Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp duy trì và phát triển năng lực học tập của học sinh sau khi chuyển cấp

Mỗi học sinh là một chủ thể hoạt động, chủ thể trước những tác động của môi trường. Do vậy, các tác động bên ngoài quyết định tâm lí của học sinh một cách gián tiếp thông qua quá trình tác động qua lại của học sinh với môi trường, thông qua hoạt động của học sinh trong môi trường đó. Hơn nữa mỗi học sinh là một chủ thể tích cực có thể tự giác thay đổi được chính bản thân mình – học sinh có thể tự giáo dục.

Ở học sinh Trung Học Cơ Sở vấn đề tự ý thức ở các em phát triển mạnh mẽ nên vấn đề tư học thật sự cần thiết. Tuy nhiên quá trình tự giáo dục của các em không tách khỏi các hoạt động của môi trường hay nói cách khác mọi hoạt đông của các giáo viên sẽ tác động mạnh mẽ đến các em. Quá trình tự giáo dục được kích thích, hướng dẫn và diễn ra trong quà trình học sinh tác động qua lại với những người xung quanh nhất là thầy cô giáo. Sự phát triển tâm lí chỉ có thể diễn ra tốt đẹp trong việc dạy và học. Nhưng để giữ được vai trò chủ đạo, dạy học phải kích thích, tạo động cơ học tập tích cực coi trọng sự học của học sinh.

Đối với giáo viên chủ nhiệm lớp 6 đối tượng là những học sinh ở lứa tuổi 11, 12 về mặt tâm lí có thể coi lứa tuổi này l “ tuổi khó bảo”, “ tuổi khủng hoảng”, “ tuổi bất trị” . . . Về mặt gáo dục các em là học sinh đầu cấp Trung Học Cơ Sở, chuyển từ học một thầy ( cô ) một lớp sang học nhiều thầy cô một lớp và thời gian học, phương pháp học, chương trình học cũng khác so với khi các em học ở bậc Tiểu Học.

Vì vậy, xét cả tâm lí lẫn cấu trúc học tập thì việc tạo cho các em một động cơ học tập tích cực thực sự là cần thiết, không chỉ riêng giáo viên bộ môn mà ngay cả giáo viên chủ nhiệm cũng cần phải hoạt động tích cực để tạo cho các em có một động cơ học tập tích cực. Có như vậy mới có thể giúp các em hoàn thành tốt chương trình học của mình với một kết quả tốt.

 Trải qua một thời gian giảng dạy và tìm hiểu nhiều về tác động của việc chuyển cấp – tác động của việc thay đổi môi trường học tập và những sự thay đổi về học lực của học sinh. Thiết nghĩ để học sinh có thể hoàn thành tốt chương trình học thì nhất thiết phải tạo cho các em có sự hứng thú học tập ngay từ lớp 6.

 

doc17 trang | Chia sẻ: sangkien | Ngày: 04/08/2015 | Lượt xem: 917 | Lượt tải: 7Download
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp duy trì và phát triển năng lực học tập của học sinh sau khi chuyển cấp", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g kiến thức mới và liên hệ kiến thức cũ áp dụng mọi phương pháp để giải bài tập. Sau mỗi bài học cần phải nhớ kĩ các định lí định nghĩa, các qui tắc các bước để giải một bài toán. Từ đó em không còn cảm giác sợ sệt khi học 2 môn trên và kết quả học tập của em cũng khá lên. 
Đối với việc học các môn của các em ở nhà tôi hướng dẫn các em : ngoài việc học bài và làm bài tập đầy đủ các em phải đọc bài mới nhiều lần, xem các câu hỏi và thử trả lời các câu hỏi. Các em phải chú ý học tập, nghe giảng và ghi lại bất cứ một vấn đề nào có liên quan đến bài học mà thầy cô chỉ giảng mà không cho các em ghi  .
Đối với môn ngữ văn, đây là một môn học thông thường kết quả học tập của các em rất yếu. Qua một thời gian tìm hiểu về môn văn tôi đã mạnh dạn hướng dẫn các em cách thức để học tốt môn ngữ văn 6: trước tiên tôi hướng dẫn các em nắm được: học văn chính là học cách thức làm người. Trong thời đại hiện nay, mục tiêu giáo dục là phải phát triển học sinh toàn diện bao gồm cả nhân cách và kiến thức, mà văn học là một môn học thực hiện tốt mục tiêu này. Nếu các em học tốt văn học thì các em sẽ học tốt các môn học khác. Nếu như các em yếu về từ ngữ, ngữ pháp, cách diễn đạt không rõ ràng mạch lạc thì hiệu quả khi học các môn khác không cao. Thông thường các em không thích học môn ngữ văn là do bị yếu kiến thức, học không đều 3 phần văn bản, tiếng việt, tập làm văn ngay từ tiểu học. Trong khi đó chương trình ngữ văn cấp II ( trước tiên là lớp 6 ) mức độ tích hợp rất cao đòi hỏi các em phải rèn luyện kĩ năng thật nhiều cho nên các em bỡ ngỡ khi học ngữ văn 6 và cảm thấy chán nản khi học môn này. Vì vậy tôi yêu cầu các em phải đọc thật nhiều ( chú ý từ, ngữ, chấm câu, cách phát âm ) dần dần các em sẽ đọc trôi chảy và các em sẽ thâm nhập kiến thức. Khi đó các em kết hợp với nội dung bài giảng của giáo viên các em sẽ hiểu được văn bản rồi cảm thụ văn bản ( các em sẽ thấy được cái hay, cái đẹp của văn bản ), các em nhận thấy được giá trị đích thực của việc học môn văn. Từ đó các em sẽ yêu thích môn ngữ văn và cũng sẽ dễ dàng khi học các môn khác. 
Theo sự hướng dẫn của tôi các em đã thực hiện và kết quả học tập của các em đã mang lại cho tôi một niềm vui lớn: các em đã thích thú hơn khi học các môn học mà các em cho là khó (nhất là môn Anh Văn và môn Toán), kết quả môn Anh Văn 90% học sinh trên trung bình, môn Toán là 75%. Trong đó có nhiều em đạt điểm trung bình môn từ 8.0 trở lên. 
2/ Tổ chức hướng dẫn học sinh tiếp cận với phương pháp cách thức học mới ở trung học cơ sở:
Hầu hết các em học sinh khi bước vào đầu năm học mà không nắm bắt được cách thức phương pháp học tập thì các em sẽ cảm thấy bất mãn và không có hứng thú học tập. Trong khi đó, chương trình học ở Trung Học Cơ Sở ( nhất là trong thời điểm đổi mới chương trình và phương pháp dạy và học hiện nay ) mang tính lôgíc rất chặt chẽ, các em mà không nắm bắt được nội dung và phương pháp ngay từ đầu thì sau này các em rất khó tiếp thu kiến thức. Chính vì vậy, cần phải hướng cho các em tiếp cận với phương pháp học mới ở Trung Học Cơ Sở.
Ví dụ: 
Năm học 2004 – 2005 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 6Đ lớp mà theo kết quả tôi tìm hiểu được thì ở tiểu học các em học yếu nhiều nhưng cũng có 1 học sinh giỏi và 6 học sinh khá, còn lại là trung bình ( tổng số 34 học sinh ). Hầu hết các em ø đi học xa, nên việc học của các em gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành hướng dẫn cho các em cách thức học tập các môn học ở Trung Học Cơ Sở. Bước vào Trung Học Cơ Sở với một khối lượng kiến thức ngày càng nhiều hơn và với việc áp dụng phương pháp mới trong dạy và học thì đòi hỏi cá em phải nâng cao tính tịch cực và tự giác học tập. Cho nên tôi hướng dẫn các em vạch ra một kế hoạch học tập cụ thể và đồng thời tôi còn hướng dẫn các em nắm bắt được cách làm các dạng bài tập trắc nghiệm (dạng trắc nghiệm đúng sai, dạng có nhiều lựa chọn, dạng điền khuyết, dạng ghép nối câu ), các bài tập trắc nghiệm thường có mồi nhữ ( đáp án sai ) cho nên các em phải nắm vững kiến thức vừa phải suy nghĩ cẩn thận khi lựa chọn phương án trả lời, mặt khác tôi còn hướng dẫn các em làm thế nào để có thể làm tốt một bài kiểm tra và cũng dặn dò các em cũng tuyệt đối không quay bài khi kiểm tra thi cử. 
Qua một thời gian thực hiện kết quả đạt được là : Trong học kì I năm học 2004 – 2005 về học lực đạt 1 học sinh giỏi 5 học sinh khá, còn lại là học sinh trung bình, không có học sinh yếu, kém, 100% học sinh không quay bài khi tiến hành kiểm tra hoặc thi cử. Kết quả cuối năm 100% học sinh được lên lớp. 
3/ Tổ chức nhiều hoạt đông “ Vui Để Học ” với nội dung phong phú:
Đối với những tiết sinh hoạt chủ nhiệm thông thường là để đánh giá hoạt động tuần vừa qua và đề ra kế hoạch hoạt động cho tuần học mới. khi tiến hành liên tục như vậy, nếu lớp vi phạm nhiều lần và cứ mỗi tuần giáo viên lại xử phạt sẽ gây ra tâm lí nhàm chán đối với các em học sinh. 
Để góp phần động viên các em hứng thú hơn trong học tập thì cần phải dành thời gian tổ chức nhiều hoạt động “ Vui Để Học ”. 
Chẳng hạn : Tiến hành đố vui, giải đáp ô chữ . . . Hình thức phải được chuẩn bị kỉ lưỡng đảm bảo làm sao vừa giúp các em có thể vui chơi đồng thời phải vận dụng kiến thức của các môn học vào trong đó. Như vậy sẽ góp phần kích thích nhu cầu tìm hiểu các vấn đề và sự hứng thú học tập của các em đối với các môn học.
4/ Thường xuyên quan tâm, theo dõi, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em: 
Chúng ta biết rằng, giáo viên chủ nhiệm là nhịp cầu nối giữa phụ huynh học sinh, học sinh và nhà trường. Giáo viên chủ nhiệm có nhiệm vụ rèn luyện uốn nắn đạo đức của các em vừa là nguồn động viên an ủi các em trong mọi lĩnh vực hoạt động và quan trọng nhất là vấn đề động viên tinh thần học tập của các em. 
Ở lứa tuổi Trung Học Cơ Sở ( nhất là ở đầu cấp ) các em rất dễ dàng xúc động trước bất cứ một kích động nào, do đó giáo viên phải luôn quan tâm, gần gũi, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em, làm cho mình trở thành “ người bạn” của các em. Có như vậy thì giáo viên mới đễ dàng hướng dẫn tạo động cơ học tập tốt hơn cho các em.
Ví dụ : 
Em V.C.L là một học sinh rất hiếu động, ham chơi, học hành giảm sút nhiều, em thường hay đi đánh bi da, chơi điện tử, lơ là việc học. Sau nhiều lần trò chuyện, chỉ bảo, phân tích cái đúng cái sai, em đã giảm đi chơi, không còn đánh bi da và chơi điện tử. Em đã cố gắng nhiều hơn trong học tập và kết quả từ một học sinh trung bình em đã trở thành học sinh khá.
Mặc khác giáo viên phải luôn lắng nghe ý kiến của các em đối với các môn học (môn học nào các em dễ dàng tiếp thu, môn học nào các em gặp khó khăn khi học tập) để từ đó có giải pháp tốt trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
5/ Thực hiện phương pháp mỗi học sinh là một người thầy : 
Đối với mỗi lớp học thông thường thì có sự khác biệt về trình độ học sinh : có những học sinh giỏi, có những học sinh khá, trung bình và học sinh yếu, kém. Trong khi đó giáo viên giảng dạy trên lớp thông thường không thể nào kèm cặp từng em một. Đối với một nội dung khó thì những học sinh yếu kém ít tiếp thu lượng kiến thức đầy đủ các em cần phải có thêm thời gian để học tập. Vì vậy, cần phải có một sự giúp đỡ nào đó. Là một giáo viên chủ nhiệm tôi đã hướng dẫn các em biện pháp học hỏi ở bạn bè 
Để học sinh có thể học tập tốt hơn cần thực hiện phương pháp “ mỗi học sinh là một người thầy ”. Học sinh khá, giỏi sẽ kèm học sinh yếu, kém. Cách thức tiến hành có thể là học nhóm, đôi bạn học tập
- Học nhóm : cách học này có nhiều lợi điểm. Học sinh nào lười học khi nhìn thấy các bạn học tập các bạn truy bài nhau, thì em đó không thể không học. Đà học tập của các em học tốt sẽ giúp các em khác hào hứng. Các em sẽ phấn khởi và nảy sinh sự thi đua và ý chí phấn đấu. 
- Học theo đôi bạn : trong lớp học sẽ có những em hợp nhau bắt tay kết làm “ đôi bạn học tập ” giúp nhau xây dựng dàn bài, truy bài, đặt thành những câu hỏi hóc búa rồi tự giải quyết lấy. Có những phần bí cũng gắng tìm giải pháp này, phương pháp kia mà giải cho ra vấn đề. Cũng có thể là tranh cãi để tìm ra phương pháp học tập tốt. Nhờ những lúc căng thẳng, những lúc cãi vã sẽ giúp các em nhớ dai. 
Một cách khác nữa là tìm ra những lớp phó học tập của từng môn học để giúp đỡ các em học tập còn yếu. Các lớp phó phải là những em học khá giỏi các môn khác nhau. Các em này có nhiệm vụ giúp đỡ các em chưa hiểu bài học có thể học tốt hơn. Các em phải thường xuyên kiểm tra đôn đốc việc học hành của các thành viên trong lớp. Thực hiện việc kiểm tra soạn bài, làm bài tập, học bài, chuẩn bị bài của các bạn trong lớp. Thời gian kiểm tra thường là 15’ đầu giờ. Với phương pháp này vừa có thể nâng cao năng lực học tập vừa nâng cao tính tổ chức kỉ luật và cả khả năng quản lí lớp cùa các em. 
6/ Luôn động viên khích lệ các em học sinh bằng các hình thức khen thưởng: 
Đối với học sinh lớp 6 việc đông viên khen thưởng các em là một điều hết sức cần thiết, nó sẽ tạo cho các em một sự khích lệ làm cho các em phấn đấu hơn nữa trong học tập. Để thực hiện được điều này người giáo viên chủ nhiệm phải thống nhất với phụ huynh học sinh, thống nhất với các em học sinh ngay từ đầu năm học. Thống nhất qui định hình thức khen thưởng rõ ràng phù hợp và thực hiện trong suốt năm học của các em, chi phí khen thưởng sẽ được trích ra từ tiền quỹ lớp.
Ví dụ : 
Lớp 6Đ ( năm 2004 – 2005 ) tôi đã định mức khen thưởng: trong một tuần nếu em nào đạt 1 điểm 10 thì sẽ thưởng 2 cuốn vở và một cây bút (số tiền trị giá 5000 đồng ) và mức thưởng sẽ tăng theo cấp số cộng, học sinh đạt 2 điểm 9 mức thưởng tương tự 1 điểm 10. Khi tôi áp dụng cách làm này thì thành tích học tập của các em nâng lên khá rõ.
Việc là trên thực sự là rất cần thiết nhất là trong hoàn cảnh lớp tôi chủ nhiệm hơn 15% là học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Phần thưởng sẽ khích lệ nhiều trong học tập đồng thời cũng động viên giúp đỡ các em có hoàn cảnh khó khăn. 
 Phần 3 
 Kết luận
Phần 3: Kết Luận 
Giáo viên chủ nhiệm là người quản lí giáo dục về các nặt rèn luyện của học sinh. Giáo viên chủ nhiệm phải là người có năng lực phẩm chất đạo đức tốt luôn không ngừng bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phải có lối sống tốt với khẩu hiệu “ Mỗi giáo viên là tấm gương sáng cho học sinh noi theo”. Có tinh thần trách nhiệm cao, làm việc hết tâm huyết của mình, yêu nghề mến trẻ và quan trọng là phải làm sao để học sinh của mình có thể lĩnh hội được tri thức để làm vốn sống và đạt kết quả cao trong học tập.
Giáo viên chủ nhiệm phải luôn tìm hiểu và tiến hành mọi hoạt động để nâng cao chất lượng. Đối với học sinh lớp 6 ( là học sinh đầu cấp trung học cơ sở, lớp cửa ngõ của phương pháp nội dung học mới ) thì giáo viên chủ nhiệm phải tạo cho các em có một động cơ học tập tích cực, để từ đó làm cơ sở, nền tảng cho các năm học sau.
Đối với tình hình thực tế địa phương hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, phương tiện dạy và học còn thiếu thốn nhiều, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục. Vì vậy, vai trò của người giáo viên chủ nhiệm lớp 6 cũng hết sức quan trọng. Giáo viên phải tìm mọi phương pháp hoạt động phù hợp để cho các em an tâm học tập vừa có thể đạt hiệu quả giáo dục.
Qua một thời gian áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ở trường, và những kết quả mà tôi thu được. Tôi thầy rằng, giáo viên chủ nhiệm lớp 6 ngoài những năng lực phẩm chất mà sự nghiệp giáo dục yêu cầu thì cần phải có thêm một số yêu cầu mới phù hợp với sự nghiệp đổi mới giáo dục nhất là phải làm sao để có thể duy trì và nâng cao thành tích học tập, chất lượng học tập của học sinh sau khi chuyển cấp. 
RÚT KINH NGHIỆM
Từ việc nghiên cứu vận dụng sáng kiến kinh nghiệm vào thực tế tôi rút ra được một số kinh nghiệm trong việc nâng cao tính tích cực học tập của học sinh lớp 6 mà giáo viên chủ nhiệm cần làm :
- Phải không ngừng bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ, công tác quản lí, và phải tìm hiểu nắm được được nội dung, phương pháp cơ bản của các môn học.
- Phải tổ chức hướng dẫn cho các em tiếp cận với phương pháp hình thức học tập mới ngay từ đầu năm học lớp 6.
- Tăng cường tổ chức các hoạt động “ Vui Để Học” với nội dung phong phú của nhiều môn học.
- Quan tâm theo dõi tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em học sinh.
- Có hình thức khen thưởng kịp thời để động viên khích lệ các em.
Trên là những kinh nghiệm mà tôi rút ra được. Tuy nhiên để nâng cao chất lượng học tập của học sinh thì đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải không ngừng nghiên cứu tìm tòi vận dụng nhiều phương pháp mới. Sáng kiến kinh nghiệm này cũng chưa thật sự hoàn thiện vẫn còn nhiều thiếu sót mà tôi chưa nhìn ra được. Rất mong nhận được sự góp ý của các đồng nghiệp để đề tài ngày càng tốt hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn ! 
 Phè Lu, ngày12 tháng 11 năm 2008
 	Người Thực Hiện 
 Hµ thÞ Mai Ph­¬ng
PHỤ LỤC
Ba nguyªn t¾c d¹y häc sinh ngoan
Khởi động yêu thương 
Vào lớp là cởi bỏ mọi phiền muộn, trút gánh cau có ngay trước của lớp. Hiện diện với một gương mặt và một tâm hồn thật sự vui tươi. Trong lớp học mà thầy có đôi mắt toả sáng là cả phòng học toả sáng, ngươc lại đôi mắt thầy u ám thì cả phòng chìm trong bóng tối. Xoá bỏ ngay ngăn cách giữa thầy và trò, nối sợi dây tin tưởng chân thành từ lời nói đầu tiên. 
2. Chữ viết phải đẹp 
Ta phải thu hút học trò ta ngay từ nét chữ đầu tiên trên bảng đen. Chọn ngề giáo là ta đã quan niệm rằng bàn tay ta sinh ra là phải cầm phấn và khi đứng trên bục giảng ta luôn nghĩ rằng giờ phút này ta không cầm vật gì khác cao quí hơn. khi gõ mạnh viên phấn trên bảng gỗ, âm thanh vang lên như tiến chuông làm thức tỉnh những học trò của mình, nhắc họ qay trở về với thực tại lớp học.
Chữ viết phải rõ ràng, hài hoà, cân đối, bay bổng. Vẽ nhiều hơn viết. Và nếu có viết thì phải quan niệm mỗi nét chữ là một tác phẩm hội họa 
3. Là nghệ sĩ trên bục giảng 
Đừng bao giờ quan niệm dạy học là một công nghệ, một quá trình đơn thuần vật lí. Nhà giáo phải là những nhà nghệ sĩ của quá trình giảng dạy, chứ không phải là cái máy lên lớp, thiếu khả năng sáng tạo. Cùng một chủ đề bài giảng ngày hôm sau phải hay hơn ngày hôm trước. Ta phải hiện diện trước những học trò ta với các oai nghi ( đi, đứng, viết, ngồi ) một cách vững trãi trang nghiêm và thanh thoát .
Phải để lại ân tượng tốt đẹp về phong thái của một ông thầy để học trò, dù chỉ học ta có một lần, vẫn mãi mãi ghi nhớ suốt đời về hình ảnh của ta. Phải biết hồi sinh lớp học bằng những khôi hài ý vị.
4. Học là hạnh phúc ngay 
Trong giờ học đầu tiên trao cho học trò kiến thức, ta phải chứng minh cho họ thấy rằng học là hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây, chứ không phải gắng học để thi, để tốt nghiệp, kiếm được việc làm mới có hạnh phúc. Vì nếu không hạnh phúc ngay tứ khi ta học thì ra trường ta cũng chẳng bao giờ có hạnh phúc.
Mỗi lời nói mỗi kiến thức ta trao phải là một nguồn suối tươi mát. Mổi buổi học ta phải trao cho học trò một khám phá mới, một bí quyết, và như thế các em sẽ trông chờ đến buổi học sau ở ta một điều mới lạ hơn, và không cần điểm danh lớp cũng luôn đầy đủ. 
5. Bớt tức là thêm
Mỗi học sinh khi đến lớp đã mang theo cả một thế giới tinh thần riêng với những định kiến mà các em cho là đúng. Ta phải đổ sạch ly nước định kiến này trước khi rót vào nước mới. Cần hiểu rằng một trong những điều quan trọng nhất của giáo dục không chỉ là cung cấp kiến thức mới mà là xổ bớt những kiến thức cũ, lỗi thời. Phải lành mạnh hoá đầu óc của các em ta mới đạt được bước tiến đầu tiên trong giáo dục.
6. Không biến học trò thành bản sao thứ hai của thầy 
Phải thực hiện phương pháp giảng dạy mà chính các em là người tìm ra kiến thức mới. Thầy cô chỉ là người hướng dẫn. Phải đánh thức nỗ lực khám phá của các em. Có như vậy giáo dục mới đạt hiệu quả mỹ mãn.
7. Trao chuyền chính kiến 
Đây là vấn đề quan trọng nhất. Không có chính kiến, tất cả các quá trình khác xem như vô ích mà lại còn có hại. Khi học sinh có chính kiến họ có thể điều chỉnh tư duy của mình, tự khám phá những điều học được một cách xác thực. Từ đó ta dẫn học sinh đi đến nói đúng, nghĩ đúng, làm đúng (nghề nghiệp . . .).
Phải quan niệm rằng dạy học không phải là chỉ đưa khách qua sông, mà là đi suốt cuộc đời, dạy để học sinh học làm người. 
( Trích từ báo SGGP THỨ BẢY 20-11-1999 ) 
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 	Trang 1
PHẦN MỘT : ĐẶT VẤN ĐỀ 	Trang 2
PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 	Trang 4
I/ THỰC TRẠNG 	Trang 4
II/ NGUYÊN NHÂN 	Trang 5
1/ Sự Biến Đổi Về Tâm Sinh Lí Của Học Sinh 
 Trung Học Cơ Sở	Trang 5
2/ Sự Thay Đổi Về Nội Dung Và 
 Phương Pháp Học Tập 	Trang 5
3/ Sự Thay Đổi Về Đối Tượng Dạy Học 	Trang 6
4/ Sự Thay Đổi Về Thời Gian Học Tập 	Trang 6
III/ GIẢI PHÁP 	Trang 7
1/ Tăng cường trình độ chuyên môn nghiệp vụ, 
 trình độ văn hóa 	Trang 7
2/ Tổ chức hướng dẫn học sinh tiếp cận với phương pháp 
 cách thức học mới ở trung học cơ sơ	Trang 9
3/ Tổ chức nhiều hoạt đông “ Vui Để Học ” 
 với nội dung phong phú 	 Trang 10
4/ Thường xuyên quan tâm, theo dõi, tìm hiểu tâm tư 
 nguyện vọng của các em 	 Trang 10
5/ Thực hiện phương pháp mỗi học sinh là một ngưới thầy Trang 11
6/ Luôn động viên khích lệ các em học sinh 
 bằng các hình thức khen thưởng 	 Trang 12
PHẦN BA: KẾT LUẬN 	 Trang 13
RÚT KINH NGHIỆM 	 Trang 14
NHẬN XÉT CỦA TỔ
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG :

File đính kèm:

  • docSKKN_D_D.doc
Sáng Kiến Liên Quan