùng trẻ tưới nước đủ độ ẩm để cây phát triển, cho trẻ theo dõi sự thay đổi diễn ra trong các chậu cây trồng.
- Khi thí nghiệm kết thúc, cô trò chuyện với trẻ về điều xảy ra và rút ra kết luận. Ngoài cách trồng cây bằng hạt, ta có thể trồng cây bằng cành, hoặc bằng lá. Song không phải cây nào cũng trồng được bằng cành hoặc bằng lá và chỉ cho trẻ thấy rễ và mầm sinh ra từ các mắt của cành hoặc các mép lá.
4.5 . Thí nghiệm với nước: Các lớp chất lỏng.
* Mục đích:
- Trẻ biết phân biệt lớp chất lỏng khác nhau: Dầu, nước, sirô.
- Nhận biết lớp sirô nặng hơn nước nên chìm xuống dưới, lớp dầu nhẹ hơn nước và siro nên nổi lên trên cùng. Còn lớp nước ở giữa.
- Nhận biết một số chất liệu: Nhựa, gỗ, kim sắt, cao su- nổi ở lớp chất lỏng nào: Nước, siro, dầu, để rút ra kết luận.
* Chuẩn bị:
- 1 chai dầu ăn, 1 chai nước, 1 chai sirô.
- 3 ly thủy tinh, khay.
- Các vật liệu: Cao su, sỏi, đồ nhựa, sắt.
- Các thẻ màu đỏ, trắng, vàng.
* Tiến hành.
- Cho trẻ quan sát và gọi tên 3 chai chất lỏng: Dầu, nước, siro.
- Mỗi chất lỏng cô dùng một miếng nhựa màu tương ứng với màu chất lỏng: Miếng nhựa đỏ, vàng, trắng.
- Cho trẻ chọn chất lỏng thứ 1 đổ vào ly trước và chọn miếng nhựa có màu tương 
ứng gắn lên bảng.
- Cô cho trẻ chọn chất lỏng thứ 2 và đổ vào ly. Trẻ tự đoán nó sẽ đứng ở chỗ nào trong cái ly. Chọn thẻ nhựa có màu tương ứng gắn tiếp lên bảng. Cô cho trẻ quan sát lớp chất lỏng thứ 2 nó đứng ở vị trí nào trong cái ly có đúng như dự đoán của trẻ không.
- Làm tương tự với chất lỏng thứ 3.
- Cho trẻ quan sát vị trí các lớp chất lỏng ở trong ly để rút ra kết luận. ( Lớp siro nặng hơn nước nên chìm xuống dưới cùng. Lớp nước nhẹ hơn siro nhưng nặng hơn dầu nên ở giữa. Lớp trên cùng là lớp dầu vì nhẹ hơn lớp nước và lớp siro)
- Cho trẻ chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm tự chọn vị trí xếp thẻ nhựa khácvới lúc đầu. Mỗi nhóm sẽ đổ thứ tự các lớp chất lỏng theo như đã chọn và mang ly chất lỏng vừa đổ lên cùng quan sát xem các lớp chất lỏng có đứng ở đúng vị trí đó không?
- Trẻ tự rút ra kết luận: Chất lỏng dù đổ loại nào trước thì nó vẫn đúng theo thứ tự siro, nước, dầu. và trẻ gắn lại thứ tự thẻ nhựa theo đúng vị trí các chất lỏng trong ly.
* Mở rộng: cho trẻ thả một số vật: Cao su, nhựa, sỏi, gỗ, sắt và quan sát xem nó nổi hoặc chìm ở lớp chất lỏng nào và tự rút ra kết luận.
4.6: Thí nghiệm: Nhuộm màu hoa.
* Mục đích: 
- Trẻ biết bông hoa hút màu qua những ống hẹp trong cuống hoa và có khả năng biến đổi thành màu đó
- Trau dồi óc quan sát, khả năng phán đoán, suy luận và chú ý.
* Chuẩn bị: 
- Bình thủy tinh hoặc lọ hoa trong suốt.
- Nước.
- Thực phẩm màu ( Màu nước)
- Hoa cúc hoặc hoa cẩm chướng sáng màu.
* Cách tiến hành.
- Cho trẻ quan sát và gọi tên các dụng cụ. trẻ có thể đoán xem cô sẽ làm gì với các dụng cụ này.
- cho trẻ đánh dấu 2 lọ nước, sau đó đổ màu vào lọ nước thứ 2, sau đó đặt 2 bông hoa vào 2 lọ nước.
- Cô cho trẻ quan sát sau nhiều giờ, cuối cùng các cánh của bông hoa đặt trong lọ thứ hai sẽ chuyển sang màu của nước trong lọ.
* Mở rộng: có thể làm những bông hoa nhiều màu bằng cách chẻ đôi cuống hoa và ngâm mỗi nửa cuống hoa vào một lọ nước màu khác nhau.
4.7 : Thí nghiệm: Táo, lê đổi màu.
* Mục đích:
- Giúp trẻ phát hiện được sự thay đổi màu sắc của táo, lê sau khi gọt vỏ. Hình thành cho trẻ kỹ năng tạo ra những miếng táo ngon hơn, sạch hơn và đẹp hơn.
* Chuẩn bị:
- 2 quả táo hoặc lê.
- Đĩa đựng hoa quả.
- Dao.
- 1 bát nước muối loãng đun sôi để nguội.
- Giấy bút để ghi lại kết quả thí nghiệm.
* Cách tiến hành.
- Cô cho trẻ nói tên các đồ dùng cô đã chuẩn bị.
- Cô pha một chút muối vào bát nước sôi đã chuẩn bị.
- Cô cùng trẻ bổ 2 quả táo( hoặc lê), một quả cắt thành miếng bày ra đĩa, còn quả kia cắt thành miếng ngâm vào bát nước muối loãng.
- Cho trẻ dự đoán điền gì sẽ xảy ra với các miếng táo bày ở đĩa và các miếng táo ở trong bát nước muối pha loãng.
- cho trẻ quan sát sau 5-7 phút, ghi lại kết quả trẻ quan sát được.
- Đặt câu hỏi cho nhóm trẻ thảo luận: + Vì sao khi bổ ra, táo lại đổi thành màu nâu?
 + Tại sao nước muối ngâm làm táo không đổi màu?
-Cô giải thích: Vì trong táo và một số loại quả như cà, hồng, lê....có loại chất Tanin nên khi bổ ra, chúng tiếp xúc với không khí, và khiến cho quả đó chuyển thành màu nâu. Còn nước muối ngâm quả táo kia chuyển thành nâu vì nhựa trong quả táo thôi ra ở trong nước muối. Vớt những miếng táo được ngâm trong nước muối loãng cho trẻ quan sát, so sánh với những miếng táo không ngâm và hướng dẫn trẻ cách làm cho táo, lê trắng ngon khi bổ ra.
Biện pháp 5. Phôí kết hợp với phụ huynh.
 	Giáo dục mầm non là bậc học đặc biệt cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. Với mong muốn trẻ có thể ghi nhớ lâu hơn và nắm chắc những kiến thức đã học trên lớp nên ngay từ đầu năm khi họp phụ huynh tôi đã thông qua chương trình giáo dục, thời khóa biểu ở lớp với các chủ điểm, tôi còn thông báo với phụ huynh về yêu cầu cần đạt của từng môn học để phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ theo đúng độ tuổi và có hướng rèn các cháu ở nhà để trẻ có một tâm thế tốt trước khi vào lớp 1.
- Đặc biệt với bộ môn “ Khám phá khoa học”, tôi giải thích rõ cho phụ huynh về nội dung và sự cần thiết của môn học trong sự phát triển toàn diện của trẻ, giải thích cho họ hiểu khoa học không chỉ là kiến thức mà còn là quá trình, hay là con đường tìm hiểu, khám phá thế giới vật chất. Khoa học với trẻ nhỏ là quá trình tìm hiểu, khám phá tự nhiên và là quá trình tích cực tham gia hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên từ đó kích thích ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết. Tôi tuyên truyền tới phụ huynh về một số kinh nghiệm để có thể cùng với trẻ khám phá. “ Trẻ nhỏ học bằng cách thực hành, thử làm những ý tưởng mới lạ và những thử thách chưa vượt qua được. Điều này không phải chỉ diễn ra tại trường học. Các phụ huynh có thể giúp trẻ học bằng cách cung cấp cho trẻ một những kinh nghiệm học tập thú vị trong môi trường an toàn với nhiều sự khích lệ. Là bố mẹ, có thể tạo hứng thú học cho trẻ bằng cách mà không ai có thể làm ngoại trừ bạn. Đam mê học tập, tìm hiểu là chìa khóa thành công của trẻ. Nếu bạn chọn cách cùng làm việc với trẻ, hãy nhớ rằng giúp trẻ học không có nghĩa là bạn không thể tỏ thái độ buồn cười hay nghiêm trọng” . Ngoài ra tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh vào các giờ đón trả trẻ về tình hình sức khỏe và tình hình học tập của trẻ ở lớp để cùng với phụ huynh giúp trẻ tiến bộ hơn.
 	- Trong công tác chuẩn bị đồ dùng, nguyên vật liệu cho các hoạt động hoặc những đóng góp để cho phong trào ở lớp thêm sôi động thì không thể không kể đến các bậc phụ huynh. Vì vậy tôi thường xuyên vận động phụ huynh đóng góp truyện, cây xanh tạo thành góc thư viện và vườn cây của bé, đóng góp các nguyên vật liệu phế thải như bìa lịch, chai, lọ, vỏ hộp.....để phục vụ các chủ đề. Ví dụ tiết khám phá “ Các loại lá” Tôi thông báo với phụ huynh hái lá cây đến để cho trẻ hoạt động, thì ngay hôm sau đến tiết đó trẻ đã có đầy đủ các loại lá phong phú và trẻ biết tên lá, biết đặc điểm của cây đó rõ hơn. Và trẻ rất vui mừng vì mình đã chuẩn bị được đồ dùng để phục vụ tiết học. Tôi đ ưa ra các yêu cầu, các bài tập để trẻ mang về nhà cùng với bố mẹ làm thí nghiệm cô giao cho: Ví dụ như cô bảo trẻ về quan sát con vật nuôi trong gia đình, các đồ dùng trong gia đình, hoặc cô đưa cho mỗi trẻ một loại hạt, củ yêu cầu trẻ về nhà trồng và đưa ra điều kiện hôm nào sẽ mang đến để cô kiểm tra. chính vì vậy phụ huynh càng thấy được tầm quan trọng của việc học tập của con em mình.
- Ngoài ra tôi thường lên một số tiết có sự tham dự củaphụ huynh,Phụ huynh rất vui khi thấy các con mình thật sự được học và chơi, được trải nghiệm và họ không ngờ các con mình lại có thể thông minh như vậy. 
 Sau khi áp dụng biện pháp này, tôi thấy mối quan hệ giữa tôi và phụ huynh trở nên gần gũi và phụ huynh cũng rất nhiệt tình, vui vẻ khi có những lời đóng góp từ phía giáo viên.
4/ KẾT QỦA
* Đối với cô:
Trong những năm học trước việc cho trẻ “ Khám phá khoa học” ở trường tôi nói chung và ở lớp tôi nói riêng vẫn chưa được sáng tạo, một số giáo viên vẫn chưa mạnh dạn cho trẻ thực hiện các thí nghiệm, vì vậy trẻ còn thụ động, chưa nhanh nhẹn tìm tòi khám phá các sự vật hiện tượng xung quanh. Sau khi tiến hành áp dụng biện pháp trên, tôi thấy tự tin hơn, và đã tổ chức tiết học khám phá một cách linh hoạt, không gò bó ,thụ động, không ngại ngùng trước các trải nghiệm thí nghiệm.
* Đối với trẻ.
 Qua các biện pháp trên, trong quá trình thực hiện, tôi thấy trẻ ở lớp tôi rất hứng thú, phát triển khả năng tư duy cao. Trẻ tò mò, thích khám phá các sự vật hiện tượng xung quanh. Trẻ biết đặt ra những câu hỏi “ Tại sao” trước những hiện tượng tượng lạ, từ đó thu nhận được những hiểu biết, những vốn kinh nghiệm nhất định để áp dụng trong đời sống hàng ngày. Hầu hết tất cả các trẻ đều háo hức chờ đón những giờ thí nghiệm, tập trung cao độ để quan sát hiện tượng xảy ra, kiên nhẫn chờ đón kết quả. Qua đó khơi gợi ở trẻ nhu cầu khám phá, trẻ bắt đầu để ý những biến đổi của sự vật hiện tượng xung quanh, biết tự khám phá bằng nhiều giác quan và có sự trao đổi giữa cô và bạn. Chính vì thế tôi đã hình thành cho trẻ một số kỹ năng, thao tác thử nghiệm trong khoa học. Trẻ lớp tôi ngày càng có kỹ năng quan sát tốt, biết suy đoán, phán đoán nhằm tìm ra một kết quả chính xác. 
* Về phía phụ huynh
Sau khi được nghe giáo viên tuyên truyền về tầm quan trọng của môn khám phá khoa học đối với trẻ mầm non, đại đa số các bậc phụ huynh đều hoan nghênh tán thưởng và cùng kết hợp với giáo viên quan tâm dạy dỗ con em mình ngày càng tốt hơn. Chính vì vậy,càng ngày phụ huynh càng tin tưởng vào chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường.
Qua các biện pháp trên, qua thực tế các hoạt động ở lớp năm học 2016- 2017 vừa qua trẻ lớp tôi đã đạt được kết quả như sau
Lớp mẫu giáo lớn
Đầu năm ( Chưa áp dụng SKKN)
Hết học kì I( Sau khi áp dụng SKKN)
Tăng ( + )
Giảm ( - ) 
So với đầu năm
Số trẻ
Tỷ lệ %
Số trẻ
Tỷ lệ %
Số trẻ
Tỷ lệ %
 Sĩ số lớp
32
100
32
100
32
100
Trẻ đạt
12
27
32
100
20
63
Trẻ chưa đạt
20
63
0
0
20
63
Qua kết quả khảo sát học sinh giữa học kỳ II so với đầu năm học, sau khi đã áp dụng các biện pháp tổ chức trong sáng kiến kinh nghiệm, tôi thấy trẻ lớp tôi có tiến bộ rất nhiều. Nhờ có sáng kiến mà tôi đã tạo cho trẻ được tìm tòi, khám phá về thế giới xung quanh trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Không chỉ khám phá trong góc khoa học hoặc trong các hoạt động khoa học mà trẻ lớp tôi còn khám phá, áp dụng và phát hiện được rất nhiều điều qua các môn học khác.
III/KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Từ những kết quả đạt được như trên, tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm như sau.
Giáo viên phải nỗ lực học hỏi, tìm hiểu và mong ứng dụng được nhiều hơn những tri thức về khoa học trong công tác giảng dạy. Những điều kỳ thú về khoa học vô cùng phong phú, song không phải bất cứ hiện tượng khoa học vui nào cũng có thể ứng dụng được trong việc dạy trẻ mầm non. Việc lựa chọn cũng như thực hiện các thí nghiệm khoa học phải đảm bảo tính vừa sức, phải phù hợp với mục đích, nội dung giáo dục đặt ra cho mỗi bài học, trong mỗi hoạt động hoặc giai đoạn thực hiện chủ đề. Phù hợp với vốn hiểu biết và khả năng nhận thức của trẻ và đảm bảo tính phát triển. Qua đó giáo dục trẻ biết tư khám phá trongkhả năng của mình, tránh những trường hợp tò mò hiếu động gây nên những hậu quả nghiêm trọng.
 Giáo viên cần khích lệ trẻ khám phá, hướng sự quan tâm chú ý của trẻ tới đối tượng quan sát, tạo ra thói quen tìm hiểu về thế giới xung quanh ở trẻ bằng cách tạo ra những tình huống bất ngờ, mang tính ngẫu nhiên để lôi kéo trẻ vào hoạt động khám phá. Hãy để cho trẻ có thời gian, không gian và tự do để khám phá. Ở trẻ sẵn có niềm đam mê khám phá và nhạy cảm với thế giới xung quanh với hàng loạt câu hỏi: “ Tại sao con cá bơi trong nước lâu như vậy mà không ngạt thở” “ Tại sao chim có thể đứng yên một chỗ trên trời mà khỏngơi xuống” “Con giun này chân nó ở đâu” “ Tại sao cùng đốt 2 cây nến mà có 1 cây nến bị tắt, 1 cây vẫn cháy”.........Vì vậy giáo viên cần tạo cho trẻ cơ hội tiếp xúc tìm hiểu khám phá, thể hiện cảm xúc của mình. Các câu hỏi trẻ thường tìm đến cô để tìm lời giải đáp. Cô đừng từ chối mà hãy tận dụng cơ hội này gọi các trẻ khác đến cùng chia sẻ để tạo niềm hưng phấn và thói quen tìm hiểu thế giới xung quanh.
Nên cho thời gian để trẻ suy nghĩ. Khuyến khích trẻ sáng tạo, cố gắng htể hiện, tìm ra cách làm, cách giải quyết khác với bạn, lựa chọn cách tốt hơn. Các câu trả lời hoặc những cách làm của trẻ đúng hay sai không quan trọng bằng việc biết được trẻ suy nghĩ, tìm ra câu trả lời bằng cách nào.
 Chú ý tới những trẻ nhút nhát, có khó khăn và khuyến khích bằng những câu hỏi dễ hơn, những yêu cầu đơn giản hơn, tạo cho trẻ cảm giác thành công trong công việc mà dần dần bạo dạn, tự tin vào bản thân.
 Giáo viên phải xử lý tình huống một cách linh hoạt, mềm dẻo và ph ù hợp
 	Tích cực nghiên cứu làm đồ dùng đồ chơi tự tạo cho trẻ hoạt động, giáo viên phải tìm tòi và nghiên cứu xem học liệu nào trẻ sẽ dùng để trẻ có thể thực hiện các thí nghiệm, các hoạt động. Việc lựa chọn này cũng rất quan trọng để trẻ đạt được các yêu cầu đề ra. Trẻ phải được thao tác bằng tay với các nguyên vật liệu đã chuẩn bị. Giáo viên nên tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có của địa phương, tái sử dụng các đồ dùng gia đình, các phế liệu. Tận dụng các nguyên vật liệu thiên nhiên ( đá, sỏi, vỏ sò, vỏ hến...) và sử dụng những thứ có sẵn trng môi trường ( Cây cối, cỏ , hoa, lá.....)
Không ngừng học hỏi, tiếp thu những cái mới từ bạn bè, đồng nghiệp, từ các phương tiện thông tin, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, đến gần công nghệ thông tin ngay từ bậc học mầm non.
 Với giáo viên mầm non việc dạy trẻ môn khám phá khoa học là rất cần thiết. Khi nghe đến từ “ Khoa học” chúng ta thường có cảm giác căng thẳng vì trong chúng ta luôn sẵn có một suy nghĩ rằng khoa học là cái mà luôn cần đến nhiều tri thức và phải vắt óc suy nghĩ, thế nhưng khi tôi làm bản sáng kiến này thì thật sự không phải vậy. Thông qua những hoạt động khoa học, trẻ có thể giải quyết một cách rất sáng tạo bằng tính tò mò bẩm sinh những vấn đề, hiện tượng vốn luôn xuất hiện không ngừng trong cuộc sống hàng ngày. Việc vừa mang lại niềm vui và sự quan tâm về khoa học một cách tự nhiên, vừa chuẩn bị một nền tảng suy nghĩ khoa học đang trở thành mục tiêu lớn trong ngành giáo dục mầm non. Thông qua các hoạt động khoa học, trẻ mầm non tìm hiểu thế giới xung quanh và biểu hiện các suy nghĩ của mình một cách tự nhiên.
 Tôi đã phát huy những mặt thuận lợi và khắc phục những khó khăn ở trường ở lớp. Chủ động tham mưu với ban giám hiệu nhà trường và phối kết hợp với phụ huynh đầu tư thêm cơ sở vật chất cho công tác tổ chức khám phá khoa học. Chính vì vậy trẻ ở lớp tôi rất hào hứng, tự tin tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học và các hoạt động khác.
II/ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT.
 	 Sau khi thực hiện thành công sáng kiến kinh nghiệm này, tôi cũng xin có một vài khuyến nghị đề xuất nhỏ với các cấp lãnh đạo như sau.
* Đối với phòng giáo dục:
- Tạo điều kiện cho giáo viên được tham gia nhiều tiết kiến tập khám phá khoa học và các môn học khác.
* Đối với nhà trường:
- Tiếp tục đầu tư thêm cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho học tập và hoạt động của trẻ 
Trên đây là một số kinh nghiệm rất ít ỏi của bản thân trong quá trình tổ chức hoạt độngcho trẻ 5-6 tuổi khám phá khoa học. Tôi rất mong được sự quan tâm giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các đồng chí lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp để bản sáng kiến của tôi đầy đủ hơn.
 Tôi xin chân thành cảm ơn!

File đính kèm:

  • docskkn_2017.doc
Sáng Kiến Liên Quan