Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh lớp 7 khắc phục lỗi khi viết bài làm văn

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong nhà trường Trung học cơ sở việc viết các bài Tập làm văn và kiểm tra phần Văn bản đóng vai trò hết sức quan trọng (7 bài viết/năm và 2 bài kiểm tra phần Văn bản). Các bài viết Tập làm văn và kiểm tra văn bản không chỉ đánh giá học sinh về những điểm số mà còn mục đích khác nữa như: rèn luyện tính kiên nhẫn, cách hành văn và đặc biệt là bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh.

Hiện nay, đa số học sinh hết sức lơ là trong việc rèn luyện kĩ năng làm văn dẫn đến chất lượng bài làm văn của học sinh ngày càng bị giảm xuống. Tình trạng phổ biến là học sinh yếu kĩ năng hành văn. Hầu hết học sinh mắc lỗi trong việc viết văn từ một đoạn văn ngắn cho đến một bài văn dài với rất nhiều kiểu lỗi.

 

docx26 trang | Chia sẻ: binhthang88 | Ngày: 24/11/2017 | Lượt xem: 933 | Lượt tải: 11Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh lớp 7 khắc phục lỗi khi viết bài làm văn", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 lược)  Đáng lẽ ra các kí hiệu này dùng để viết tắt cho nhanh trong ghi chép cá nhân, nhưng học sinh lại đưa vào bài kiểm tra, bài viết, bài thi, thì nó trở thành lỗi chính tả. Lỗi chính tả này cũng dễ khắc phục nếu như học sinh có ý thức tránh viết khi làm bài kiểm tra, bài thi, hoặc khi làm bài xong dò lại để sửa chữa.
 - Lỗi dùng số và chữ biểu thị số
Kiểu lỗi chính tả này có hai biểu hiện chính: lẫn lộn giữa hai loại số và lẫn lộn giữa số với chữ biểu thị số. 
Lẫn lộn hai loại số
Trong bài viết, có những trường hợp học sinh phải biểu đạt bằng số, chẳng hạn như khi đề cập đến ngày, tháng, năm, thế kỉ... Theo quy định chính tả, tùy trường hợp mà dùng số Á Rập, còn gọi là số thường (1,2,3...), hay số La Mã (I, II, III...). Do không nắm được quy định chính tả, nên học sinh thường sử dụng lẫn lộn hai loại số. 
Ví dụ : Thế kỉ 21, Ðại hội Liên đội lần thứ 6. 
Theo quy định chính tả, phải viết bằng số La Mã những trường hợp này mới đúng. Tôi đã hướng dẫn để các em thực hiện nhiều lần.
Lẫn lộn số và chữ biểu thị số
Bên cạnh một số trường hợp phải viết số, theo quy định chính tả, có khá nhiều trường hợp phải viết bằng chữ, khi biểu thị số chỉ số lượng, số chỉ thứ tự, số chỉ số lượng phỏng chừng v.v... Do không nắm rõ quy định chính tả và do viết theo thói quen, học sinh dễ lẫn lộn giữa số và chữ biểu thị số trong rất nhiều trường hợp. 
Ví dụ: 
Ngày mười năm, tháng năm, năm một ngàn chín trăm bốn mươi mốt; 1 tình bạn; đẹp I , vài 3 người bạn... 
Theo quy định chính tả, phải viết : 
Ngày 15, tháng 5, năm 1941; một tình bạn; đẹp nhất, vài ba người bạn... 
So với hiện tượng lẫn lộn hai loại số, hiện tượng lẫn lộn số và chữ biểu thị số xuất hiện trong bài viết của học sinh nhiều hơn. Tuy nhiên, cả hai loại lỗi sai này cũng dễ tránh, sau vài lần nhắc nhở học sinh đã nắm được quy định chính tả về việc dùng số và chữ biểu thị số. 
- Lỗi chính tả âm vị 
Lỗi chính tả âm vị là hiện tượng vi phạm diện mạo ngữ âm của từ thể hiện trên chữ viết. Nói đơn giản hơn, đó là hiện tượng chữ viết ghi sai từ. 
Dựa vào cấu trúc của âm tiết tiếng Việt, có thể chia lỗi chính tả âm vị thành hai kiểu nhỏ: lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính và lỗi chính tả âm vị đoạn tính. 
Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính
Âm vị siêu đoạn tính là loại âm vị không được định vị trên tuyến thời gian khi phát âm, mà được thể hiện lồng vào các âm vị đoạn tính. Trong âm tiết tiếng Việt, thanh điệu là âm vị siêu đoạn tính. Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính là hiện tượng chữ viết ghi sai thanh điệu của âm tiết. 
Tiếng Việt có tất cả sáu thanh điệu, được ghi bằng năm dấu thanh: sắc, hỏi, ngã, nặng, huyền và thanh không dấu. Hiện tượng ghi sai thanh điệu chỉ xảy ra ở hai thanh hỏi, ngã. Trong bài viết của học sinh mà tôi viết đã khảo sát, kiểu lỗi sai này xuất hiện khá nhiều. Hầu như bài nào cũng có lỗi hỏi, ngã. Thậm chí, chép đề cũng sai hỏi, ngã. Dưới đây là những từ sai hỏi, ngã của học sinh mà tôi đã khảo sát, đặc biệt la các em học sinh người dân tộc Khmer:
Gố, rế, mớ, đá làm Đúng ra phải là: Gỗ, rễ, mỡ, đã làm
Nguyễn Trãi thì các em viết Nguyễn Trái
Lỗi chính tả âm vị đoạn tính 
Âm vị đoạn tính là các âm vị được phân bố nối tiếp nhau trên tuyến thời gian khi phát âm. Trong âm tiết tiếng Việt, âm vị đoạn tính gồm có phụ âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối / bán âm cuối. Lỗi chính tả âm vị đoạn tính là hiện tượng chữ viết ghi sai các âm vị vừa nêu. Cụ thể là :
Ghi sai phụ âm đầu : 
Hiện tượng ghi sai phụ âm đầu trong bài viết của học sinh thường thể hiện ở sự lẫn lộn các chữ cái hay các tổ hợp chữ cái ghi phụ âm đầu sau đây:
+ ch / tr : chung thành, trà đạp, chống chả, từng chải, chăng chối, chủ chương, chông đợi, chầy chật, xáo chộn...
+ s / x : sương máu, xum họp, sâu sa, đi xứ, đổi sử... xúc vật, xúc tích, xi mê, sống xót, xỉ nhục, bổ xung... 
+ gi / d : thúc dục, dan dối, dành lại, giả man, để giành, dèm pha, che dấu, dòn dã, gia chạm, vấn thân, bởi gì. 
+ g (gh) / r : ranh tị, hàn rắn , gàn buộc, đói ghét, gắn gỏi... 
+ h /q : huênh quang, quang vắng, quyền bí, quà quyện, quyên náo...
+ r / g : ra guộng, vô gừng, zdề gồi, cá gô, ......
Ghi sai âm đệm :
Trong âm tiết tiếng Việt, âm đệm /-u-/ phân bố sau phụ âm đầu, được ghi bằng hai chữ cái u và o, tùy trường hợp. Trong bài viết của học sinh, hiện tượng ghi sai âm đệm thường có biểu hiện thiếu chữ cái ghi âm đệm. 
Ví dụ : lẩn quẩn, lanh quanh, lay hoay, lằng ngoằng, lắt chắt, ngó ngáy, ngọ ngậy v.v... 
Ghi sai âm chính :
Trong bài viết của học sinh, hiện tượng ghi sai âm chính thường có hai biểu hiện chính : 
Thứ nhất là lẫn lộn giữa các chữ cái ghi nguyên âm đơn, cụ thể là giữa:
+ ă / â : câm phẫn, che lắp, tái lặp, trùng lập, tối tâm, xăm lăng, hâm hở, đầm thấm, e ắp, hắp tắp v.v.... 
+ o / ô/ ơ : bốc lột, tận góc, mưa mốc, chốp bu, chốp lấy, hồi hợp, đớp chát, họp nhất, bộp tai v.v... 
Thứ hai là lẫn lộn giữa các chữ cái ghi nguyên âm đơn với các chữ cái ghi nguyên âm đôi, nhất là giữa : 
+ ê / i / iê : điều đặn, điu đứng, điểu cáng, kiềm kẹp, chiệu đựng, hiêu quạnh, nâng niêu, tìm ẩn, thất thiểu v.v... 
+ u / uô : tuổi thân, muổi lòng, đen đuổi, theo đui, hất huổi, xuôi khiến, xui tay v.v... 
+ ư / ươ : chưởi mắng, cữi cổ, tức tửi, rác rửi, sửi ấm v.v... 
Ghi sai âm cuối / bán âm cuối : 
Hiện tượng ghi sai âm cuối trong bài viết của học sinh thường có hai biểu hiện chính : 
Thứ nhất là lẫn lộn giữa các chữ cái ghi phụ âm cuối, cụ thể là lẫn lộn giữa:
+ c /t : biền biệc, buộc miệng, chất phát, heo húc, lẩn lúc, lũ lược, mất mác, man mát, mua chuột, phó mặt, phúc chốc, tấc bậc, tiếc hạnh v.v... 
+ n / ng : dun túng, hiên ngan, hoang hỉ, lãng mạng, làm lụn, phản phất, rung sợ, rung rẩy, sản khoái, tang hoang, vung trồng, vụn về ... 
Thứ hai là lẫn lộn giữa các chữ cái ghi bán âm cuối, cụ thể là giữa:
+ o /u : báo vật, cao có, lao lách, láo lỉnh, mếu máu, trao chuốt, trao dồi v.v....
+ i /y : ái nái, đai nghiến, đài đọa, lai động, mai mắn, mỉa may, phơi bài, tai chân, sai mê, van lại ... 
Giữa bốn kiểu lỗi chính tả âm vị đoạn tính, trong bài viết của học sinh, hiện tượng ghi sai âm cuối xuất hiện nhiều hơn. Kế đến là ghi sai âm chính và ghi sai phụ âm đầu. Lỗi ghi sai âm đệm xuất hiện ít nhất. 
b. Lỗi diễn đạt
- Lỗi dùng từ
Lỗi về nghĩa của từ: Mỗi từ được dùng phải đúng nghĩa. Nhiều học sinh dùng từ sai nghĩa:
Trong đoạn văn tả về mẹ, một học sinh viết:
Mẹ em vất vả lang thang, lảng vảng ở chợ để bán hàng nuôi hai chị em ăn học.
Trong khi trả bài giáo viên đã chỉ ra chỗ sai của học sinh về cách dùng từ “lang thang”, “ lảng vảng” và yêu cầu viết lại.
Lỗi lặp từ: Trong một câu văn học sinh có thể dùng một từ đến hai ba lần:
Khi tả về người mẹ của mình, một học sinh viết:
Mẹ em đảm đang, mẹ em tháo vát mẹ em giỏi nhất làm việc nội trợ 
- Lỗi viết câu
Khi viết văn đòi hỏi học sinh phải viết đúng ngữ pháp. Nhưng học sinh viết sai câu rất nhiều và thường mắc những lỗi căn bản sau:
Nhầm trạng ngữ và chủ ngữ
Trong bài làm văn nghị luận chứng minh về tình cảm của cha mẹ đối với con cái, một học sinh viết:
Qua câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” cho ta thấy công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái.
 Trong câu văn trên, học sinh đã nhầm trạng ngữ là chủ ngữ. Giáo viêu yêu cầu học sinh viết lại:
Qua câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, cho ta thấy công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái.
Lẫn lộn giữa vị ngữ và thành phần phụ chú 
Khi làm bài văn chứng minh đức tính giản dị của Bác Hồ, một học sinh viết:
“Bác Hồ người vĩ đại nhưng có cuộc sống vô cùng giản dị.”
Viết đúng phải là:
“Bác Hồ là một người vĩ đại nhưng có cuộc sống vô cùng giản dị.”
Câu lan man dài dòng
Khi chứng minh về tình bạn, qua bài Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến một học sinh viết đoạn giới thiệu, mở đầu,.
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ chuyên viết về đề tài làng quê Việt Nam đặc sắc nhất với trình độ đỉnh cao nổi bật cho phong cách văn Nguyễn Khuyến trào phúng sâu cay.
Chưa nói đến lỗi sai về kiến thức khi học sinh đó viết “phong cách văn Nguyễn Khuyến” thì câu này sửa đúng là:
“Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ chuyên viết về đề tài làng cảnh Việt Nam với lời thơ bình dị, gần gũi. Nổi bật trong phong cách của ông là sự tinh tế, tài hoa.”
- Lỗi dựng đoạn
Một số học sinh lớp hiện nay không có kĩ năng dựng đoạn. Các em viết nhưng không biết bố cục một đoạn văn như thế nào và phải triển khai đoạn văn ra sao. Vì thế khi đặt bút làm bài là các em cứ viết, lúc nào thấy không còn lời, còn ý nữa thì dừng và coi đó là một đoạn văn. Các em chưa có khái niệm về hình thức đoạn văn, cách trình bày đoạn văn. 
Khi chứng minh về sự giàu đẹp của tiếng Việt qua văn bản Sự giàu đẹp của tiếng Việt của Đặng Thai Mai, một học sinh trình bày đoạn văn như sau:
Tiếng Việt chúng ta rất đẹp, đẹp như thế nào đó là điều khó nói, chúng ta không thể nói tiếng ta đẹp như thế nào, cũng như ta không thể nào phân tích cái đẹp của ánh sáng, của thiên nhiên, nhưng đối với chúng ta là người Việt Nam, chúng ta cảm thấy thưởng thức một cách tự nhiên cái đẹp của tiếng ta, tiếng nói của quần chúng nhân dân trong ca dao và dân ca, lời văn của các nhà văn lớn, có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp, bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp
Ở đoạn văn trên, người viết chưa biết cách dựng đoạn văn. Các câu văn chưa có hình thức rõ ràng (chưa lùi vào đầu dòng, chưa có dấu chấm kết thúc câu, chưa có trích dẫn). Làm cho người đọc không hình dung được đâu là mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn. 
Tôi đã cho các em chép và nhắc lại quy định về đoạn văn để các em nhớ. Đoạn văn trên phải được trình bày như sau:
Tiếng Việt chúng ta rất đẹp, đẹp như thế nào đó là điều khó nói (1). Chúng ta không thể nói tiếng ta đẹp như thế nào, cũng như ta không thể nào phân tích cái đẹp của ánh sáng, của thiên nhiên (2). Nhưng đối với chúng ta là người Việt Nam, chúng ta cảm thấy thưởng thức một cách tự nhiên cái đẹp của tiếng ta, tiếng nói của quần chúng nhân dân trong ca dao và dân ca, lời văn của các nhà văn lớn (3). Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp, bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp (4).
 (Trích, Sự giàu đẹp của tiếng Việt - Phạm Văn Đồng)
- Lỗi bố cục bài văn
Mặc dù đã học sinh lớp 7 nhưng cũng có những em không biết phải viết một bài văn như thế nào. Hạn chế này được thể hiện rất rõ khi các em làm bài Tập làm văn số 1. Ở lớp tôi dạy có một em học sinh chỉ lập dàn ý thay cho bài viết Tập làm văn, có ba em bài viết không đủ bố cục ba phần trong bài kiểm tra, một em còn gạch đầu dòng để đánh dấu các phần. (Mở bài, Thân bài, Kết bài)
c. Lỗi sai kiến thức
Ngoài đa số học sinh xác định và viết đúng thể loại, vẫn còn một vài em chưa xác định rõ yêu cầu của đề. Chưa phân biệt được phương thức biểu đạt của các loại văn bản như: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghi luận... Vì thế, trong quà trình làm bài Tập làm văn tự sự và miêu tả; chứng minh và giải thích các em đều viết giống nhau.
Nhưng với sự kiên trì hướng dẫn của giáo viên đã giúp các em bỏ thói quen sai và sự sai ấy cũng giảm dần theo từng bài kiểm tra. Bản thân các em tự tin hơn trong quá trình giao tiếp, trong cách dùng từ khi làm bài kiểm tra... 
2. Kết quả thực nghiệm 
Sau khi tiến hành rất nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng bài làm của học sinh lớp 7A6, tôi đã tiến hành khảo sát lần hai.
Kết quả khảo sát lần thứ hai:
Kết quả này được thống kê dựa trên bài viết số 6 (văn nghị luận) của học sinh lớp 7A6.
Sĩ số lớp thời điểm này là 27 học sinh.
Lỗi học sinh mắc phải
Số học sinh mắc lỗi
Lỗi chính tả
Lỗi viết hoa
Viết hoa sai quy định chính tả
8/27
Viết hoa tuỳ tiện
5/27
Lỗi viết tắt
Viết tắt sai quy định chính tả
4/27
Viết tắt tuỳ tiện
2/27
Lỗi dùng số và chữ biểu thị số
Không phân biệt được khi nào viết chữ, khi nào viết số.
1/27
Lỗi chính tả âm vị
Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính
2/27
Lỗi chính tả âm vị đoạn tính
7/27
Lỗi diễn đạt
Lỗi dùng từ
Lỗi về nghĩa của từ
6/27
Lỗi lặp từ
9/27
Lỗi viết câu
Nhầm trạng ngữ và chủ ngữ
6/27
Lẫn lộn giữa vị ngữ và thành phần phụ chú
4/27
Câu lan man dài dòng
2/27
Lỗi dựng đoạn
Viết lan man, không dấu câu, không rõ chủ đề.
4/27
Lỗi bố cục bài văn
Chỉ chép lại dàn ý thay cho bài văn.
0/27
Không biết phân biệt đoạn văn. (Cả bài chỉ có một hoặc hai đoạn)
2/27
Gạch đầu dòng khi làm bài. (Đánh dấu, MB, TB, KB)
0/27
Lỗi sai kiến thức
Xác định sai yêu cầu của đề.
0/27
Nhận xét:
Sau khi áp dụng các biện pháp nhằm khắc phục và giảm những lỗi mà học sinh mắc phải trong quá trình làm văn, đối chiếu kết quả 2 bài viết (số 1 và số 6) ta thấy có sự khác biệt rõ rệt:
Thứ nhất, số lượng học sinh mắc lỗi có giảm so với lần khảo sát thứ nhất.
Thứ hai, đối với những học sinh còn mắc lỗi thì số lượng lỗi mà các em mắc phải trong một bài làm văn có giảm. Ví dụ: Nguyến Văn Phúc: trong bài văn số 1 em mắc 25 lỗi viết hoa tuỳ tiện thì đến bài số 4 số lượng lỗi đó đã giảm xuống còn 07 lỗi.
Em Trần Thị Mỹ Nương chữ viết thường thiếu nét dẫn đến sai chính tả, sau một thời gian thực hiện việc chép chính tả và sửa lỗi các bài viết của mình, số lỗi trong bài của em đã giảm.
Em Kim Thị Đương ở bài viết số 1 khi hành văn, em chép lại toàn bộ dàn ý mà thầy hướng dẫn lập. Sau đó, được tôi hướng dẫn nhiều lần về cách hành văn em đã có sự tiến bộ, đến những bài sau đó em đã khắc phục được lỗi trên.
Như vậy qua kết quả khảo sát hai lần, ta có thể nhận ra những biện pháp mà người thực hiện đề tài này áp dụng phần nào đã có tác động trong việc nâng cao chất lượng viết bài của học sinh lớp 7A6.
*
 * * *
PHẦN BA: KẾT LUẬN
I. Về nội dung, ý nghĩa, hiệu quả của Sáng kiến 
Áp dụng đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 7 khắc phục lỗi khi viết bài làm văn” trong dạy học môn Văn ở trường Trung học cơ sở Vĩnh Phước1 là một việc làm cần thiết để nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Giúp các em sử dụng đúng chuẩn mực từ ngữ.
Việc áp dụng “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 7 khắc phục lỗi khi viết bài làm văn” vào trong dạy học bộ môn Ngữ văn có mang ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ, cách dùng từ đặt câu, rèn luyện kỹ năng nói, viết, phát huy sáng tạo của học sinh.
Sau thời gian áp dụng đề tài kết quả làm bài Tập làm văn, bài kiểm tra văn của học sinh tăng lên rõ rệt. Việc sử dụng từ ngữ chuẩn mực hơn, các lỗi sai giảm đáng kể.
	II. Đề xuất nhằm khắc phục lỗi 
Như đã trình bày những nguyên nhân dẫn đến lỗi của học sinh khi viết bài kiểm tra văn, Tập làm văn nêu trên bản thân cá nhân tôi có một số đề xuất sau: 
- Đối với học sinh:
+ Phải thường xuyên trau dồi, rèn luyện cách đọc, phát âm, cách viết. 
+ Tạo cho mình thói quen tự kiểm tra nếu thấy nghi ngờ không biết chính xác thì phải tra cứu từ điển, suy xét hoặc hỏi bạn bè, thầy cô chứ không nên viết bừa. Từ việc cẩn thận đó, sẽ trở thành thói quen tốt trong quá trình viết văn, dùng từ, đặt câu.
- Đối với giáo viên, cần phải nghiêm khắc, cương quyết trong việc sửa chữa lỗi ở các bài viết, các bài kiểm tra của học sinh.
III. Kiến nghị 
Bằng những giải pháp giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả trong bài Tập làm văn và bài kiểm tra văn, đã khắc phục được phần lớn việc viết sai của học sinh.
Qua quá trình áp dụng những biện pháp trong Sáng kiến kinh nghiệm trình bày ở phần nội dung, và việc đối chiếu lỗi viết sai của học sinh ở bài viết số 1 và bài viết số 6 (bài viết 2 tiết - văn nghị luận) thì mức độ rèn luyện của học sinh đạt kết quả khá tốt, tỉ lệ học sinh viết sai giảm đáng kể. Còn đối với những học sinh còn sai những lỗi như: lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, giáo viên tiếp tục áp dụng những kinh nghiệm nêu trên để những học sinh đó rèn luyện tốt hơn. Nhưng đây chỉ là những ý kiến của cá nhân chắc chắn trong khi viết, tôi không tránh khỏi khiếm khuyết, vậy kính mong các đồng chí trong hội đồng khoa học nhà trường và cấp trên góp ý để tôi có thể hoàn thiện hơn nữa kinh nghiệm này và để kinh nghiệm có khả năng thực tiễn hơn. 
Vĩnh Châu, ngày 01 tháng 4 năm 2017
NGƯỜI THỰC HIỆN
Trần Văn Minh
NHẬN XÉT CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
.....................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................... .....................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................... .....................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................... .....................................................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
 Vĩnh Châu, ngày tháng năm 20
	 TỔ TRƯỞNG
	 .
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KỸ THUẬT TRƯỜNG THCS VĨNH PHƯỚC 1.
.....................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................... .....................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................... .....................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................... .....................................................................................................................................................................................
..........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
 Vĩnh Châu, ngày tháng năm 20
 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

File đính kèm:

  • docxSKKNMot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_7_khac_phuc_loi_khi_viet_bai_lam_van.docx
Sáng Kiến Liên Quan