Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị

Trong nhà trường tiểu học, mỗi môn học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu quan trọng của nhân cách con người Vệt Nam. Trong đó môn Toán giữ vai trò quan trọng, thời gian dành cho việc học Toán chiếm tỉ lệ khá cao. Thực tế những năm gần đây, việc dạy học Toán trong các nhà trường tiểu học đã có những bước cải tiến về phương pháp, nội dung và hình thức dạy học.

Cùng với các môn học khác như: Tiếng Việt, Đạo đức, TNXH, . Môn toán cũng có một vị trí rất quan trọng cho việc hình thành nhân cách cho học sinh, vì môn toán là một môn học mang tính khoa học, nghiên cứu một số mặt của thế giới hiện thực và cũng qua môn toán mỗi học sinh tiểu học được trang bị một hệ thống kiến thức cơ bản về nhận thức, điều đó rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt và lao động. Bên cạnh đó học sinh tiểu học qua việc học toán sẽ phát huy tốt trí tưởng tượng, các kĩ năng, kĩ xảo về tính toán, có tính chính xác cao. Qua môn toán giúp các em cảm thụ tốt kiến thức của các môn học khác. Cũng qua môn toán, trong suốt cấp học, các em cũng tích luỹ được những kinh nghiệm để tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh, áp dụng một cách thành thạo, chính xác kiến thức đã được trang bị vào trong thực tiễn cuộc sống, cũng như sự sáng tạo trong hoạt động học tập của các cấp học cao hơn.

 

doc28 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 04/08/2015 | Lượt xem: 2634 | Lượt tải: 123Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c sinh, giáo viên có thể cho học sinh viết tóm tắt vào bài giải hoặc không). 
Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm được nhiều cách tóm tắt thì các em sẽ càng giải toán giỏi. Cho nên, khi dạy tôi đã truyền đạt các cách sau tới học sinh:
Cách 1: Tóm tắt bằng chữ.
Cách 2: Tóm tắt bằng chữ và dấu.
Cách 3: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
Cách 4: Tóm tắt bằng hình tượng trưng.
Cách 5: Tóm tắt bằng lưu đồ.
Cách 6: Tóm tắt bằng sơ đồ Ven.
Cách 7: Tóm tắt bằng kẻ ô.
Thông thường, ở dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, tóm tắt bằng lời được lựa chọn nhiều hơn. Trong khi tóm tắt, học sinh cần lưu ý đến tên của mỗi đơn vị (đại lượng), có mấy đơn vị, mối quan hệ giữa các đơn vị đó.
Ví dụ 1: Một cửa hàng có 6 bao gạo chứa được 36 kg gạo. Hỏi 4 bao gạo như thế có thể chứa được bao nhiêu ki lô gam gạo?
Tóm tắt:
6 bao gạo: 36 kg
4 bao gạo: ... kg ?
hoặc: 6 bao gạo: 36 kg
 4 bao gạo: ? kg 
Ví dụ 2: Có 42 lít dầu đựng vào 6 can. Hỏi có 84 lít dầu thì cần có bao nhiêu can như thế để đựng?
Tóm tắt:
42 l dầu : 6 can
84 l dầu : ... can ?
hoặc: 42 l dầu : 6 can
 84 l dầu : ? can 
c/ Phân tích mối quan hệ giữa các dữ kiện đã cho với kết luận để tìm ra cách giải bài toán: Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân tích đề bài để tìm ra cách giải bài toán. Cho nên, ở bước này, giáo viên cần sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ dưới dạng các câu hỏi thông thường:
Bài toán cho biết gì?
Bài toán hỏi gì?
Muốn tìm cái đó ta cần biết gì?
Cái này biết chưa?
Còn cái này thì sao?
Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?
Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em nắm bài kĩ hơn, tự các em giải được bài toán.
Cần cho học sinh được rèn luyện khả năng diễn đạt bằng lời nói và bằng chữ viết khi phải giải thích các vấn đề liên quan đến phân tích đề toán, tìm cách giải bài toán và nhất là khi diễn tả câu trả lời, trình bày bài giải của bài toán. Có thể lúc đầu học sinh tự thực hiện các hoạt động diễn đạt này còn khó khăn, nhưng đây là "cơ hội" thuận lợi để các em được phát triển tư duy, khả năng giải quyết vấn đề. 
d/ Trình bày lời giải: Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các em sẽ dễ dàng viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác. Giáo viên chỉ việc yêu cầu học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý câu trả lời ở các bước phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp.
e/ Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải: Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinh thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời. Khi giáo viên hỏi: “ Em có tin chắc kết quả là đúng không?” thì nhiều em lúng túng. Vì vậy việc kiểm tra , đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán va phải trở thành thói quen đối với học sinh. Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta cần hướng dẫn các em thông qua các bước:
Đọc lại lời giải.
Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn đạt trong lời giải đúng chưa.
Thử lại các kết quả vừa tính từ bước giải đầu tiên.
Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa.
Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài giải, tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh. 
2/ Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị bằng phép tính chia, nhân (kiểu bài 1)
Để học sinh nắm chắc phương pháp giải kiểu bài toán này, tôi đã tiến hành dạy ngay ở trên lớp theo phương pháp và hình thức sau:
a/ Kiểm tra bài cũ: Để nhắc lại kiến thức cũ và chuẩn bị cho kiến thức mới cần truyền đạt, tôi ra đề như sau: “Mỗi can chứa được 5 lít mật ong. Hỏi 7 can như vậy chứa được bao nhiêu lít mật ong?”
Với bài này, học sinh dễ dàng giải được như sau:
Bài giải.
7 can như vậy chứa được số lít mật ong là:
5 x 7 = 35 (l)
Đáp số: 35 l mật ong.
Sau đó, tôi yêu cầu học sinh nhận dạng toán đã học và giải thích cách làm, đồng thời cho học sinh nhắc lại quy trình của giải một bài toán.
b/ Bài mới:
* Giới thiệu bài: Dựa vào bài toán kiểm tra bài cũ, giáo viên vừa củng cố, vừa giới thiệu bài ngày hôm nay các em được học.
* Hướng dẫn học sinh giải bài toán 1: Có 35 l mật ong chia đều vào 7 can. Hỏi mỗi can có mấy lít mật ong?
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề bài, đọc thành tiếng và đọc thầm.
Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán (sử dụng phương pháp hỏi đáp):
+ Bài toán cho biết gì? (35 lít mật ong đổ đều vào 7 can).
+ Bài toán hỏi gì? (1 can chứa bao nhiêu lít mật ong).
+ Giáo viên yêu cầu học sinh nêu miệng phần tóm tắt để giáo viên ghi bảng:
7 can: 35 l mật ong
1 can: ... l mật ong ?
- Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán để tìm phương pháp giải bài toán.
- Giáo viên yêu cầu học sinh làm vào bảng con.
- Giáo viên đưa bài giải đối chiếu.
Bài giải
Số lít mật ong có trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Đáp số: 5 l mật ong.
- Giáo viên củng cố cách giải: Để tìm 1 can chứa bao nhiêu lít mật ong ta làm phép tính gì? (phép tính chia).
- Giáo viên giới thiệu: Bài toán cho ta biết số lít mật ong có trong 7 can, yêu cầu chúng ta tìm số lít mật ong trong 1 can, để tìm được số lít mật ong trong 1 can, chúng ta thực hiện phép chia. Bước này gọi là rút về đơn vị, tức là tìm giá trị của một phần trong các phần.
- Giáo viên cho học sinh nêu miệng kết quả một số bài toán đơn giản để áp dụng, củng cố như:
5 bao: 300kg hoặc 3 túi : 15 kg
1 bao: ? kg 1 túi : ? kg
* Hướng dẫn học sinh giải bài toán 2: Có 35 lít mật ong chia đều vào 7 can. Hỏi 2 can như vậy có mấy lít mật ong?
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đầu bài (3 lần).
- Yêu cầu học sinh nêu tóm tắt bài toán – Giáo viên ghi bảng (Phương pháp hỏi đáp).
7 can : 35 lít
2 can : ? lít.
- Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán: ( Phương pháp hỏi đáp)
+ Muốn tính được số lít mật ong có trong 2 can ta phải biết gì? ( 1 can chứa được bao nhiêu lít mật ong)
+Làm thế nào để tìm được số lít mật ong có trong 1 can? ( Lấy số lít mật ong trong 7 can chia cho 7).
+ Yêu cầu học sinh nhẩm ngay 1 can: ? l.
+ Yêu cầu học sinh nêu cách tính 2 can khi đã biết 1 can.
(Lấy số lít mật ong có trong 1 can nhân với 2).
- Một học sinh nêu lần lượt bài giải. Giáo viên ghi bảng.
Bài giải
Số lít mật ong có trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Số lít mật ong có trong 2 can là:
5 x 2 = 10 (l)
Đáp số:10l mật ong.
- Yêu cầu học sinh nêu bước nào là bước rút về đơn vị: Bước tìm số lít mật ong trong 1 can gọi là bước rút về đơn vị.
- Hướng dẫn học sinh củng cố dạng toán – kiểu bài 1:
Các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị thường được giải bằng 2 bước:
+Bước 1: Tìm giá trị một đơn vị (giá trị một phần trong các phần bằng nhau) . Thực hiện phép chia.
+ Bước 2: Tìm giá trị của nhiều đơn vị cùng loại (giá trị của nhiều phần bằng nhau) . Thực hiện phép nhân.
+ Học sinh nhẩm thuộc, nêu lại các bước.
- Hướng dẫn học sinh làm bài tập áp dụng.
- Giáo viên nêu miệng, ghi tóm tắt lên bảng, học sinh nêu kết quả và giải thích cách làm.
3 túi : 45 kg hoặc : 4 thùng : 20 gói.
12 túi : ? kg. 5 thùng : ? gói.
Sau khi học sinh nắm chắc cách giải bài toán ở kiểu bài này, chúng ta cần tiến hành hướng dẫn học sinh luyện tập.
c/Luyện tập:
Khi tiến hành hướng dẫn học sinh luyện tập qua từng bài, giáo viên cần thay đổi hình thức luyện tập.
Bài 1: - Hướng dẫn học sinh thảo luận chung cả lớp, sau đó 1 học sinh tóm tắt và giải bài toán trên bảng, cả lớp làm vào vở.
- Củng cố bước rút về đơn vị.
- Củng cố các bước giải bài toán này.
Bài 2: - Học sinh thảo luận và làm việc theo nhóm đôi.
- Yêu cầu 1 cặp học sinh trình bày bảng – Giáo viên kiểm tra các kết quả của cả lớp.
- Yêu cầu học sinh nêu bước rút về đơn vị.
- Củng cố cách thực hiện 2 bước giải bài toán.
Bài 3: Hướng dẫn học sinh chơi trò chơi ghép hình.
d/ Củng cố dặn dò:
- Học sinh tự nêu các bước, cách thực hiện giải bài toán có liên quan đến rút về đơn vị ( kiểu bài 1)
- Giao thêm bài về nhà dạng tương tự để hôm sau kiểm tra.
- Qua mỗi lần luyện tập xen kẽ, giáo viên đều củng cố cách làm ở kiểu bài 1 là: 
+ Bài giải được thực hiện qua 2 bước:
Bước 1: (Bước rút về đơn vị) Tìm giá trị 1 đơn vị (Giá trị 1 phần). (phép chia).
Bước 2: Tìm nhiều đơn vị (từ 2 đơn vị trở lên - phép nhân).
Nhấn mạnh cốt chính của kiểu bài 1 là tìm giá trị của nhiều đơn vị (nhiều phần).
Khi học sinh đã nắm chắc kiểu bài 1 thì các em dễ dàng giải được kiểu bài 2.
3/ Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị giải bằng 2 phép tính chia (Kiểu bài 2)
Khi dạy kiểu bài 2 này, tôi cũng dạy các bước tương tự. Song để học sinh dễ nhận dạng, so sánh phương pháp giải 2 kiểu bài, khi kiểm tra bài cũ, tôi đưa đề bài lập lại của kiểu bài 1: “ Có 35 lít mật ong rót đều vào 7 can . Hỏi 2 can đó có bao nhiêu lít mật ong”. Mục đích là vừa kiểm tra, củng cố phương pháp giải ở kiểu bài 1, cũng là để tôi dựa vào đó hướng các em tới phương pháp giải ở kiểu bài 2 (giới thiệu bài).
Bài toán ở kiểu bài 2 có dạng sau: Có 35 lít mật ong đựng đều vào 7 can. Nếu có 10 lít mật ong thì đựng đều vào mấy can như thế?
Cách tổ chức, hướng dẫn học sinh cũng như ở kiểu bài 1.
Khi củng cố, học sinh nêu được ở bước 1 là bước rút về đơn vị và các bước thực hiện bài giải chung của kiểu bài 2 này.
+ Bước 1:: Tìm giá trị 1 đơn vị ( giá trị 1 phần). ( đây là bước rút về đơn vị) . ( phép chia).
+ Bước 2: Tìm số phần (số đơn vị) ( phép chia).
Sau mỗi bài tập, chúng ta lại củng cố lại một lần, các em sẽ nắm chắc phương pháp hơn. Đặc biệt khi học xong kiểu bài 2 này, các em dễ nhầm với cách giải ở kiểu bài 1. Cho nên, chúng ta phải hướng dẫn học sinh cách kiểm tra, đánh giá kết quả bài giải ( thử lại theo yêu cầu của bài).
Ví dụ: Các em đặt kết quả tìm được vào phần tóm tắt của bài các em sẽ thấy được cái vô lí khi thực hiện sai phép tính của bài giải như:
35 l : 7 can. 35 l : 7 can
10 l : 2 can ( đúng) 10 l : 50can ( vô lí).
Từ đó các em nắm chắc phương pháp giải kiểu bài 2 tốt hơn, có kĩ năng , kĩ xảo tốt khi giải toán.
4/ Hướng dẫn học sinh luyện tập, so sánh phương pháp giải 2 kiểu bài Để học sinh luyện tập tốt 2 kiểu bài này, tôi đã hướng dẫn các em so sánh các bước giải và đặc điểm của mỗi kiểu bài.
CÁC 
BƯỚC
KIỂU BÀI 1
( Tìm giá trị của các phần)
KIỂU BÀI 2
( Tìm số phần)
1
-  Tìm giá trị của 1 phần:
( phép chia)
-  Tìm giá trị của 1 phần: 
( phép chia)
(Đây là bước rút về đơn vị)
(Đây cũng là bước rút về đơn vị)
2
-  Tìm giá trị của các phần:
-  Tìm số phần.
(phép nhân)
  (Phép chia)
-  Lấy giá trị 1 phần nhân với số phần
 Lấy giá trị các phần chia cho giá trị 1 phần.
Sau đó, tôi yêu cầu học sinh học thuộc để áp dụng nhận dạng kiểu bài và giải các bài toán đó. Khi luyện tập, tôi tiến hành cho học sinh luyện 2 bài tập song song với nhau, mục đích là để các em vừa làm, vừa nhận dạng, so sánh. Sau mỗi lần luyện tập như vậy, chúng ta lại củng cố kiến thức một lần cho các em, chắc các em không còn nhầm lẫn nữa.
* Lần 1:
Bài toán 1: Có 5 túi gạo chứa được 40 kg gạo. Hỏi 3 túi gạo thì chứa được bao nhiêu ki - lô - gam gạo?
Bài toán 2: Có 40 ki – lô - gam gạo đựng vào 5 túi. Hỏi có 24 kg gạo thì cần bao nhiêu túi như thế để đựng?
* Củng cố cách giải, mối quan hệ giữa các phép tính trong 2 bài toán này. Mặt khác học sinh dễ dàng nhìn nhận ra lỗi sai của mình, nếu như nhầm phép tính ( Bài toán 2 là bài toán ngược của bài toán 1)
* Lần 2:
Bài toán 1: Có 4 cái áo đơm hết 24 cái cúc áo. Hỏi có 1236 cúc áo thì đơm được bao nhiêu cái áo như thế?
Bài toán 2: Ba thùng như nhau đựng được 27 lít mật ong. Hỏi 7 thùng như thế đựng được bao nhiêu kg mật ong?
*Đổi thứ tự bài để học sinh củng cố được cách nhận dạng 2 kiểu bài và phương pháp giải.
* Tóm lại: Trên đây là phương pháp hướng dẫn các em học sinh lớp 3 giải tốt dạng toán: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi tin rằng nếu chúng ta làm được như vậy thì các em nắm được phương pháp giải dạng toán này tốt hơn, chắc chắn hơn, tránh được những sai sót có thể xảy ra. Các em sẽ có được tinh thần phấn khởi, tự tin khi giải toán.
TỔNG KẾT KINH NGHIỆM
Trong suốt quá trình nghiên cứu, quan sát học sinh giải toán, tôi thấy các em rất thích giải toán khi các em đã có đủ vốn kiến thức, phương pháp giải toán. Các em giải toán đúng, chính xác hơn khi các em được thầy cô nhiệt tình hướng dẫn với phương pháp dễ hiểu nhất, dễ nhớ nhất. Với phương pháp này tôi đã trang thiết bị cho các em vốn kiến thức phương pháp cơ bản để các em giải dạng toán này không nhầm lẫn, sai sót đến chất lượng học của các em được nâng lên rõ rệt. So với năm học 2010-2011, năm nay các em làm bài tốt hơn nhiều, chất lượng bài làm cũng cao, tỉ lệ nhầm lẫn hay làm bài sai chỉ chiếm có 1%. Nhìn chung, các em được giải toán, so sánh cách giải của 2 kiểu bài này sẽ làm bài chính xác cao, chất lượng khả quan. Kết quả khảo sát với 103 học sinh khối 3 ở hai kiểu bài cụ thể như sau:
T. Sè HS
ĐIỂM
1 - 4
5 - 6
7 - 8
9 - 10
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
103
1
1.0
15
14.6
35
34.0
52
50.5
Kết quả trên cho chúng ta thấy được có phương pháp tốt thì học sinh làm bài tốt hơn. Chất lượng học của học sinh không tự dưng mà có được, đòi hỏi mỗi người giáo viên chúng ta biết phương pháp truyền đạt tới từng đối tượng học sinh. Nhiều đồng chí cho rằng dạng toán này dễ. Song, không hẳn như vậy, nếu chúng ta truyền đạt kiến thức, phương pháp hời hợt, không đi sâu, rộng vấn đề thì các em dễ dàng nhầm lẫn ở bước 2 của 2 kiểu bài đó, cũng có khi nhầm cả sang dạng toán khác. Cho nên dạy toán ở dạng toán này, chúng ta càng cẩn thận, chi tiết bao nhiêu thì chất lượng tiếp thu và làm bài càng tăng, các em học toán càng tự tin hơn bấy nhiêu.
NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Dạy toán ở Tiểu học nói chung, ở lớp 3 nói riêng là cả một quá trình kiên trì, đầy sự sáng tạo, nhất là đối với dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, cho nên khi hướng dẫ học sinh giải toán nói chung, giải dạng toán liên quan đến rút về đơn vị nói riêng chúng ta cần phải:
Tạo niềm hứng thú, sự say mê giải toán, bởi các em có thích học toán thì các em mới có sự suy nghĩ, tìm tòi các phương pháp giải bài toán một cách thích hợp.
Hướng dẫn học sinh nắm đầy đủ các kĩ năng cần thiết khi giải toán bằng phương pháp phù hợp, nhẹ nhàng, không gò bó.
Kích thích tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp trong khi tìm tòi, phát hiện "đường lối" trong giải toán.
Thường xuyên thay đổi hình thức dạy học ở mỗi bài để tránh sự nhàm chán.
Tập cho học sinh có kĩ năng tự phân tích bài toán, tự kiểm tra đánh giá kết quả của bài toán, tập đặt các câu hỏi gợi mở cho các bước giải trong bài toán.
Phải coi việc giải toán là cả một quá trình, không nóng vội mà phải kiên trì tìm và phát hiện ra “chỗ hổng” sau mỗi lần hướng dẫn để khắc phục, rèn luyện.
Nên động viên, khuyến khích các em có đưa ra phương pháp giải gần hợp lí, tránh đưa ra tình huống phủ định ngay.
Gần gũi, động viên những em học yếu môn Toán đ các em có tiến bộ, giúp đỡ nhẹ nhàng khi cần thiết.
NHỮNG ĐIỀU CÒN BỎ NGỎ
Với phương pháp giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị tôi vừa nêu ở trên, áp dụng cho mọi đối tượng học sinh, tuy có nhiều thành công song mặt nào đó nó vẫn còn hạn chế của nó. Đối với học sinh yếu kém, các em vẫn phải giải đi giải lại nhiều lần (luyện nhiều) mới nhớ được các bước giải, kĩ năng phân biệt ở 2 kiểu bài chưa chắc lắm. Đối với học sinh giỏi, các em làm tốt dạng toán này, đòi hỏi phải có sự nâng cao hơn về kiến thức, nếu không, các em sẽ chủ quan cho rằng việc giải toán quá đơn giản. Điều này tôi còn chưa nêu ở trong phương pháp dạy dạng toán này. Tôi sẽ coi đây là mục tiêu để nghiên cứu sau này.
KHẢ NĂNG VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN
Trên đây, tôi đã trình bày phương pháp hướng dẫn học sinh giải tốt dạng toán liên quan đến rút về đơn vị. Với phương pháp này, tôi đã triển khai chuyên đề với tất cả giáo viên tổ 3, nó được áp dụng dạy với tất cả đối tượng học sinh, thực tế đã mang lại kết quả cao. Từ phương pháp này, giáo viên sẽ giúp các em nắm được các bước cần thực hiện được khi giải toán, các em biết phân biệt cách giải các kiểu bài này trong cùng một dạng toán cơ bản. Đối với phương pháp này, tất cả các đối tượng học sinh sẽ nắm được quy trình giải 2 kiểu bài một cách dễ dàng, dễ nhớ mà không nhầm lẫn, các em biết phân biệt được sự giống nhau và khác nhau khi thực hiện bài giải của 2 kiểu bài này. Đó cũng là mong muốn của mỗi chúng ta.
PHẦN III: KẾT LUẬN
KẾT QUẢ THÀNH CÔNG
Ngay từ khi bước sang học kỳ II của năm học này, tôi đã tiến hành triển khai chuyên đề Toán lớp 3 để các đồng chí nắm được phương pháp giải dạng toán có liên qua đến rút về đơn vị. Cho nên khi dạy đến dạng bài toán này, phương pháp dạy theo chuyên đề đã được áp dụng với tất cả học sinh các lớp ở khối 3. Chính vì vậy, các em đã nhanh chóng nắm được cách giải kiểu bài 1 rồi đến kiểu bài 2 của dạng toán này, các em biết phân tích để thấy được sự giống nhau, khác nhau khi thự hiện bài giải, đặc biệt là các em biết nhận dạng toán này một cách thành thục, có kĩ năng, kĩ xảo tốt. Các em học sinh trung bình thì làm khá tốt. Đó là tất cả những gì chúng ta mong muốn để có được khi dạy học sinh giải toán. Tôi mong muốn giải pháp này sẽ được áp dụng sâu rộng hơn để quá trình dạy học toán, thích giải toán và thích tìm tòi, khám phá cái mới, cái cần có khi giải toán. Đạt được tất cả những điều trên đó là thành công lớn trong giảng dạy.
PHƯƠNG HƯỚNG TIẾP TỤC HOÀN THIỆN
Mỗi chúng ta, khi đứng trên bục giảng, ai cũng luôn mong muốn cho mình một phương pháp dạy tốt nhất để mang lại chất lượng dạy – học cao nhất. Đặc biệt, tôi rất thích nghiên cứu về môn toán với đối tượng là học sinh giỏi hoặc khá giỏi. Cho nên,trong thời gian tới, tôi tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, thiết lập các kiểu bài nâng cao của dạng toán tôi vừa nghiên cứu và các dạng kiểu bài toán khác để hướng dẫn học sinh học toán có chất lượng cao. Hình thành kĩ năng, kĩ xảo khi giải toán tốt nhất cho cho học sinh. Tôi sẽ nghiên cứu, mở rộng với tất cả các khối lớp, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở Tiểu học nói riêng, của ngành giáo dục nói chung.
Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
* Đối với giáo viên: Tích cực tham gia tích luỹ kiến thức để tập trung nghiên cứu các phương pháp đổi mới ở tất cả các môn học ở bậc Tiểu học.
* Đối với tổ chuyên môn; Thường xuyên tổ chức các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, thảo luận sâu sắc cách viết và làm sáng kiến kinh nghiệm.
* Đối với trường: Cần phát động sâu rộng phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, thường xuyên tổ chức chuyên đề ở tất cả các môn học, đặc biệt là môn Toán..
* Đối với Phòng Giáo dục và đào tạo: Hàng năm, Phòng nên tổ chức nhiều chuyên đề cấp Huyện, đặc biệt là các chuyên đề liên quan đến các dạng toán cơ bản ở các khối lớp 1, 2, 3.
LỜI KẾT
Trên đây, tôi vừa trình bày Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải tốt dạng toán liên quan đến rút về đơn vị. Qua đây, muốn góp phần nhỏ vào phương pháp dạy học toán ở Tiểu học nói chung, phương pháp dạy toán lớp 3 nói riêng. Hơn nữa, tôi muốn trình bày ý kiến của mình để các đồng nghiệp tham khảo, đóng góp ý kiến xây dựng để cho phương pháp dạy học của tôi hoàn thiện hơn. Kính mong các đồng nghiệp xem xét và nhiệt tình góp ý kiến cho tôi để tôi có nhiều thành công trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trung Mỹ, ngày 30 tháng 4 năm 2012
TÁC GIẢ
Trịnh Xuân Bốn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 Đỗ Đình Hoan - Nguyễn Áng - Đỗ Tiến Đạt - Đào Thái Lai - Đỗ Trung Hiệu “ SGK Toán 3” – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
 Đỗ Đình Hoan - Nguyễn Áng - Đỗ Tiến Đạt - Đào Thái Lai - Đỗ Trung Hiệu “ SGV Toán 3” – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
 Dạy lớp 3 - Theo chương trình Tiểu học mới - Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Tiểu học
 Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy lớp 3, NXB Giáo dục.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học lớp 3, NXB Giáo dục.
Chương trìnhTtiểu học (Ban hành kèm theo quyết định số 43/2001/QĐ - BGD & ĐT ngày 9/11/2001 của Bộ giáo dục và Đào tạo).

File đính kèm:

  • docSKKN_TOANDAT_LOAI_A_NAM_2012.doc
Sáng Kiến Liên Quan